Tạo hình mắt

Tạo hình mắt

Bệnh của mí mắt, lệ đạo, hốc mắt và mô quanh mắt.

43 bài viết

Bệnh thường được tham khảo

A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y Khác

B

4 bài viết
Bệnh mắt do tuyến giáp (Tổn thương hốc mắt trong bệnh Basedow)

Bệnh tự miễn của mô hốc mắt do tự kháng thể liên quan đến tuyến giáp. Bốn triệu chứng chính là co rút mi, lồi mắt, song thị và bệnh thần kinh thị giác do chèn ép. Cơ ngoại nhãn thường bị ảnh hưởng nhất là cơ thẳng dưới. Hoạt động bệnh được đánh giá bằng Thang điểm Hoạt động Lâm sàng (CAS), và trong giai đoạn hoạt động, liệu pháp steroid xung hoặc teprotumumab (thuốc ức chế IGF-1R) có hiệu quả. Phẫu thuật được lên kế hoạch theo thứ tự: giải áp hốc mắt, phẫu thuật lác, phẫu thuật mi trong giai đoạn không viêm.

Bệnh mắt liên quan đến IgG4 (như bệnh Mikulicz)

Bệnh toàn thân với tổn thương viêm xơ giàu tương bào dương tính với IgG4 ở hốc mắt. Sưng tuyến lệ không đau là phổ biến nhất (86%), và điều trị chính là ức chế miễn dịch bằng corticosteroid giảm dần hoặc rituximab. Cảnh báo về bệnh thần kinh thị giác đã được thêm vào tiêu chuẩn chẩn đoán sửa đổi năm 2023.

Bệnh Mucormycosis Ổ Mắt

Nhiễm nấm gây tử vong do nấm Mucorales, tiến triển nhanh từ xoang mũi vào ổ mắt và não. Thường gặp ở bệnh nhân tiểu đường và suy giảm miễn dịch, tỷ lệ tử vong lên tới 79% nếu không điều trị. Điều trị cơ bản là kết hợp thuốc kháng nấm amphotericin B liposomal và phẫu thuật cắt lọc.

Biến chứng của tiêm axit hyaluronic và mỡ ở mí mắt

Chất làm đầy axit hyaluronic và tiêm mỡ tự thân quanh ổ mắt có nguy cơ gây mất thị lực không hồi phục do tắc mạch máu. Vùng gian mày và gốc mũi là những vị trí nguy hiểm nhất vì các nối thông giữa động mạch trên ròng rọc và động mạch mắt rất dày đặc. Với axit hyaluronic, có thể xử trí bằng tiêm hyaluronidase khẩn cấp, nhưng không có điều trị đặc hiệu cho mỡ tự thân.

C

5 bài viết
Các vấn đề ở mí mắt sau phẫu thuật thẩm mỹ

Các biến chứng sau phẫu thuật thẩm mỹ mí mắt (phẫu thuật tạo mí đôi, lấy mỡ mí mắt, v.v.) được chia thành sớm (nhiễm trùng, tụ máu, chỉnh quá mức) và muộn (sụp mi, không khép kín mí mắt hoàn toàn, mắt trũng). Không khép kín mí mắt hoàn toàn có nguy cơ viêm giác mạc do lộ, nên chăm sóc nhãn khoa là rất quan trọng. Phẫu thuật chỉnh sửa có thể gồm cố định lại cơ nâng mi, ghép da và tiêm mỡ.

Chắp

Giải thích toàn diện về định nghĩa, triệu chứng, phân loại, chẩn đoán (phân biệt với ung thư biểu mô tuyến bã), điều trị (chườm ấm, tiêm steroid, phẫu thuật cắt bỏ qua kết mạc/qua da), sinh lý bệnh và tiên lượng của chắp (viêm u hạt mạn tính không nhiễm trùng của tuyến Meibom).

