Viêm tuyến lệ (dacryoadenitis) là thuật ngữ chung cho tình trạng viêm của tuyến lệ. Tuyến lệ nằm trong hố tuyến lệ ở phần ngoài của thành trên ổ mắt, là tuyến ngoại tiết tiết ra lớp nước của nước mắt qua lỗ mở vào túi kết mạc. Tuyến lệ bao gồm phần ổ mắt (lớn) và phần mi mắt (nhỏ), và viêm cả hai được gọi là viêm tuyến lệ.
Viêm tuyến lệ được chia thành hai loại chính: viêm tuyến lệ cấp tính và viêm tuyến lệ mạn tính. Viêm tuyến lệ cấp tính được chia nhỏ thành virus và vi khuẩn. Loại virus, virus quai bị và virus Epstein-Barr là những virus gây bệnh chính, thường xảy ra ở cả hai bên. Loại vi khuẩn, tụ cầu và lậu cầu là vi khuẩn chính, thường một bên do nhiễm trùng cục bộ như lẹo mắt hoặc chấn thương 12.
Viêm tuyến lệ mạn tính bao gồm các loại liên quan đến bệnh toàn thân như bệnh bạch cầu, bệnh Hodgkin, lao, giang mai, sarcoidosis, và một loại xảy ra như một phân nhóm của bệnh mắt liên quan đến IgG4, đó là viêm tuyến lệ liên quan đến IgG4 34. Viêm tuyến lệ liên quan đến IgG4 thường xảy ra sau tuổi 60, ít khác biệt về giới tính. Khi kèm sưng tuyến nước bọt (dưới hàm và mang tai), được gọi là bệnh Mikulicz, được coi là một phân nhóm của bệnh liên quan đến IgG4 3.
Viêm tuyến lệ cấp tính gia tăng trong các đợt dịch quai bị. Trong giai đoạn tỷ lệ tiêm vắc-xin quai bị thấp, viêm tuyến lệ do quai bị ở người lớn và trẻ em đi học có thể gia tăng. Viêm tuyến lệ liên quan đến sarcoidosis tương đối phổ biến, đôi khi được phát hiện tình cờ khi khám mắt lần đầu.
QViêm tuyến lệ và viêm túi lệ khác nhau như thế nào?
A
Viêm tuyến lệ là tình trạng viêm của tuyến lệ (nằm ở hố tuyến lệ trên thành ngoài phía trên của hốc mắt) tiết ra nước mắt, biểu hiện bằng sưng và đau khi ấn ở phần ngoài của mi mắt trên. Viêm túi lệ là tình trạng viêm của túi lệ (gần góc trong của mắt) trên đường dẫn lưu nước mắt, gây sưng và đau bên dưới góc trong của mắt. Vì vị trí giải phẫu và vùng xuất hiện triệu chứng khác nhau rõ ràng, có thể phân biệt qua thăm khám.
Trong viêm tuyến lệ cấp tính, phần ngoài của mi mắt trên đột nhiên sưng lên, và bệnh nhân thường kêu đau dữ dội. Có thể kèm theo đỏ và cảm giác nóng, và bệnh nhân có thể cảm thấy mắt lồi. Trong viêm nặng, có thể kèm theo sốt và mệt mỏi toàn thân.
Trong viêm tuyến lệ mạn tính, triệu chứng chính là sưng mi mắt không đau. Thường xảy ra ở cả hai bên, bệnh nhân đến khám vì than phiền “cả hai mi mắt trên đều sưng”. Trong trường hợp liên quan đến IgG4, bệnh nhân có thể đồng thời cảm thấy sưng ở má hoặc dưới hàm (vùng tuyến nước bọt).
Do virus thường hai bên / Do vi khuẩn thường một bên
Thường hai bên
Đau
Dữ dội (đau khi ấn tuyến lệ)
Về nguyên tắc không đau
Đỏ và sưng
Rõ rệt (phía ngoài mi trên)
Nhẹ đến trung bình
Lồi mắt
Gặp khi viêm nặng
Thường không có
Sờ thấy khối
Tuyến lệ to khi sờ
Khối mềm đàn hồi đến cứng
Sưng tuyến nước bọt
Không có
Kết hợp với IgG4
Sụp mí hình chữ S (S-shaped ptosis) là dấu hiệu đặc trưng của viêm tuyến lệ cấp tính. Chỉ phần bên ngoài của mí mắt trên (vùng tuyến lệ) bị sưng, trong khi phần bên trong bình thường, khiến bờ mí mắt trên trông như vẽ một đường cong hình chữ S. Hình dạng này xảy ra do tuyến lệ nằm ở phía ngoài của mí mắt.
