Bỏ qua đến nội dung
Giác mạc và mắt ngoài

Viêm bờ mi (Viêm bờ mi)

Viêm bờ mi là bệnh viêm nhiễm tập trung ở bờ mi. Còn được gọi là “viêm bờ mi rìa” (marginal blepharitis). Đây là một trong những bệnh phổ biến nhất trong nhãn khoa, xảy ra ở mọi lứa tuổi và chủng tộc. Thông thường, bệnh không trực tiếp đe dọa thị lực, nhưng nếu nặng có thể gây tổn thương biểu mô giác mạctân mạch giác mạc.

Dựa trên vị trí giải phẫu, bệnh được chia thành viêm bờ mi trướcviêm bờ mi sau. Viêm bờ mi trước là tình trạng viêm từ chân lông mi đến da, được phân loại thành viêm bờ mi do tụ cầu (loét)viêm bờ mi tiết bã (bong vảy). Thể hỗn hợp kết hợp cả hai cũng không hiếm. Viêm bờ mi sau chủ yếu là viêm tuyến Meibomius, thường được xử lý như rối loạn chức năng tuyến Meibomius (MGD)3)4).

MGD được định nghĩa là “tình trạng rối loạn chức năng lan tỏa của tuyến Meibomius do nhiều nguyên nhân khác nhau, kèm theo khó chịu mãn tính ở mắt”4). MGD được chia thành hai loại chính: thể giảm tiết và thể tăng tiết, trong đó thể giảm tiết chiếm đa số4).

Ngoài ra, viêm bờ mi do Demodex liên quan đến ký sinh trùng Demodex folliculorum và Demodex brevis đang được chú ý như một thể bệnh1). Khoảng 30% bệnh nhân viêm bờ mi mạn tính có nhiễm Demodex, và ở những trường hợp khó điều trị, liệu pháp diệt ký sinh trùng có thể có hiệu quả.

Một nghiên cứu dựa trên dân số tại Nhật Bản trên các đối tượng từ 6 đến 96 tuổi cho thấy tỷ lệ mắc MGD tăng rõ rệt theo độ tuổi4).

  • Dưới 19 tuổi: 0%
  • 20-29 tuổi: 11,8%
  • 30-39 tuổi: 5,6%
  • 40-49 tuổi: 21,6%
  • 50-59 tuổi: 32,8%
  • 60-69 tuổi: 41,9%
  • 70-79 tuổi: 48,4%
  • 80-89 tuổi: 63,9%

Về sự khác biệt giới tính, một số báo cáo cho thấy bệnh phổ biến hơn ở nam giới và phụ nữ sau mãn kinh4). Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi cao, người châu Á, sống ở nông thôn, làm việc với màn hình thiết bị đầu cuối, hút thuốc, đeo kính áp tròng mềm, và sử dụng lâu dài thuốc nhỏ mắt điều trị tăng nhãn áp4). Một khảo sát tại Mỹ cho thấy 37-47% bệnh nhân khám mắt có dấu hiệu viêm bờ mi, trong đó viêm bờ mi do tụ cầu thường gặp ở người trẻ hơn (trung bình 42 tuổi) và phổ biến hơn ở nữ giới. Có báo cáo cho rằng viêm bờ mi liên quan đến Demodex xuất hiện ở hơn 80% người trên 60 tuổi và gần 100% người trên 70 tuổi1).

Q Viêm bờ mi và MGD có phổ biến không?
A

Theo một nghiên cứu trên dân số Nhật Bản, tỷ lệ mắc MGD là khoảng 11,8% ở độ tuổi 20, 21,6% ở độ tuổi 40, 41,9% ở độ tuổi 60 và lên tới 63,9% ở độ tuổi 804). Tỷ lệ này tăng rõ rệt theo tuổi, và ở người cao tuổi, hơn một nửa có một số dạng rối loạn chức năng tuyến Meibomius. Bệnh phổ biến hơn ở nam giới và phụ nữ sau mãn kinh4).