Chế tạo và chăm sóc mắt giả

Mắt giả là mắt nhân tạo được đeo vì mục đích thẩm mỹ và chức năng sau khi cắt bỏ nhãn cầu hoặc lấy bỏ nội dung nhãn cầu. Hiện nay, mắt giả acrylic (PMMA) làm theo đo riêng là loại chủ yếu, và được chế tác, điều chỉnh nhờ sự phối hợp giữa kỹ thuật viên làm mắt giả và bác sĩ nhãn khoa. Chăm sóc hằng ngày, quản lý hốc mắt và điều chỉnh phù hợp với sự phát triển của trẻ là rất quan trọng.

Chứng nhão da mi mắt

Bài viết giải thích về định nghĩa, triệu chứng, chẩn đoán (đánh giá dựa trên MRD-1), chẩn đoán phân biệt (phân biệt với sụp mi), điều trị (cắt da bờ mi, cắt da dưới lông mày), sinh lý bệnh và tiên lượng của chứng nhão da mi mắt (dermatochalasis).

Co rút mi mắt (như bệnh mắt tuyến giáp)

Bài viết này giải thích định nghĩa và nguyên nhân của co rút mi mắt, mối liên quan với bệnh mắt tuyến giáp, chẩn đoán, đánh giá MRD và điều trị phẫu thuật, bao gồm cắt cơ Müller và lùi cơ nâng mi.

Đ

1 bài viết

G

1 bài viết

H

2 bài viết

L

4 bài viết
Lật mi (Ectropion)

Giải thích về nguyên nhân, phân loại, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị lật mi (tình trạng mí mắt bị lật ra ngoài). Được phân loại thành bốn loại: do lão hóa, do liệt, do sẹo và do cơ học. Tập trung vào các phương pháp điều trị phẫu thuật như kỹ thuật dải sụn mi ngoài (lateral tarsal strip) và thủ thuật Kuhnt-Szymanowski.

Lật mi trong

Giải thích toàn diện về lật mi trong (bẩm sinh, do tuổi tác, do sẹo, do co thắt, do cơ học) bao gồm định nghĩa, phân loại, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị phẫu thuật. Chi tiết các điểm chính trong lựa chọn kỹ thuật phẫu thuật như phương pháp Hotz, biến thể Jones và phương pháp dải sụn mi bên.

Lẹo mắt (chắp)

Viêm mủ cấp tính của tuyến bã (tuyến Zeis), tuyến mồ hôi (tuyến Moll) hoặc tuyến Meibom ở mi mắt. Được chia thành lẹo ngoài và lẹo trong, với tác nhân gây bệnh chính là tụ cầu vàng. Điều trị chủ yếu bằng thuốc nhỏ mắt kháng sinh; trường hợp hình thành áp xe thì tiến hành rạch và dẫn lưu.

Lông quặm và Lông xiêu (Lông mi mọc ngược)

Lông xiêu (trichiasis) là tình trạng lông mi mọc về phía nhãn cầu một cách bất thường, trong khi lông quặm (epiblepharon) là một bệnh lý bẩm sinh do da thừa khiến lông mi chạm vào giác mạc. Các phương pháp điều trị như nhổ lông mi, điện phân, cắt bỏ chân lông, hoặc phẫu thuật Hotz cải biên được lựa chọn tùy theo mức độ nghiêm trọng và nguyên nhân.

M

1 bài viết

N

1 bài viết

P

6 bài viết
Phẫu thuật giảm áp hốc mắt (Phẫu thuật cho bệnh mắt do tuyến giáp)

Phẫu thuật giảm áp hốc mắt là một thủ thuật phẫu thuật nhằm loại bỏ thành hốc mắt và mở rộng thể tích hốc mắt để điều trị lồi mắt và bệnh thần kinh thị giác do chèn ép liên quan đến bệnh mắt do tuyến giáp. Các kỹ thuật bao gồm từ giảm áp một thành đến ba thành kèm giảm áp mỡ, và mức độ giảm lồi mắt tăng lên khi số lượng thành được phẫu thuật tăng. Trong giai đoạn viêm, liệu pháp xung steroid được thực hiện trước, và phẫu thuật giảm áp được chỉ định trong các trường hợp kháng thuốc hoặc cấp cứu.

