Tạo hình mắt
Bệnh của mí mắt, lệ đạo, hốc mắt và mô quanh mắt.
21 bài viết
Bệnh của mí mắt, lệ đạo, hốc mắt và mô quanh mắt.
21 bài viết
Bệnh gây chảy nước mắt do hẹp hoặc tắc lỗ lệ, nơi thoát nước mắt. Được phân loại thành thiếu hụt lỗ lệ bẩm sinh và mắc phải (viêm, do thuốc, do tuổi tác, chấn thương). Hội chứng Stevens-Johnson, pemphigoid mắt, thuốc ung thư S-1 và thuốc nhỏ mắt glaucoma là các nguyên nhân mắc phải chính. Điều trị đầu tay là nong hoặc rạch lỗ lệ; trong trường hợp tắc lại, đặt ống silicon được thực hiện.
Giải thích toàn diện về Hội chứng mi mắt mềm (FES) bao gồm định nghĩa, dịch tễ học, sinh lý bệnh, chẩn đoán và điều trị. Đề cập đến mối liên quan với ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn, đánh giá lâm sàng tình trạng lỏng lẻo của sụn mi, và các liệu pháp từ bảo tồn đến phẫu thuật.
Giải thích về nguyên nhân, phân loại, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị lật mi (tình trạng mí mắt bị lật ra ngoài). Được phân loại thành bốn loại: do lão hóa, do liệt, do sẹo và do cơ học. Tập trung vào các phương pháp điều trị phẫu thuật như kỹ thuật dải sụn mi ngoài (lateral tarsal strip) và thủ thuật Kuhnt-Szymanowski.
Giải thích toàn diện về lật mi trong (bẩm sinh, do tuổi tác, do sẹo, do co thắt, do cơ học) bao gồm định nghĩa, phân loại, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị phẫu thuật. Chi tiết các điểm chính trong lựa chọn kỹ thuật phẫu thuật như phương pháp Hotz, biến thể Jones và phương pháp dải sụn mi bên.
Viêm mủ cấp tính của tuyến bã (tuyến Zeis), tuyến mồ hôi (tuyến Moll) hoặc tuyến Meibom ở mi mắt. Được chia thành lẹo ngoài và lẹo trong, với tác nhân gây bệnh chính là tụ cầu vàng. Điều trị chủ yếu bằng thuốc nhỏ mắt kháng sinh; trường hợp hình thành áp xe thì tiến hành rạch và dẫn lưu.
Lông xiêu (trichiasis) là tình trạng lông mi mọc về phía nhãn cầu một cách bất thường, trong khi lông quặm (epiblepharon) là một bệnh lý bẩm sinh do da thừa khiến lông mi chạm vào giác mạc. Các phương pháp điều trị như nhổ lông mi, điện phân, cắt bỏ chân lông, hoặc phẫu thuật Hotz cải biên được lựa chọn tùy theo mức độ nghiêm trọng và nguyên nhân.
Phẫu thuật nắn chỉnh gãy xương ổ mắt là thủ thuật để giải phóng mô bị kẹt và tái tạo thành xương trong gãy xương sàn và thành trong ổ mắt do chấn thương mắt cùn. Gãy xương kín (kiểu bẫy) thường gặp ở trẻ em và kèm theo kẹt cơ ngoại nhãn, cần phẫu thuật cấp cứu. Việc lựa chọn vật liệu tái tạo như lưới titan, tấm tiêu hủy và xương tự thân rất quan trọng.
Phẫu thuật nối túi lệ - mũi (DCR) là phẫu thuật triệt để điều trị chảy nước mắt và viêm túi lệ do tắc ống lệ mũi. Một cửa sổ xương được tạo ra giữa túi lệ và khoang mũi để hình thành đường dẫn lưu nước mắt mới. Trong phương pháp ngoài, cửa sổ xương khoảng 1×1 cm được tạo, tỷ lệ tái tắc dưới 10%, cho thấy tỷ lệ thành công cao. Các bước thực hiện dưới gây mê toàn thân, điều trị nội mũi trước phẫu thuật, khâu vạt niêm mạc và đặt stent được giải thích.
Bệnh viêm không đặc hiệu không rõ nguyên nhân xảy ra ở hốc mắt, trước đây gọi là "u giả viêm hốc mắt". Được định nghĩa bởi ba điều kiện: không đặc hiệu về mặt bệnh lý, không đáp ứng với kháng sinh, và đáp ứng tốt với steroid. Điều trị đầu tay là prednisolon đường uống, giảm dần trong 3-6 tháng. Trường hợp kháng trị có thể thử xạ trị hoặc methotrexate.
Nhiễm trùng mô mềm trong hốc mắt phía sau vách hốc mắt. Nguyên nhân phổ biến nhất là lan từ xoang cạnh mũi, thường gặp ở trẻ em. Biểu hiện lồi mắt, rối loạn vận động nhãn cầu và giảm thị lực, cần điều trị kháng sinh nhanh chóng và dẫn lưu phẫu thuật nếu cần.
Tình trạng viêm nhiễm cấp tính ở các mô mềm mi mắt và quanh hốc mắt phía trước vách hốc mắt. Khác với viêm mô tế bào hốc mắt, không kèm lồi mắt hay rối loạn vận động mắt. Nguyên nhân chính là viêm xoang, chấn thương và côn trùng cắn, thường gặp ở trẻ em. Trường hợp nhẹ có thể điều trị ngoại trú bằng kháng sinh đường uống, nhưng cần chú ý nguy cơ tiến triển thành viêm mô tế bào hốc mắt.
Nhiễm trùng mạn tính của ống lệ, với tác nhân gây bệnh phổ biến nhất là Actinomyces israelii. Hình thành sỏi vi khuẩn (hạt lưu huỳnh) trong ống lệ, biểu hiện như viêm kết mạc một bên khó điều trị. Điều trị đầu tay là rạch ống lệ và nạo khối vi khuẩn dưới gây tê tại chỗ, sau đó kết hợp nhỏ mắt nhóm newquinolone và kháng sinh toàn thân nhóm penicillin.
Bệnh viêm tuyến lệ được chia thành cấp tính (do virus/vi khuẩn) và mạn tính (liên quan đến bệnh toàn thân hoặc liên quan đến IgG4). Ở thể cấp tính, có đỏ, sưng và đau khi ấn ở phần ngoài của mi trên. Ở thể mạn tính, có sự to tuyến lệ hai bên không đau. Viêm tuyến lệ liên quan đến IgG4 đáp ứng tốt với liệu pháp steroid.