Trong viêm tuyến lệ liên quan đến IgG4, ngoài tình trạng to tuyến lệ đối xứng hai bên, việc đồng thời có sưng to không đau của tuyến dưới hàm và tuyến mang tai là manh mối chẩn đoán (bệnh Mikulicz).
Nguyên nhân gây to tuyến lệ ngoài viêm tuyến lệ còn bao gồm u tuyến lệ (u tuyến đa dạng, ung thư biểu mô tuyến nang) và u lympho ác tính. Nếu kèm theo đỏ và đau cấp tính, có khả năng là viêm, nhưng trong trường hợp to tuyến lệ mạn tính không đau, ưu tiên hàng đầu là phân biệt với khối u. Đôi khi cần sinh thiết để xác nhận mô bệnh học.
Khám trực tiếp mí mắt là cơ bản của chẩn đoán. Kiểm tra sưng và đỏ ở phần ngoài của mí mắt trên (trường hợp cấp tính) hoặc sưng cứng lan tỏa (trường hợp mạn tính). Sờ nắn đánh giá tình trạng đau khi ấn vào vùng tuyến lệ, độ cứng của khối và khả năng di động. Trong viêm tuyến lệ cấp tính, đau khi ấn rõ rệt, trong khi viêm tuyến lệ mạn tính, sờ thấy khối đàn hồi đến cứng.
Viêm tuyến lệ liên quan đến IgG4: Tuyến lệ trái to đơn độc trên CT (không có thay đổi xương) và MRI (hình ảnh T1/T2/có tiêm thuốc cản quang)
Caltabiano C, Rana K, Buckby A, Patel S, Selva D. Imaging features of lacrimal gland disease. Front Ophthalmol. 2025;5:1724513. Figure 7. DOI: 10.3389/fopht.2025.1724513. License: CC BY 4.0.
Tuyến lệ trái to đơn độc ở bệnh nhân viêm tuyến lệ liên quan đến IgG4: Trên CT (A và B) không có xói mòn xương; trên các chuỗi MRI khác nhau, thấy tuyến lệ to rõ ràng, ngấm thuốc nhẹ và hạn chế khuếch tán. Điều này tương ứng với các dấu hiệu CT và MRI (to lan tỏa, có hoặc không có phá hủy xương, kiểu ngấm thuốc) được thảo luận trong phần “Chẩn đoán và Phương pháp Xét nghiệm”.
Chụp CT là xét nghiệm chính để đánh giá kích thước và hình thái tuyến lệ. Phân biệt giữa to lan tỏa và dạng nốt, kiểm tra sự hiện diện của phá hủy xương. Nếu có phá hủy xương, nghi ngờ mạnh ung thư biểu mô tuyến nang. MRI có độ phân giải mô mềm cao hơn CT và có thể đánh giá thay đổi tín hiệu của tuyến lệ trên hình ảnh T2. Viêm tuyến lệ liên quan đến IgG4 thường cho thấy tín hiệu T2 thấp đồng nhất.
Trong viêm tuyến lệ mạn tính, sinh thiết có thể cần thiết để phân biệt với khối u ác tính. Sinh thiết xác nhận về mặt mô bệnh học mật độ thâm nhiễm tương bào dương tính với IgG4 (tế bào IgG4+ ≥50/HPF, tỷ lệ tế bào IgG4+/IgG+ ≥40%) và sự hiện diện hay không của u lympho ác tính hoặc ung thư biểu mô tuyến nang. Trong tiêu chuẩn chẩn đoán sửa đổi năm 2023 cho viêm tuyến lệ và viêm tuyến nước bọt liên quan đến IgG4, ngưỡng được điều chỉnh thành tỷ lệ IgG4+/IgG+ ≥0,4 và tế bào IgG4+ >10/HPF, và sinh thiết môi cũng được cho phép 5.
