Dấu hiệu ở đoạn trước
Giãn mạch thượng củng mạc: Có thể gặp ở type I.
Máu trong ống Schlemm: Dấu hiệu đặc trưng của type I.
Viêm tiền phòng: Thường nhẹ hoặc không có1).
Hội chứng tràn dịch màng bồ đào (Uveal Effusion Syndrome; UES) là một hội chứng hiếm gặp đặc trưng bởi bong dịch rỉ tự phát của hắc mạc, thể mi và võng mạc. Lần đầu tiên được báo cáo vào năm 1963 bởi Schepens và Brockhurst1). Còn được gọi là tràn dịch hắc mạc-thể mi tự phát.
Thường xảy ra ở nam giới trung niên khỏe mạnh. Trong báo cáo đầu tiên về 17 ca, hầu hết bệnh nhân đều là nam giới1). Một khảo sát dịch tễ học tiến cứu tại Anh (BOSU; 2009–2011) ước tính tỷ lệ mới mắc hàng năm khoảng 1,2 trên 10 triệu người1). Tần suất mắc cả hai mắt cao, trên 65%1).
Bệnh nhân đến khám với các triệu chứng chính là khiếm khuyết thị trường, giảm thị lực và dị cảm thị giác1). Ở giai đoạn đầu, khó phân biệt với các bệnh khác; một báo cáo cho thấy chỉ 16% được chẩn đoán chính xác là UES ở lần khám đầu tiên1).
UES được phân loại thành 3 loại sau.
| Loại | Đặc điểm của mắt | Củng mạc |
|---|---|---|
| Loại I | Mắt nhỏ (chiều dài trục khoảng 16 mm) | Dày và bất thường |
| Loại II | Mắt bình thường (chiều dài trục khoảng 21 mm) | Dày/bất thường |
| Loại III | Mắt bình thường | Bình thường |
Loại I liên quan đến mắt nhỏ thực sự (nanophthalmos), biểu hiện viễn thị nặng (trung bình +16 đi-ốp). Loại II có kích thước mắt bình thường nhưng có dày củng mạc. Loại III là vô căn, mắt và củng mạc bình thường.
Trong một cuộc khảo sát tiến cứu toàn quốc tại Vương quốc Anh, tỷ lệ mắc hàng năm được báo cáo là khoảng 1,2 trên 10 triệu người 1). Tỷ lệ hiện mắc chính xác chưa được biết, nhưng nó thuộc loại rất hiếm trong số các bệnh viêm màng bồ đào và bệnh võng mạc.
Thường khởi phát ở độ tuổi 30-40. Ở giai đoạn đầu, các triệu chứng sau đây được ghi nhận.
Đặc điểm là không có dấu hiệu viêm hoặc tế bào sắc tố lơ lửng ở tiền phòng và dịch kính, hữu ích để phân biệt với các bệnh viêm khác.
Dấu hiệu ở đoạn trước
Giãn mạch thượng củng mạc: Có thể gặp ở type I.
Máu trong ống Schlemm: Dấu hiệu đặc trưng của type I.
Viêm tiền phòng: Thường nhẹ hoặc không có1).
Dấu hiệu ở đáy mắt
Bong hắc mạc và thể mi: Bắt đầu từ vùng ngoại vi và lan rộng theo vòng tròn. Được quan sát như một khối lồi đặc màu cam nâu1).
Bong mạc xuất tiết: Bong võng mạc không do rách kèm dịch dưới võng mạc di động nhiều. Dịch di chuyển khi thay đổi tư thế.
Đốm da báo: Thay đổi sắc tố dạng da báo do phì đại và tăng sinh biểu mô sắc tố võng mạc. Đặc trưng ở các trường hợp mạn tính và gây giảm thị lực vĩnh viễn1).
Phù gai thị: Có thể kèm sưng nhẹ gai thị.
Trên chụp mạch huỳnh quang, thấy tăng huỳnh quang dạng hạt lan rộng và hình ảnh đốm da báo, nhưng không có rò rỉ huỳnh quang rõ ràng. Trên chụp mạch xanh indocyanine, rò rỉ huỳnh quang từ mạch màng mạch rõ rệt từ giai đoạn sớm, gợi ý tăng tính thấm mạch.
Căn nguyên của UES chưa được hiểu đầy đủ, nhưng người ta cho rằng bất thường nguyên phát của củng mạc đóng vai trò trung tâm.