2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng

Phần tiêu đề “2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”
Ảnh chụp đèn khe của viêm bờ mi (viêm bờ mi). Có thể thấy đỏ bờ mi, vảy da, giãn mạch máu nhỏ, bất thường tuyến Meibomian
Pyzia J, et al. Demodex Species and Culturable Microorganism Co-Infestations in Patients with Blepharitis. Life (Basel). 2023. Figure 2. PMCID: PMC10533081. License: CC BY.
(A) Rối loạn chức năng tuyến Meibomian, vảy keratin, viêm bờ mi nhẹ, (B) Rối loạn chức năng tuyến Meibomian, giãn mạch bờ mi, chảy nước mắt, (C) Tắc tuyến Meibomian, giãn mạch bờ mi, (D) Hình ảnh lâm sàng viêm bờ mi do Demodex cho thấy tắc tuyến Meibomian. Tương ứng với phần “Rối loạn chức năng tuyến Meibomian” được đề cập trong mục “2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”.

Triệu chứng chính của viêm bờ mi mãn tính là cảm giác nóng rát, dị vật và ngứa ở mi mắt. Có thể kèm theo xung huyết, chảy nước mắt, ghèn, nhìn mờ và sợ ánh sáng. Triệu chứng thường nặng hơn vào buổi sáng và có đặc điểm là thuyên giảm và tái phát xen kẽ. Trong viêm bờ mi do tụ cầu, bệnh nhân thường cảm thấy nóng rát dữ dội và đỏ bờ mi. Trong khi đó, viêm bờ mi tiết bã nhờn khởi phát với cảm giác nóng rát mãn tính nhẹ hơn và cảm giác dị vật.

Trong MGD, đặc trưng là cảm giác khó chịu ở mắt, cảm giác căng tức, khô, mệt mỏi và cảm giác bất thường được mô tả là “cảm giác dính dính” 4). Rất khó để phân biệt chỉ dựa trên triệu chứng chủ quan, cần phải đánh giá tổng hợp với các dấu hiệu trên kính hiển vi đèn khe 4).

Trong viêm bờ mi do Demodex, ngứa dữ dội vào ban đêm và sáng sớm là đặc trưng, 80% bệnh nhân gặp khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày, 47% khó lái xe ban đêm, 34% phải hạn chế đeo kính áp tròng hoặc trang điểm 1).

Quan sát bằng kính hiển vi đèn khe, đặc biệt kết hợp với bộ khuếch tán, là cơ bản. Các dấu hiệu theo từng thể bệnh được trình bày dưới đây.

Viêm bờ mi trước

Do tụ cầu (viêm nang lông): Gây đỏ bờ mi hai bên, sẩn nhỏ, mụn mủ nhỏ, loét nhỏ, đóng vảy. Dấu hiệu đặc trưng là collarettes (vòng cổ) có nguồn gốc fibrin bao quanh gốc lông mi. Trường hợp nặng, nang lông bị phá hủy dẫn đến rụng lông mi (hói lông mi) hoặc lông mi mọc lộn xộn, kèm theo viêm kết mạc mãn tính và tổn thương biểu mô chấm giác mạc.

Tiết bã nhờn: Đỏ và phù nề nhẹ hơn so với thể do tụ cầu, nhưng có xung huyết quanh bờ mi và vảy da nhờn, dễ bong. Dấu hiệu đặc trưng là “lông mi tiết bã nhờn” với nhiều lông mi kết thành chùm. Nang lông không bị phá hủy nên lông mi có thể mọc lại.

Viêm bờ mi sau (MGD)

Dấu hiệu ở lỗ tuyến: Tắc lỗ tuyến Meibomian (plugging, pouting, ridge), rối loạn sắp xếp, di chuyển đường nối niêm mạc-da theo hướng trước-sau, bờ mi không đều, giãn mạch bờ mi 4). Khi ấn mi, có thể ép ra chất lỏng màu vàng hoặc chất đông đặc.

Dấu hiệu kèm theo: Ở thể tiết bã nhờn, hình thành bọt Meibomian ở bờ mi dưới. Trường hợp nặng kèm dày mi, tăng sinh nhú kết mạc mi. Giảm lớp lipid nước mắt gây khô mắt tăng bay hơi, dễ kết hợp viêm giác mạc nông lan tỏa 3)4).

