Mắt thỏ (lagophthalmos) là tình trạng chớp mắt hoặc nhắm mắt không hoàn toàn, khiến nhãn cầu bị lộ. Từ nguyên bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp lagos (thỏ rừng), được đặt tên theo thói quen ngủ mở mắt của thỏ rừng.
Nhãn cầu bị lộ dẫn đến phá vỡ màng nước mắt, gây khô mắt và nhiễm trùng giác mạc. Nếu tiến triển, có thể dẫn đến thủng giác mạc và mù lòa. Cũng xảy ra xung huyết kết mạc và đau mắt 2).
Lagophthalmos được chia thành bốn loại chính:
Loại
Bệnh lý
Bệnh đại diện
Liệt
Giảm co cơ vòng mi
Liệt dây thần kinh mặt (liệt Bell, sau phẫu thuật cắt u dây thần kinh thính giác, bệnh mạch máu não)
Nguyên nhân phổ biến nhất là do liệt, trong đó liệt dây thần kinh mặt (đặc biệt là liệt Bell) chiếm phần lớn. Trong mắt thỏ do liệt, liệt cơ vòng mi gây ra sự nâng cao mi trên kèm chùng da (sụp mi giả), và mi dưới bị sụp và lật ra ngoài, dẫn đến nhắm mắt không kín.
Hình ảnh lâm sàng mắt thỏ: lộ giác mạc khi mở mắt tối đa và viêm giác mạc do lộ (trái) và nhắm mắt không kín khi cố gắng nhắm tối đa (phải)
Richardson P, et al. Severe Microbial Keratitis Secondary to Prostaglandin-Associated Periorbitopathy. Case Rep Ophthalmol Med. 2025;2025:5635118. DOI: 10.1155/criopm/5635118. Figure 1. License: CC BY. PMCID: PMC12527608.
Khi mở mắt tối đa (trái) thấy xung huyết kết mạc hai mắt và loét giác mạc dưới mắt trái; khi cố gắng nhắm tối đa (phải) cho thấy rõ nhắm mắt không kín với lộ giác mạc và kết mạc dưới. Điều này tương ứng với tình trạng nhắm mắt không kín và bệnh lý giác mạc do lộ được đề cập trong phần “Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”.
Trong liệt dây thần kinh mặt, có các dấu hiệu ngoài mắt sau:
Mất nếp nhăn trán và sụp lông mày
Xệ khóe miệng
Lật mi dưới ra ngoài
Về dấu hiệu giác mạc, tổn thương biểu mô giác mạc do nhắm mắt không kín có đặc điểm là tồn tại dạng vùng ở phần dưới, hầu như không có tổn thương biểu mô phía trên một độ cao nhất định. Khi thấy tổn thương biểu mô giác mạc dạng vùng khu trú ở phần dưới, cần nghi ngờ mạnh tình trạng nhắm mắt không kín hoặc mắt thỏ ban đêm.
Hiện tượng Bell (mắt xoay lên trên khi ngủ) thường bảo vệ giác mạc, nhưng khi nhắm mắt không hoàn toàn, phần dưới giác mạc bị lộ, gây tổn thương giác mạc dưới do mắt thỏ ban đêm. Trong mắt thỏ ban đêm, triệu chứng ban ngày ít, và thường xuất hiện triệu chứng mắt vào buổi sáng 2).
Các yếu tố nguy cơ đã biết của liệt Bell bao gồm đái tháo đường, mang thai và suy giảm miễn dịch. Sau liệt dây thần kinh mặt, tần suất mắt thỏ cao, và mức độ liệt càng nặng thì nguy cơ biến chứng giác mạc càng lớn10). Trong một nghiên cứu trên 2.500 trường hợp liệt Bell, 71% hồi phục hoàn toàn trong vòng 6 tháng sau khởi phát1).
Phát hiện tổn thương biểu mô phân đoạn ở phần dưới giác mạc. Cũng được sử dụng để đánh giá diện tích giác mạc lộ ra. Đánh giá khô mắt kèm theo cũng được thực hiện bằng xét nghiệm Schirmer.