Phẫu thuật kéo cơ nâng mi ra trước và ghép cân (phẫu thuật sụp mi)

Phẫu thuật sụp mi được lựa chọn dựa trên chức năng cơ nâng mi. Khi chức năng cơ nâng mi từ 10 mm trở lên, phẫu thuật kéo cơ nâng mi ra trước (kéo cân cơ) là tiêu chuẩn; khi dưới 4 mm, phẫu thuật treo cơ trán là tiêu chuẩn. Đo MRD-1 trước mổ, kiểm tra chức năng cơ nâng mi và xác nhận định luật Hering là rất quan trọng; cần chú ý các biến chứng như tụ máu, chỉnh quá mức và chỉnh thiếu.

Phẫu thuật nắn chỉnh gãy xương ổ mắt

Phẫu thuật nắn chỉnh gãy xương ổ mắt là thủ thuật để giải phóng mô bị kẹt và tái tạo thành xương trong gãy xương sàn và thành trong ổ mắt do chấn thương mắt cùn. Gãy xương kín (kiểu bẫy) thường gặp ở trẻ em và kèm theo kẹt cơ ngoại nhãn, cần phẫu thuật cấp cứu. Việc lựa chọn vật liệu tái tạo như lưới titan, tấm tiêu hủy và xương tự thân rất quan trọng.

Phẫu thuật nội nhãn và cắt bỏ nhãn cầu

Cắt bỏ nhãn cầu là phẫu thuật loại bỏ toàn bộ nhãn cầu và cắt dây thần kinh thị giác, trong khi phẫu thuật nội nhãn là thủ thuật bảo tồn củng mạc và cơ ngoại nhãn, chỉ loại bỏ nội dung nhãn cầu. Chỉ định chính là u ác tính nội nhãn, chấn thương mắt không có hy vọng phục hồi thị lực và mắt mù đau đớn. Sau phẫu thuật, hình dạng và chức năng được duy trì bằng cách đặt mô cấy hốc mắt và đeo mắt giả.

Phẫu thuật nối túi lệ - mũi (DCR)

Phẫu thuật nối túi lệ - mũi (DCR) là phẫu thuật triệt để điều trị chảy nước mắt và viêm túi lệ do tắc ống lệ mũi. Một cửa sổ xương được tạo ra giữa túi lệ và khoang mũi để hình thành đường dẫn lưu nước mắt mới. Trong phương pháp ngoài, cửa sổ xương khoảng 1×1 cm được tạo, tỷ lệ tái tắc dưới 10%, cho thấy tỷ lệ thành công cao. Các bước thực hiện dưới gây mê toàn thân, điều trị nội mũi trước phẫu thuật, khâu vạt niêm mạc và đặt stent được giải thích.

Phẫu thuật quặm mi (phương pháp khâu / phương pháp rạch)

Quặm mi là tình trạng bờ mi hướng vào nhãn cầu khiến lông mi chạm vào giác mạc. Các thể điển hình gồm bẩm sinh (quặm mi do lông mi) và do tuổi tác (thoái hóa). Với thể bẩm sinh, có thể chọn phương pháp khâu hoặc phương pháp Hotz; với thể do tuổi tác, chọn các phẫu thuật rút ngắn mô nâng đỡ như biến thể Jones hoặc phương pháp lateral tarsal strip. Kết thúc với mức chỉnh quá nhẹ là chìa khóa để giảm tái phát.