Viêm bờ mi do Demodex

Dấu hiệu bệnh lý: Gàu hình trụ (cylindrical dandruff) ở chân lông mi là dấu hiệu có giá trị bệnh lý cao, cùng với collarettes là manh mối chẩn đoán1)2). Kèm theo xung huyết kết mạc, đỏ, sưng, giãn mao mạch bờ mi, rụng lông mi quá mức.

Thể bệnh đặc biệt: Demodex brevis ẩn trong tuyến Meibomius, đôi khi không phát hiện được bằng xét nghiệm nhổ lông mi. Có báo cáo về các trường hợp có thể phát hiện bằng cách nặn meibum sau khi lau bờ mi và quan sát trực tiếp dưới kính hiển vi5). Ở trẻ em, đã có báo cáo về viêm giác mạc nặng kèm loét giác mạctân mạch, do đó cần phân biệt Demodex trong viêm giác mạc kháng trị2).

Trong thực hành lâm sàng tại Nhật Bản, phân loại Shimazaki được sử dụng rộng rãi để đánh giá tính chất meibum bằng cách ấn vừa phải vào giữa mi mắt.

  • grade 0: Meibum trong suốt dễ dàng chảy ra khi ấn nhẹ (bình thường)
  • grade 1: Meibum đục chảy ra khi ấn nhẹ
  • grade 2: Meibum đục chảy ra khi ấn vừa phải hoặc mạnh hơn
  • grade 3: Không có meibum chảy ra dù ấn mạnh

Grade 2 trở lên được coi là bất thường và được dùng để xác định “giảm tiết meibum” trong tiêu chuẩn chẩn đoán MGD4).

Q Collarettes là gì?
A

Collarettes là vảy (chất bám dạng gàu) hình thành bao quanh chân lông mi. Trong viêm bờ mi do tụ cầu, chúng hình thành từ fibrin tại vết loét bờ mi và được nâng lên khi lông mi mọc. Trong viêm bờ mi do Demodex, chúng được gọi là gàu hình trụ (cylindrical dandruff) và là dấu hiệu có giá trị bệnh lý cao, là manh mối chẩn đoán1)2).

Căn nguyên của viêm bờ mi là đa yếu tố, và nguyên nhân chính khác nhau tùy theo thể bệnh.

Viêm bờ mi do tụ cầu liên quan đến sự phát triển của tụ cầu trên bề mặt mắt. 46–51% bệnh nhân có nuôi cấy dương tính với tụ cầu vàng, cao hơn đáng kể so với 8% ở người khỏe mạnh. Ngoại độc tố của vi khuẩn gây tổn thương biểu mô chấm ở giác mạckết mạc lân cận. Moraxella là nguyên nhân quan trọng gây viêm bờ mi góc.

Viêm bờ mi tiết bã thường kết hợp với viêm da tiết bã, với báo cáo 95% bệnh nhân có viêm da tiết bã. Viêm da do rosacea được báo cáo ở 20–42% bệnh nhân viêm bờ mi tất cả các thể và được công nhận là một trong những nguyên nhân quan trọng của viêm bờ mi.

Cơ chế hình thành MGD: Bệnh lý chính của MGD giảm tiết là tăng sừng hóa biểu mô ống tuyến Meibom và teo nang tuyến4). Teo nang tuyến không chỉ do tắc nghẽn thứ phát mà còn có thể do tổn thương nguyên phát tế bào tuyến do lão hóa và các yếu tố khác.

Yếu tố nguy cơ của MGD4):

  • Tuổi tác: Được nhiều nghiên cứu ủng hộ mạnh mẽ
  • Giới tính: Phổ biến hơn ở nam giới và phụ nữ sau mãn kinh
  • Yếu tố mắt: Người châu Á, làm việc với thiết bị hiển thị, đeo kính áp tròng mềm, sử dụng thuốc nhỏ mắt glaucoma kéo dài, tiền sử phẫu thuật mắt
  • Yếu tố lối sống: Hút thuốc, sống ở nông thôn
  • Bệnh toàn thân: Đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipid, tăng huyết áp, cường giáp
  • Bệnh kèm viêm bề mặt mắt: Rosacea, hội chứng Sjögren, hội chứng Stevens-Johnson, bệnh ghép chống chủ (GVHD)
  • Yếu tố nội tiết tố: Mãn kinh, giảm androgen