Đánh giá Liệt Dây thần kinh Mặt theo Phân loại House-Brackmann
Co rút mi mắt: Trong bệnh mắt do tuyến giáp, hở mi kết hợp với co rút mi. Co rút mi là tình trạng bờ mi trên nằm trên rìa giác mạc
Co thắt mi mắt: Bệnh tăng đóng mi do co thắt không tự chủ của cơ vòng mi, ngược với hở mi
Sụp mi giả trong liệt Bell: Do liệt cơ vòng mi, da chùng xuống trông như sụp mi, nhưng chức năng cơ nâng mi bình thường
QHở mi chỉ xảy ra vào ban đêm có cần điều trị không?
A
Ngay cả hở mi ban đêm đơn thuần cũng có thể gây tổn thương biểu mô giác mạc. Nên tra thuốc mỡ mắt trước khi ngủ hoặc dán băng để bảo vệ giác mạc. Nếu triệu chứng kéo dài, nên đi khám mắt. Nếu có đau mắt hoặc sợ ánh sáng vào buổi sáng, nghi ngờ mạnh hở mi ban đêm và xác nhận tổn thương biểu mô giác mạc dưới bằng nhuộm fluorescein.
Đặt bản vàng (lid loading): Đặt bản vàng hoặc bạch kim nặng 0,8-1,6 g vào mặt trước sụn mi trên. Nguyên lý hỗ trợ nhắm mắt bằng trọng lực, hiệu quả cao ở tư thế đứng và ngồi. Biến chứng bao gồm cảm giác dị vật, di lệch, nhiễm trùng, và nhìn thấy bản qua da 3, 4, 5)
Kéo dài cơ nâng mi trên: Phẫu thuật hỗ trợ cho liệt cơ vòng mi
Ghép cân: Tăng cường chức năng cơ vòng mi bằng cách sử dụng cân thái dương, v.v.
Mi dưới (sụp mi và lật mi ra ngoài):
Phương pháp dải sụn mi bên: Chỉnh sửa mi dưới chùng và lật ra ngoài. Rút ngắn phần bên của mi dưới để phục hồi độ căng
Cắt hình nêm: Chỉnh sửa chùng mi bằng cách rút ngắn mi dưới
Ghép sụn vành tai: Tăng cường mô nâng đỡ của lớp sau mi dưới
Khâu dính mi (tarsorrhaphy):
Khâu một phần mi ở bên ngoài (khâu dính mi bên) hoặc bên trong để giảm diện tích nhãn cầu lộ ra. Hữu ích để bảo vệ giác mạc trong giai đoạn cấp, được thực hiện tạm thời hoặc vĩnh viễn. Nếu có khả năng phục hồi liệt dây thần kinh mặt, khâu dính mi tạm thời có thể đảo ngược được lựa chọn6).
Tái tạo mi (do sẹo và chấn thương):
Mất mô dưới 1/4: có thể khâu đơn giản
1/4 trở lên: có thể xử lý bằng cách kết hợp rạch khóe mắt ngoài
Mất mô lớn: cần tái tạo mi (vạt da tự do, vạt có cuống, v.v.)
Điều trị bệnh nguyên phát (cơ học):
Trong bệnh mắt do tuyến giáp, ổn định bề mặt mắt bằng nước mắt nhân tạo và thuốc mỡ tra mắt như liệu pháp triệu chứng, sau khi giai đoạn viêm kết thúc, phẫu thuật giảm áp hốc mắt được thực hiện như giải pháp triệt để. Trong u hốc mắt, cắt bỏ u là điều trị căn nguyên.
Điều trị bằng thuốc giai đoạn cấp (trong vòng 72 giờ khởi phát):
Steroid: Prednisolon 60 mg/ngày, giảm dần. Dùng sớm giúp tăng tỷ lệ hồi phục theo kết quả RCT 8)
Thuốc kháng virus: Valacyclovir (1000 mg/ngày trong 7 ngày) kết hợp với steroid9)
Quản lý nhãn khoa:
Bảo vệ giác mạc bằng nước mắt nhân tạo, thuốc mỡ tra mắt và băng dính từ giai đoạn cấp
Bắt đầu bảo vệ tích cực khi phân loại HB từ IV trở lên
Nếu liệt còn sót lại sau 6 tháng theo dõi, cân nhắc can thiệp phẫu thuật 6, 10)
QKhi bị mắt lagophthalmos do liệt dây thần kinh mặt, cần làm gì trước tiên?