Khởi phát cấp tính, kèm viêm xoang, dấu hiệu viêm lan tỏa hốc mắt
Sarcoidosis
Nổi hạch rốn phổi hai bên (X-quang ngực) và tăng ACE
Chú ý: Không bỏ sót khối u ác tính
Ngay cả khi có triệu chứng giống viêm tuyến lệ mãn tính, luôn phải loại trừ u tuyến lệ. Nếu có khối không đau, đơn độc, cứng, phá hủy xương, phát triển nhanh, hoặc không đáp ứng với kháng sinh và steroid, hãy sinh thiết sớm. U lympho và ung thư biểu mô tuyến nang phải được chuyển ngay đến khoa điều trị sau khi xác định loại mô.
Liều khởi đầu khuyến cáo của prednisolon là 0,6 mg/kg/ngày (tiêu chuẩn 30 mg/ngày). Sau 2-4 tuần, đánh giá hiệu quả, nếu giảm sưng thì giảm liều 10% mỗi 2 tuần. Sau khi đạt liều duy trì (5-10 mg/ngày), thường cần tiếp tục dài hạn, và việc tái khám định kỳ là cần thiết để chuẩn bị cho tái phát trong quá trình giảm liều. Khi dùng steroid dài hạn, chú ý đến sự xuất hiện hoặc nặng lên của đái tháo đường, loãng xương, loét dạ dày tá tràng, đục thủy tinh thể và glôcôm, và thực hiện theo dõi định kỳ.
Trong các trường hợp kháng hoặc phụ thuộc steroid, có thể xem xét thêm thuốc ức chế miễn dịch (như azathioprine). Có báo cáo về cảm ứng và duy trì thuyên giảm bằng kháng thể kháng CD20 (rituximab), nhưng cần kiểm tra bảo hiểm chi trả.
QViêm tuyến lệ liên quan đến IgG4 có chữa khỏi hoàn toàn không?
A
Thường đạt được đáp ứng tốt như giảm sưng với liệu pháp steroid, nhưng nguy cơ tái phát cao trong quá trình giảm liều. Cần theo dõi lâu dài và giảm liều thận trọng. Nếu kháng steroid, có thể xem xét thêm thuốc ức chế miễn dịch. Một số trường hợp có thể đạt thuyên giảm hoàn toàn, nhưng thường phải điều trị duy trì kéo dài.
QViêm tuyến lệ cấp tính có tự khỏi không?
A
Hầu hết viêm tuyến lệ cấp tính do virus (quai bị, virus Epstein-Barr) tự hồi phục trong 2-4 tuần. Tuy nhiên, trường hợp do vi khuẩn cần dùng kháng sinh, và nếu hình thành áp xe, có thể xem xét rạch dẫn lưu. Quyết định chờ tự khỏi dựa trên đánh giá lâm sàng xem là virus hay vi khuẩn.
Các tác nhân gây bệnh như virus quai bị, virus EB xâm nhập vào nhu mô tuyến lệ qua đường máu hoặc từ vùng lân cận. Xảy ra nhiễm trùng trực tiếp tế bào biểu mô tuyến lệ và sự di chuyển của bạch cầu trung tính, tế bào lympho do cytokine viêm, gây phù nề mô kẽ. Sự to lên của mô tuyến do phù nề gây ra phồng lên ở mi trên ngoài (sụp mi hình chữ S). Ở các trường hợp tự hồi phục, viêm lắng dịu trong 2-4 tuần và cấu trúc tuyến phục hồi.
Trong viêm tuyến lệ do vi khuẩn, vi khuẩn lan từ các ổ nhiễm trùng lân cận như lẹo mắt, chấn thương, viêm xoang, gây viêm mủ cấp tính. Trường hợp nặng, hình thành áp xe cần rạch và dẫn lưu.
Xảy ra sự xâm nhập liên tục của tế bào lympho và tương bào vào nhu mô tuyến, dẫn đến xơ hóa và xơ cứng mô tuyến. Có khía cạnh giống u giả viêm, khó phân biệt với u.