Demodex (Demodex folliculorumDemodex brevis) ký sinh ở tuyến bã, nang lông và tuyến Meibom, chất bài tiết và dịch tiết gây tắc nang lông và viêm1). Các cytokine viêm như IL-1β và IL-17 cùng với mmp-9 được kích hoạt. Demodex cũng hoạt động như vector cho vi khuẩn như tụ cầu vàng, Acinetobacter baumannii, Streptococcus pneumoniae, có thể thúc đẩy bội nhiễm bề mặt mắt1).

Mối liên quan với khô mắt cũng rất quan trọng. 50% bệnh nhân viêm bờ mi do tụ cầu có khô mắt. Trong MGD, thiếu hụt lớp lipid nước mắt gây tăng bay hơi, tỷ lệ khô mắt kèm theo lên tới 25–40%3). MGDkhô mắt có mối quan hệ tương hỗ làm nặng thêm lẫn nhau.

Q Khô mắt và viêm bờ mi liên quan với nhau như thế nào?
A

Hai bệnh có liên quan chặt chẽ. Sự suy giảm chất lượng và số lượng lớp lipid nước mắt do MGD là nguyên nhân chính của khô mắt tăng bay hơi3). Mặt khác, giảm lysozyme và immunoglobulin do giảm nước mắt thúc đẩy sự phát triển của viêm bờ mi do tụ cầu. Do đó, cần điều trị đồng thời cả viêm bờ mi và khô mắt.

Chẩn đoán dựa trên tiền sử bệnh và khám bằng đèn khe. Cần xác định khởi phát cấp tính hay mạn tính, một mắt hay hai mắt, có đau hay không. Hỏi về bệnh toàn thân (hội chứng Sjögren, rosacea, đái tháo đường, dị ứng, bệnh tuyến giáp, viêm xoang), tiền sử dị ứng, sử dụng mỹ phẩm/thuốc nhỏ mắt, đeo kính áp tròng, hút thuốc.

Quan sát và sờ nắn đánh giá đỏ, sưng mi (lan tỏa hay khu trú), đau khi ấn, và chàm. Sưng khu trú một mắt có đau gợi ý lẹo mắt/chắp cấp; sưng lan tỏa hai mắt có đau cần phân biệt áp xe mi và viêm mô tế bào hốc mắt.

Quan sát bằng đèn khe, đặc biệt với bộ khuếch tán, các dấu hiệu sau4):

  • Bờ mi: collarettes, vảy, giãn mạch, tân mạch, sẹo, vị trí ranh giới da-niêm mạc
  • Lông mi: rụng, mọc lộn xộn, chùm (lông mi tiết bã), vảy hình trụ
  • Lỗ tuyến Meibom: tắc (plugging, pouting, ridge), sắp xếp bất thường
  • Ép meibum: ấn vào giữa sụn mi bằng ngón tay hoặc kẹp chuyên dụng, đánh giá theo phân loại Shimazaki
  • Bề mặt nhãn cầu: xung huyết kết mạc, tổn thương biểu mô giác mạc-kết mạc (nhuộm fluorescein)

Tiêu chuẩn chẩn đoán MGD tại Nhật Bản

Phần tiêu đề “Tiêu chuẩn chẩn đoán MGD tại Nhật Bản”

Chẩn đoán MGD thể giảm tiết dựa trên cả 3 tiêu chí sau đều dương tính4).

Tiêu chí chẩn đoánXác định dương tính
Triệu chứng chủ quanCó các triệu chứng như khó chịu ở mắt, cảm giác dị vật, cảm giác căng tức
Dấu hiệu quanh lỗ tuyếnCó ít nhất một trong các dấu hiệu: giãn mạch, di lệch đường nối niêm mạc-da, bờ mi không đều
Dấu hiệu tắc lỗ tuyếnCó dấu hiệu tắc như plugging và phân loại Shimazaki từ độ 2 trở lên

Tiêu chuẩn chẩn đoán này do Nhóm công tác MGD đề xuất năm 2010 được sử dụng rộng rãi, nhưng vẫn chưa có tiêu chuẩn chẩn đoán thống nhất quốc tế4).