Phẫu thuật đục thủy tinh thể hoặc glôcôm có thể kích hoạt UES ở mắt nhãn cầu nhỏ. Trong số 114 mắt nhãn cầu nhỏ được phẫu thuật đục thủy tinh thể, 29 mắt có biến chứng, một nửa trong số đó là tràn dịch màng bồ đào 1).
Ngoài ra, cũng có báo cáo về sự phát triển của UES sau khi tiêm vắc-xin COVID-19 2). Agarwal và cộng sự đã báo cáo một nam giới 71 tuổi bị UES loại III một mắt hai tuần sau khi tiêm vắc-xin virus bất hoạt toàn phần (Covaxin BBV152) 2). Người ta suy đoán rằng tá chất (Alhydroxiquim-II) gây ra phản ứng miễn dịch bất thường 2).
UES là chẩn đoán loại trừ, cần loại trừ cẩn thận các nguyên nhân khác gây tràn dịch hắc mạc 1). Các bệnh cần phân biệt như sau:
Dưới đây là các dấu hiệu đặc trưng của từng phương pháp chẩn đoán hình ảnh.
| Phương pháp xét nghiệm | Dấu hiệu chính |
|---|---|
| Siêu âm B-scan | Dày và bong hắc mạc, dấu hiệu T âm tính |
| UBM | Đo tích tụ dịch trong khoang trên thể mi và độ dày củng mạc |
| OCT | Phù hắc mạc, dịch dưới võng mạc, thay đổi biểu mô sắc tố võng mạc |
Kết hợp chụp ảnh đa phương thức giúp cải thiện độ chính xác chẩn đoán UES loại III, đặc biệt 3)5).
Loại III là chẩn đoán loại trừ vì chiều dài trục và độ dày củng mạc bình thường. Chụp ảnh đa phương thức (OCT, ICG, siêu âm, FA) được sử dụng để xác nhận dày màng mạch, sung huyết màng mạch và bong màng mạch ngoại vi, đồng thời loại trừ các nguyên nhân khác như VKH, viêm củng mạc sau và khối u 3).
Điều trị UES được lựa chọn dựa trên phân loại loại. Ở loại I và II, phẫu thuật là phương pháp chính, trong khi ở loại III, điều trị bằng thuốc là lựa chọn đầu tiên.
Đối với loại I và II, phẫu thuật mở củng mạc được thực hiện để cải thiện tắc nghẽn dòng chảy củng mạc.
Được xem xét khi không cải thiện sau nhiều lần mở cửa sổ củng mạc. Tiến hành bong dịch kính sau nhân tạo, dẫn lưu dịch dưới võng mạc và chèn ép khí. Tuy nhiên, ở mắt nhỏ, ora serrata nằm ở phía trước, do đó vết rạch xuyên củng mạc được đặt gần rìa hơn, khoảng 1–1,5 mm. Việc tạo bong dịch kính sau và dẫn lưu dịch dưới võng mạc nhầy rất khó khăn và đòi hỏi kỹ năng phẫu thuật.
Shields và cộng sự trong một nghiên cứu trên 104 mắt UES báo cáo rằng 95% UES loại III thoái lui với liệu pháp steroid (uống, dưới bao Tenon, nhỏ mắt hoặc kết hợp) 1). Chỉ 5% cần phẫu thuật.
Agarwal và cộng sự (2023) báo cáo một nam giới 71 tuổi bị UES loại III sau tiêm vắc-xin COVID-19, được điều trị bằng prednisolone uống 60 mg/ngày (1 mg/kg) và mycophenolate mofetil 1 g hai lần/ngày, và đạt được thoái lui hoàn toàn sau 1 năm 2). Không tái phát ở thời điểm 18 tháng.
Kumarasamy và cộng sự (2026) báo cáo một nam giới 47 tuổi bị CSC ở một mắt và UES loại III ở mắt kia, được điều trị bằng prednisolone uống 60 mg giảm dần, và tổn thương ở cả hai mắt thoái lui hoàn toàn 5). Không tái phát ở mắt UES trong 2 năm theo dõi.
Các liệu pháp thuốc khác được báo cáo bao gồm 1).
Trong UES type III, steroid cải thiện 95% trường hợp 1). Tuy nhiên, ở type I và II, bất thường củng mạc là nguyên nhân gốc, nên chỉ dùng thuốc thường không đủ, và phẫu thuật mở cửa sổ củng mạc là điều trị tiêu chuẩn. Việc lựa chọn điều trị dựa trên phân loại type là rất quan trọng.