A
Đầu tiên, bảo vệ giác mạc bằng nước mắt nhân tạo nhỏ thường xuyên và thuốc mỡ tra mắt trước khi ngủ. Hỗ trợ nhắm mắt bằng băng dính cũng hiệu quả. Nếu tổn thương biểu mô giác mạc tiến triển, cần đến bác sĩ nhãn khoa ngay. Trong liệt Bell, dùng steroid và kháng virus sớm rất quan trọng để phục hồi thần kinh, và ưu tiên khám tai mũi họng hoặc thần kinh trong vòng 72 giờ đầu.
QHiệu quả của phẫu thuật đặt bản vàng kéo dài bao lâu?
A
Hoạt động vĩnh viễn, nhưng hiếm khi xảy ra di lệch bản (migration) hoặc nhiễm trùng cần phẫu thuật lại. Chuỗi bạch kim được cho là linh hoạt hơn bản vàng và ít nguy cơ di lệch hơn 12). Vì sử dụng trọng lực để hỗ trợ nhắm mắt, hiệu quả giảm khi nằm ngửa (khi ngủ), cần lưu ý.
QMắt lagophthalmos mất bao lâu để khỏi?
A
Khác nhau nhiều tùy theo nguyên nhân. Trong liệt Bell, 70-85% hồi phục hoàn toàn với điều trị thích hợp, nhưng thường mất 3-6 tháng 1). Nếu không cải thiện sau 6 tháng, cân nhắc can thiệp phẫu thuật. Lagophthalmos do sẹo và cơ học cần điều trị bệnh nền, và thường không tự khỏi.
Dây thần kinh mặt (dây thần kinh sọ số VII) chạy trong xương thái dương, thoát ra khỏi lỗ trâm chũm, và phân nhánh trong tuyến mang tai thành nhiều nhánh ngoại biên. Cơ vòng mi được chi phối bởi nhánh thái dương và nhánh gò má, sự co cơ này gây nhắm mắt. Trong liệt Bell, phù nề và thiếu máu cục bộ trong ống dây thần kinh mặt là nguyên nhân chính gây tổn thương thần kinh 7).
Liệt: Tổn thương dây thần kinh mặt (VII) → liệt cơ vòng mi → hở mi. Ở mi trên, da chùng xuống tạo vẻ giả sụp mi. Ở mi dưới, xảy ra sụp và lật mi ngoài, làm nặng thêm tình trạng hở mi.
Sẹo: Co rút sẹo ở lớp trước mi (da và cơ vòng mi) ngăn cản vật lý việc nhắm mi. Có thể tiến triển nhanh sau bỏng nhiệt hoặc hóa chất.
Cơ học: Lồi mắt khiến mi không thể che phủ hoàn toàn nhãn cầu. Trong bệnh mắt do tuyến giáp, phù nề và xơ hóa mỡ hốc mắt và cơ ngoại nhãn đẩy nhãn cầu ra trước.
Hở mi ban đêm (sinh lý): Sự nhắm mi chủ động biến mất khi ngủ, và hiện tượng nâng nhãn cầu sinh lý (hiện tượng Bell) làm lộ phần dưới giác mạc. Biểu hiện rõ khi không thể nhắm mi hoàn toàn nếu không có co cơ vòng mi chủ động.
Hở mi → phá vỡ màng nước mắt → khô giác mạc → tổn thương biểu mô (viêm giác mạc chấm nông) → mất biểu mô → nhiễm trùng → loét giác mạc → thủng giác mạc. Ngay cả khi hiện tượng Bell bình thường, nếu hở mi nặng, phần dưới giác mạc liên tục bị lộ, gây tổn thương biểu mô khu trú. Nếu giảm tiết nước mắt (rối loạn chức năng tuyến lệ do liệt thần kinh mặt), tổn thương giác mạc tiến triển dễ dàng hơn 2, 6).
Trong liệt Bell, 70-85% hồi phục hoàn toàn với điều trị thích hợp (steroid + kháng virus). Nếu liệt tồn dư kéo dài trên 6 tháng, được coi là hở mi liệt cố định và cân nhắc điều trị phẫu thuật. Trong bệnh mắt do tuyến giáp, sau điều trị triệu chứng giai đoạn viêm (hoạt động), tiến hành phẫu thuật giảm áp hốc mắt và phẫu thuật mi ở giai đoạn không viêm (ổn định). Lộ giác mạc nặng có nguy cơ thủng giác mạc, có thể cần các thủ thuật cấp cứu như khâu dính mi (tarsorrhaphy) 6).