  • Meibography (hồng ngoại): Quan sát không xâm lấn hình thái tuyến Meibomius. Có thể định lượng diện tích dropout, rút ngắn tuyến, giãn tuyến, được khuyến cáo trong chẩn đoán MGD4)
  • Thời gian phá vỡ màng nước mắt (TBUT): Thường ngắn trong MGD nhưng không phải xét nghiệm đặc hiệu4)
  • Quan sát meibum dưới đèn khe: Khuyến cáo thực hiện4)
  • Nhuộm fluorescein: Đánh giá tổn thương biểu mô giác mạc-kết mạc, có tính ứng dụng cao nhất4)
  • Đo áp suất thẩm thấu nước mắt: Hữu ích trong chẩn đoán khô mắt kèm theo, với ngưỡng ≥316 mOsm/L cho độ nhạy 59% và độ đặc hiệu 94%

Phương pháp cơ bản là soi kính hiển vi lông mi đã nhổ. Lee và cộng sự đã nhổ 4 lông mi mỗi mi trên và dưới để xác định trưởng thành và ấu trùng của D. folliculorum dưới kính hiển vi quang học2). Tuy nhiên, D. brevis ẩn trong tuyến Meibomius nên có thể không phát hiện được khi nhổ lông mi. Zhang và Liang đã báo cáo phát hiện 15 con D. brevis bằng cách nặn meibum sau khi xử lý kháng khuẩn bờ mi và soi kính hiển vi, cho thấy viêm bờ mi do Demodex có thể có D. brevis chỉ trong meibum mà không kèm dấu hiệu bên ngoài5).

Các xét nghiệm khác và chẩn đoán phân biệt

Phần tiêu đề “Các xét nghiệm khác và chẩn đoán phân biệt”

Trong trường hợp viêm bờ mi tái phát nặng hoặc kháng trị, nuôi cấy vi khuẩn bờ mi (Staphylococcus, Moraxella) được chỉ định. Sinh thiết mi được xem xét để loại trừ ung thư biểu mô tuyến bã khi có tổn thương chắp không đối xứng rõ rệt, một bên khó điều trị, hoặc ở bệnh nhân trung niên đến cao tuổi. Ung thư biểu mô tuyến bã được biết đến có thể ngụy trang dưới dạng viêm bờ mi khó điều trị hoặc tổn thương dạng chắp.

Chẩn đoán phân biệt bao gồm: chắp, áp xe mi, viêm mô tế bào hốc mắt, viêm bờ mi do herpes (VZV, HSV), viêm bờ mi dị ứng, viêm da mi (tiếp xúc, do thuốc, cơ địa), viêm bờ mi chàm, và ung thư biểu mô tuyến bã.

Viêm bờ mi là bệnh mạn tính, nguyên tắc điều trị là kiểm soát triệu chứng và dấu hiệu viêm. Không có bằng chứng mạnh mẽ về việc chữa khỏi hoàn toàn, cần quản lý lâu dài. Nếu có kèm MGD, điều trị dựa trên chườm ấm, vệ sinh bờ mi và nặn meibum4).

Lựa chọn đầu tiên: Chăm sóc bờ mi (chườm ấm, vệ sinh bờ mi, nặn meibum)

Phần tiêu đề “Lựa chọn đầu tiên: Chăm sóc bờ mi (chườm ấm, vệ sinh bờ mi, nặn meibum)”

Chườm ấm làm tăng nhiệt độ mi đến điểm nóng chảy của meibum, giúp hòa tan và thúc đẩy bài tiết meibum, đồng thời cải thiện lưu lượng máu mi4). Hướng dẫn bệnh nhân sử dụng mặt nạ mắt nhiệt thương mại tại nhà 2 lần/ngày, mỗi lần ít nhất 5 phút. Khăn nóng tiện lợi nhưng khó điều chỉnh nhiệt độ và có thể nguội do bay hơi khi ướt, do đó là lựa chọn thứ yếu.