S

3 bài viết

T

4 bài viết
Tắc ống lệ mũi (Nasolacrimal Duct Obstruction)

Giải thích nguyên nhân, phân loại, chẩn đoán và điều trị tắc ống lệ mũi (chảy nước mắt ở người lớn). Bao gồm nội soi đường lệ, DCR (phẫu thuật nối túi lệ-mũi), đặt ống thông lệ, và quản lý tắc đường lệ do thuốc.

Tắc ống lệ nhỏ

Bệnh gây chảy nước mắt do tắc ống lệ nhỏ hoặc ống lệ chung. Nguyên nhân bao gồm sẹo viêm, do thuốc (S-1), chấn thương, sau nhiễm trùng. Đặt ống nội soi đường lệ là lựa chọn đầu tiên; nếu không thể thông, chỉ định CDCR hoặc phẫu thuật chuyển vị túi lệ.

Teo hõm ổ mắt vô nhãn (hõm mắt sau khi bỏ nhãn cầu)

Teo hõm ổ mắt vô nhãn là tình trạng ổ mắt bị teo và lõm xuống sau khi bỏ nhãn cầu, khiến việc giữ mắt giả khó khăn và gây vấn đề về thẩm mỹ. Tình trạng này được chia thành thể co rút túi kết mạc, thể lõm ổ mắt và thể hỗn hợp, và được điều trị bằng mở rộng túi kết mạc, ghép da-mỡ, ghép xương hoặc nâng đỡ bằng vật liệu nhân tạo.

Tiêm Botox (điều trị co quắp mi)

Điều trị hàng đầu cho co quắp mi là tiêm độc tố botulinum type A (tiêm Botox). Tỷ lệ hiệu quả là 90%, tác dụng xuất hiện sau 2 đến 3 ngày và kéo dài 3 đến 4 tháng. Cơ vòng mắt và cơ cau mày là các vị trí đích, với 2,5 đơn vị được tiêm phân tán tại mỗi vị trí. Chỉ định gồm co quắp mi vô căn, hội chứng Meige và co giật nửa mặt.

U

4 bài viết
U lạc chỗ hốc mắt (nang bì hốc mắt)

Nang bì hốc mắt (nang bì) là một u lạc chỗ bẩm sinh hình thành dọc theo đường khớp xương do ngoại bì phôi thai bị kẹt lại. Bệnh chiếm 46% các khối u hốc mắt ở trẻ em và thường gặp ở phía ngoài lông mày. Chẩn đoán hình ảnh bằng CT/MRI và cắt bỏ hoàn toàn, không làm vỡ thành nang, là chìa khóa điều trị.

U lympho hốc mắt

Giải thích về bệnh lý, chẩn đoán và điều trị u lympho phát sinh ở hốc mắt. Bao gồm các đặc điểm và chiến lược điều trị theo loại mô học, từ u lympho MALT phổ biến nhất đến DLBCL độ ác tính cao.

U mạch bạch huyết hốc mắt

Dị dạng mạch máu ở hốc mắt (dị dạng bạch huyết) thường gặp ở trẻ em. Có thể khởi phát đột ngột với mắt lồi và đau mắt do xuất huyết trong khối (nang sô-cô-la). Trên MRI, khối nhiều thùy với mức dịch-dịch là dấu hiệu chẩn đoán. Theo dõi bảo tồn là chính, nhưng trong trường hợp nặng có thể cân nhắc phẫu thuật giảm khối và liệu pháp xơ hóa. Tỷ lệ chảy máu lại khoảng 70%, nên cần theo dõi lâu dài.

U máu thể hang ổ mắt

Giải thích về định nghĩa, chẩn đoán hình ảnh và điều trị phẫu thuật u máu thể hang, một khối u lành tính ổ mắt phổ biến ở người lớn. Đây là khối u mạch máu có vỏ bọc thường xuất hiện trong nón cơ, với đặc điểm ngấm thuốc chậm trên MRI động. Phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ khối u cùng vỏ bọc qua đường mổ bên ổ mắt là phương pháp tiêu chuẩn, tiên lượng sau cắt bỏ hoàn toàn tốt.