Bệnh liên quan đến IgG4 (IgG4-related disease) là một khái niệm bệnh toàn thân, trong đó tương bào dương tính với IgG4 và tế bào T điều hòa xâm nhập vào các cơ quan khác nhau, gây xơ hóa và xơ cứng. Ở tuyến lệ, sinh lý bệnh sau đây tiến triển:
Tương bào dương tính với IgG4 xâm nhập mô tuyến lệ với mật độ cao (≥50 tế bào/HPF)
Xơ hóa dạng storiform (xơ hóa xoắn: tăng sinh sợi xoắn ốc) hình thành trong nhu mô tuyến
Viêm tĩnh mạch tắc nghẽn (xâm nhập tế bào viêm quanh tĩnh mạch và tắc lòng mạch) là đặc điểm mô học
To nhu mô tuyến → xơ hóa → xơ cứng tiến triển theo thứ tự, dẫn đến rối loạn chức năng tuyến (giảm tiết nước mắt, khô mắt)
Bệnh Mikulicz là tình trạng tuyến lệ và tuyến nước bọt lớn (dưới hàm và mang tai) bị ảnh hưởng đồng thời, được coi là một phân nhóm của bệnh liên quan đến IgG43
Trong sarcoidosis, các u hạt không hoại tử bã đậu gồm tế bào biểu mô hình thành trong mô tuyến lệ. Tế bào T và đại thực bào hoạt hóa (tế bào biểu mô) tập hợp lại tạo thành u hạt chứa tế bào khổng lồ đa nhân. Sarcoidosis tuyến lệ thường bắt đầu một bên và sau đó trở thành hai bên4.
Các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh liên quan đến IgG4 đang tiến tới tiêu chuẩn hóa quốc tế. Ngoài Tiêu chuẩn Phân loại Quốc tế về Bệnh liên quan đến IgG4 (Hệ thống Điểm ACR/EULAR) được công bố năm 2019, tiêu chuẩn chẩn đoán viêm tuyến lệ và viêm tuyến nước bọt liên quan đến IgG4 sửa đổi năm 2023 hiện bao gồm các tổn thương không đối xứng và các trường hợp có hai tuyến trở xuống, mở rộng phạm vi chẩn đoán5.
Hiệu quả của rituximab (kháng thể kháng CD20) trong viêm tuyến lệ liên quan đến IgG4 kháng hoặc phụ thuộc steroid đã được báo cáo trong nhiều báo cáo ca bệnh và loạt ca bệnh, trở thành một lựa chọn đầy hứa hẹn trong tương lai3.
Quản lý rối loạn chức năng tiết nước mắt (khô mắt) sau viêm tuyến lệ là một thách thức lâm sàng. Trong các trường hợp xơ hóa nhu mô tuyến tiến triển, tiết nước mắt có thể không phục hồi mặc dù sưng giảm với steroid, cần điều trị thay thế nước mắt lâu dài.
Là các phương pháp chẩn đoán xâm lấn tối thiểu không cần sinh thiết, nghiên cứu đang được tiến hành về các dấu ấn sinh học MRI (giá trị ADC và các mẫu tương phản động) và dấu ấn sinh học huyết thanh, trong tương lai có thể cho phép phân biệt bệnh liên quan đến IgG4 với khối u mà không cần chẩn đoán mô.
Wai KM, Wolkow N, Yoon MK. Infectious Dacryoadenitis: A Comprehensive Review. Int Ophthalmol Clin. 2022;62(2):71-86. doi:10.1097/IIO.0000000000000412. PMID: 35325911. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/35325911/↩
Maehara T, Pillai S, Stone JH, Nakamura S. Clinical features and mechanistic insights regarding IgG4-related dacryoadenitis and sialoadenitis: a review. Int J Oral Maxillofac Surg. 2019;48(7):908-916. doi:10.1016/j.ijom.2019.01.006. PMID: 30686634. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/30686634/↩↩2↩3↩4
Yanardag H, Pamuk ON. Lacrimal gland involvement in sarcoidosis. The clinical features of 9 patients. Swiss Med Wkly. 2003;133(27-28):388-391. doi:10.4414/smw.2003.10125. PMID: 12947527. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/12947527/↩↩2
Kanda M, Nagahata K, Moriyama M, et al. The 2023 revised diagnostic criteria for IgG4-related dacryoadenitis and sialadenitis. Mod Rheumatol. 2025;35(3):542-547. doi:10.1093/mr/roae096. PMID: 39441008. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/39441008/↩↩2
Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.
Đã sao chép bài viết vào clipboard
Mở một trợ lý AI bên dưới và dán nội dung đã sao chép vào ô chat.