Vệ sinh bờ mi (lid hygiene) sử dụng bông gòn thấm nước hoặc chất tẩy rửa thương mại (như dung dịch dầu gội em bé pha loãng), dùng tăm bông lau sạch chân lông mi đúng cách4). Có thể cải thiện triệu chứng, dấu hiệu lỗ tuyến meibomian, meibum grade, TBUT và tổn thương biểu mô giác mạc-kết mạc. Lưu ý rằng các loại chất tẩy rửa khác nhau có thể gây tác dụng phụ4).

Nặn meibum được xem xét trong MGD tắc nghẽn4). Tại phòng khám, sử dụng dụng cụ chuyên dụng như kẹp nặn tuyến meibomian Arita (Inami), thực hiện với khoảng cách 10 ngày đến 1 tháng. Nếu có nút bít lớn, có thể loại bỏ bằng kẹp hoặc kim sau khi nhỏ thuốc tê.

Liệu pháp kháng khuẩn và chống viêm

Kháng sinh tại chỗ: Đối với viêm do tụ cầu, bôi thuốc mỡ bacitracin hoặc erythromycin lên bờ mi trước khi ngủ. Sử dụng trong 2–8 tuần. Nhỏ mắt azithromycin hydrat có thể cải thiện triệu chứng, dấu hiệu lỗ tuyến và meibum grade trong MGD4).

Kháng sinh đường uống: Tetracycline và macrolide được sử dụng nhằm mục đích chống viêm và điều chỉnh lipid. Giảm dần tetracycline từ 1.000 mg/ngày xuống 250 mg/ngày, giảm dần minocycline hydrochloride từ 200 mg/ngày xuống 100 mg/ngày, doxycycline 100 mg uống 2 lần/ngày, giảm dần trong 3-4 tháng, kết hợp macrolide như clarithromycin. Các thuốc này được cho là có tác dụng bằng cách ức chế hoạt động enzyme do vi khuẩn sản xuất và ức chế hình thành màng sinh học.

Corticosteroid tại chỗ: Khi viêm nặng, sử dụng fluorometholone 0,1% trong thời gian ngắn kết hợp. Kết hợp với vệ sinh mi mắt và chườm ấm có thể cải thiện triệu chứng chủ quan, TBUT, dấu hiệu bờ mi và chất lượng meibum4). Tại Nhật Bản, chỉ được bảo hiểm chi trả khi có viêm bờ mi kèm theo4).

Nước mắt nhân tạo và thuốc nhỏ hỗ trợ: Sử dụng hỗ trợ trong trường hợp khô mắt do bay hơi tăng hoặc giảm tiết nước mắt. Nếu sử dụng từ 4 lần/ngày trở lên, chọn chế phẩm không chứa chất bảo quản. Thuốc nhỏ diquafosol sodium có thể cải thiện ở bệnh nhân khô mắt kèm theo, nhưng thường không được chỉ định điều trị đơn thuần cho MGD4).

Điều trị viêm bờ mi do Demodex

Dầu cây trà (TTO): Thành phần chính terpinen-4-ol (T4O) có tác dụng ức chế acetylcholinesterase, gây hiệu quả diệt ký sinh trùng1). Được sử dụng ở nồng độ 5-50%. Có báo cáo cho thấy lau mi mắt bằng TTO 50% mỗi tuần một lần và lau hàng ngày bằng PHMB 0,4% trong 6 tuần cải thiện ở tất cả bệnh nhân2).

Thuốc chống ký sinh trùng đường uống và bôi ngoài da: Kết hợp ivermectin (tác động lên thụ thể GABA của ký sinh trùng gây tê liệt) và metronidazole (gây tổn thương DNA qua gốc nitro) được cho là hiệu quả nhất1). Cả đường uống và bôi ngoài da đều được xem xét.

Loại bỏ cơ học: Kết hợp vệ sinh bờ mi và chườm ấm, duy trì chăm sóc mi mắt hàng ngày.

Điều trị hỗ trợ: Trong trường hợp khô mắt kèm theo, bổ sung nước mắt nhân tạo.

Cơ chế tác dụng của các thuốc đối với Demodex được so sánh dưới đây.