V

7 bài viết
Viêm hốc mắt vô căn (U giả hốc mắt)

Bệnh viêm không đặc hiệu không rõ nguyên nhân xảy ra ở hốc mắt, trước đây gọi là "u giả viêm hốc mắt". Được định nghĩa bởi ba điều kiện: không đặc hiệu về mặt bệnh lý, không đáp ứng với kháng sinh, và đáp ứng tốt với steroid. Điều trị đầu tay là prednisolon đường uống, giảm dần trong 3-6 tháng. Trường hợp kháng trị có thể thử xạ trị hoặc methotrexate.

Viêm mô tế bào hốc mắt (Orbital Cellulitis)

Nhiễm trùng mô mềm trong hốc mắt phía sau vách hốc mắt. Nguyên nhân phổ biến nhất là lan từ xoang cạnh mũi, thường gặp ở trẻ em. Biểu hiện lồi mắt, rối loạn vận động nhãn cầu và giảm thị lực, cần điều trị kháng sinh nhanh chóng và dẫn lưu phẫu thuật nếu cần.

Viêm mô tế bào trước vách hốc mắt (Preseptal Cellulitis)

Tình trạng viêm nhiễm cấp tính ở các mô mềm mi mắt và quanh hốc mắt phía trước vách hốc mắt. Khác với viêm mô tế bào hốc mắt, không kèm lồi mắt hay rối loạn vận động mắt. Nguyên nhân chính là viêm xoang, chấn thương và côn trùng cắn, thường gặp ở trẻ em. Trường hợp nhẹ có thể điều trị ngoại trú bằng kháng sinh đường uống, nhưng cần chú ý nguy cơ tiến triển thành viêm mô tế bào hốc mắt.

Viêm ống lệ

Nhiễm trùng mạn tính của ống lệ, với tác nhân gây bệnh phổ biến nhất là Actinomyces israelii. Hình thành sỏi vi khuẩn (hạt lưu huỳnh) trong ống lệ, biểu hiện như viêm kết mạc một bên khó điều trị. Điều trị đầu tay là rạch ống lệ và nạo khối vi khuẩn dưới gây tê tại chỗ, sau đó kết hợp nhỏ mắt nhóm newquinolone và kháng sinh toàn thân nhóm penicillin.

Viêm túi lệ cấp tính và mãn tính

Giải thích toàn diện về viêm túi lệ cấp tính và mãn tính: định nghĩa, phân loại, dịch tễ học, chẩn đoán, vi khuẩn gây bệnh, điều trị (DCR, thông dò), và sỏi lệ. Cũng đề cập đến quản lý viêm túi lệ ở trẻ sơ sinh và nguy cơ viêm túi lệ mãn tính trước phẫu thuật nội nhãn.

Viêm tuyến lệ (Dacryoadenitis)

Bệnh viêm tuyến lệ được chia thành cấp tính (do virus/vi khuẩn) và mạn tính (liên quan đến bệnh toàn thân hoặc liên quan đến IgG4). Ở thể cấp tính, có đỏ, sưng và đau khi ấn ở phần ngoài của mi trên. Ở thể mạn tính, có sự to tuyến lệ hai bên không đau. Viêm tuyến lệ liên quan đến IgG4 đáp ứng tốt với liệu pháp steroid.

Vô nhãn cầu và thiểu nhãn cầu (điều trị tạo hình)

Vô nhãn cầu và thiểu nhãn cầu là các tình trạng bẩm sinh trong đó nhãn cầu không có hoặc nhỏ. Tỷ lệ gặp là 1 đến 3 trên 10.000 người. Việc bắt đầu dùng bộ nong trong 6 tháng đầu sau sinh rất quan trọng cho sự phát triển hốc mắt, và cần được theo dõi điều trị tạo hình lâu dài, bao gồm lắp mắt giả và phẫu thuật tái tạo hốc mắt.