Tái tạo thần kinh:
Chuyển thần kinh (nerve transfer) cho liệt thần kinh mặt không hồi phục đã được báo cáo, như chuyển thần kinh cơ nhai sang thần kinh mặt (masseter-to-facial nerve transfer). So sánh giữa nhóm sử dụng thần kinh cơ nhai và nhóm sử dụng thần kinh hạ thiệt, nhóm đầu tiên cho thấy phục hồi vận động mặt tự nhiên tốt hơn 13). Ghép thần kinh bắt chéo mặt (crossface nerve graft) ưu việt trong phục hồi đối xứng khuôn mặt, nhưng cần thời gian để tái tạo thần kinh.
Đặt chuỗi bạch kim (platinum chain lid loading):
Được phát triển như phiên bản cải tiến của tấm vàng. Có độ linh hoạt tốt hơn, ít gây mất thẩm mỹ khi mở mắt và nguy cơ di lệch thấp hơn theo nghiên cứu so sánh 12).
Tiêm độc tố botulinum:
Là phương pháp gây sụp mí mắt tạm thời bằng cách tiêm độc tố botulinum vào cơ nâng mi trên, hỗ trợ nhắm mắt. Đôi khi được coi là biện pháp tạm thời trong giai đoạn cấp của liệt Bell.
Ghép thần kinh nhân tạo và liệu pháp tế bào gốc:
Nghiên cứu cơ bản nhằm tái tạo dây thần kinh mặt đang được tiến hành. Chưa được ứng dụng lâm sàng, nhưng được coi là chiến lược điều trị tiềm năng trong tương lai.
Peitersen E. Bell’s palsy: the spontaneous course of 2,500 peripheral facial nerve palsies of different etiologies. Acta Otolaryngol Suppl. 2002;(549):4-30.
Seiff SR, Sullivan JH, Freeman LN, et al. Pretarsal fixation of gold weights in facial nerve palsy. Ophthalmic Plast Reconstr Surg. 1989;5(2):104-109.
Kartush JM, Linstrom CJ, McCann PM, et al. Early gold weight eyelid implantation for facial paralysis. Otolaryngol Head Neck Surg. 1990;103(6):1016-1023.
Terzis JK, Kyere SA. Experience with the gold weight and palpebral spring in the management of paralytic lagophthalmos. Plast Reconstr Surg. 2008;121(3):806-815.
Rahman I, Sadiq SA. Ophthalmic management of facial nerve palsy: a review. Surv Ophthalmol. 2007;52(2):121-144.
Mavrikakis I. Facial nerve palsy: anatomy, aetiology, evaluation and management. Orbit. 2008;27(6):466-474.
Sullivan FM, Swan IR, Donnan PT, et al. Early treatment with prednisolone or acyclovir in Bell’s palsy. N Engl J Med. 2007;357(16):1598-1607.
Engström M, Berg T, Stjernquist-Desatnik A, et al. Prednisolone and valaciclovir in Bell’s palsy: a randomised, double-blind, placebo-controlled, multicentre trial. Lancet Neurol. 2008;7(11):993-1000.
Hohman MH, Hadlock TA. Etiology, diagnosis, and management of facial palsy: 2000 patients at a facial nerve center. Laryngoscope. 2014;124(7):E283-E293.
House JW, Brackmann DE. Facial nerve grading system. Otolaryngol Head Neck Surg. 1985;93(2):146-147.
Bladen JC, Norris JH, Malhotra R. Cosmetic comparison of gold weight and platinum chain insertion in primary upper eyelid loading for lagophthalmos. Ophthalmic Plast Reconstr Surg. 2012;28(3):171-175.
Hontanilla B, Marre D. Comparison of hemihypoglossal nerve versus masseteric nerve transpositions in the rehabilitation of short-term facial paralysis using the Facial Clima evaluating system. Plast Reconstr Surg. 2012;130(5):662e-672e.
Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.
Đã sao chép bài viết vào clipboard
Mở một trợ lý AI bên dưới và dán nội dung đã sao chép vào ô chat.