Sinh lý bệnh của UES liên quan đến nhiều yếu tố tập trung vào bất thường củng mạc.
Thủy dịch đi từ tiền phòng qua cơ thể mi vào đường thoát màng bồ đào-củng mạc, sau đó thoát ra ngoài nhãn cầu qua khoang trên hắc mạc, mạch máu hắc mạc và tĩnh mạch xoáy 1). Sự tắc nghẽn đường thoát này gây ra UES.
Về mặt mô học, củng mạc ở UES type I và II cho thấy sự sắp xếp bất thường của các bó sợi collagen và lắng đọng proteoglycan 1). Các lắng đọng giống GAG này làm giảm tính thấm của củng mạc, khiến protein và nước trong mắt khó thoát ra ngoài qua đường xuyên củng mạc.
Khi protein tích tụ trong khoang trên hắc mạc, áp suất thẩm thấu keo của mô tăng lên 1). Điều này gây ứ dịch trong khoang trên hắc mạc và hình thành bong hắc mạc. Sự rỉ dịch mạn tính gây mất bù biểu mô sắc tố võng mạc (RPE), làm suy giảm vận chuyển nước qua các kênh ion, dẫn đến bong võng mạc xuất tiết.
Nồng độ protein cao và hiện tượng thực bào của RPE kích thích RPE di cư và tăng sinh vào khoang dưới võng mạc, tạo thành hình đốm da báo 1).
Có giả thuyết cho rằng củng mạc dày lên chèn ép các tĩnh mạch xoáy, cản trở dẫn lưu tĩnh mạch từ hắc mạc. Mắt người thường có 3–8 tĩnh mạch xoáy, nhưng trong các trường hợp UES, chỉ có 2–4 tĩnh mạch được báo cáo 1). Brockhurst đã báo cáo cải thiện ở 10 mắt nhãn cầu nhỏ có UES sau phẫu thuật giải áp tĩnh mạch xoáy 1).
Trong những năm gần đây, khả năng UES (đặc biệt type III) và CSC có liên quan thông qua phổ pachychoroid (nhóm bệnh dựa trên nền dày hắc mạc) đã được chú ý. Spaide và cộng sự đã đề xuất quá tải tĩnh mạch hắc mạc (venous overload choroidopathy) là cơ sở bệnh sinh chung 5). CSC và UES có chung trục nhãn cầu ngắn, củng mạc dày, rối loạn tuần hoàn hắc mạc và tích tụ dịch trong khoang trên hắc mạc 7). Tuy nhiên, bong biểu mô sắc tố (PED), rò rỉ RPE khu trú, đường hấp dẫn và fibrin hiếm gặp trong UES và được coi là dấu hiệu đặc hiệu của CSC 7).
Kumarasamy và cộng sự (2026) đã báo cáo một trường hợp CSC mạn tính ở một mắt và UES type III ở mắt đối diện, cho thấy cả hai bệnh đều nằm trong phổ bệnh lý hắc mạc do quá tải tĩnh mạch 5).
Các nỗ lực áp dụng shunt Ex-PRESS được sử dụng trong phẫu thuật glôcôm để điều trị UES đã được báo cáo.
Yepez và cộng sự báo cáo rằng trên 3 mắt UES loại II, đặt shunt Ex-PRESS qua đường rạch kết mạc và rạch củng mạc chéo, tràn dịch hắc mạc thoái lui trong vòng 48 giờ1). Không ghi nhận tái phát trong thời gian theo dõi 1-2 năm.
Mặc dù tính xâm lấn thấp là một lợi thế, nhưng dữ liệu về kết quả lâu dài và khả năng thích ứng với các loại khác vẫn còn hạn chế.
Kể từ đại dịch COVID-19, một số trường hợp UES sau tiêm chủng đã được báo cáo 2). Chất bổ trợ trong vắc-xin được cho là có thể kích hoạt hội chứng Shoenfeld (hội chứng tự miễn/viêm), dẫn đến tràn dịch màng bồ đào 2). Mối quan hệ nhân quả chưa được xác định, và hiện tại chỉ dừng lại ở các báo cáo ca bệnh cho thấy mối liên quan về thời gian giữa tiêm chủng và UES.
Các nghiên cứu đang tiến triển nhằm hiểu thống nhất UES và CSC thông qua cơ chế bệnh lý chung là quá tải tĩnh mạch màng mạch 5)7). Nếu khái niệm này được thiết lập, nó có thể dẫn đến việc xác định các mục tiêu điều trị chung cho cả hai bệnh.