Phương pháp điều trịCơ chế tác dụngGhi chú
TTOỨc chế AChE1)Có sẵn rộng rãi
IvermectinỨc chế thụ thể GABA1)Tăng cường hiệu quả khi kết hợp với metronidazole1)
MetronidazoleTổn thương DNA1)Đường uống và bôi ngoài da
  • Viêm bờ mi góc mắt: Nhỏ thuốc kháng sinh nhạy cảm với tụ cầu khuẩn và tra thuốc mỡ tra mắt.
  • Viêm bờ mi do Herpes (HSV): Bắt đầu với thuốc mỡ acyclovir (Zovirax) 5 lần/ngày, giảm dần khi cải thiện. Kết hợp nhỏ thuốc kháng sinh 3 lần/ngày để phòng bội nhiễm. Không dùng corticosteroid về nguyên tắc.
  • Viêm bờ mi do Herpes (VZV, herpes zoster mắt): Dùng acyclovir hoặc valacyclovir hydrochloride đường toàn thân sớm từ khi khởi phát để cải thiện tổn thương.

Nhỏ cyclosporine A có hiệu quả hạn chế khi chỉ điều trị MGD đơn thuần, thường không được thực hiện4). Liệu pháp IPL (Intense Pulsed Light) có báo cáo cho thấy hiệu quả, nhưng cần kiểm tra tình trạng phê duyệt và bảo hiểm y tế trong nước trước khi cân nhắc tại cơ sở chuyên khoa4).

Q Hãy cho tôi biết cách chăm sóc mí mắt tại nhà.
A

Cơ bản bao gồm ba phương pháp: chườm ấm, massage mi mắt và vệ sinh mi mắt3)4). Đầu tiên, đặt một chiếc khăn sạch hoặc mặt nạ mắt nhiệt lên mi mắt, chườm 2 lần/ngày, mỗi lần ít nhất 5 phút. Tiếp theo, massage nhẹ nhàng mi mắt trên và dưới theo hướng thẳng đứng để kích thích tuyến Meibom tiết chất nhờn. Cuối cùng, dùng bông gòn thấm nước hoặc dung dịch tẩy trang chuyên dụng để lau sạch nhẹ nhàng vùng chân lông mi. Ngay cả sau khi giai đoạn cấp tính đã qua, việc duy trì hàng ngày vẫn rất quan trọng.

6. Sinh lý bệnh học và cơ chế bệnh sinh chi tiết

Phần tiêu đề “6. Sinh lý bệnh học và cơ chế bệnh sinh chi tiết”

Viêm bờ mi do tụ cầu liên quan đến sự kích thích trực tiếp bề mặt mắt bởi độc tố vi khuẩn và sự gia tăng miễn dịch tế bào đối với tụ cầu vàng. Ngoại độc tố của vi khuẩn gây tổn thương biểu mô điểm ở giác mạckết mạc lân cận. Lipase của vi khuẩn tác động lên lipid của tuyến Meibom tạo ra các axit béo tự do, gây viêm và dẫn đến tắc nghẽn tuyến nhiều hơn, hình thành một vòng luẩn quẩn.

Bản chất của MGD là sự tắc nghẽn của ống dẫn cuối của tuyến Meibom3). Cơ chế bệnh sinh chính của MGD giảm tiết là sự tăng sừng hóa biểu mô ống dẫn và teo nang tuyến4). Teo nang tuyến có thể là thứ phát sau tắc nghẽn tuyến Meibom hoặc nguyên phát do tổn thương tế bào tuyến do lão hóa, v.v.4). Sự tăng sừng hóa biểu mô ống dẫn và tăng độ nhớt của meibum làm tiến triển tắc nghẽn, dẫn đến mất tuyến, teo và giảm tiết.

Lớp lipid nước mắt bao gồm lớp không phân cực bên ngoài và lớp phân cực bên trong, góp phần ngăn bay hơi và làm mịn bề mặt quang học3). Sự giảm cung cấp lipid từ tuyến Meibom gây khô mắt tăng bay hơi và tăng áp suất thẩm thấu nước mắt, kích thích viêm và tổn thương biểu mô bề mặt mắt3). Sự thay đổi thành phần lớp lipid (tăng ceramide và cholesterol) đã được chứng minh là gây phá vỡ và mất ổn định màng lipid Meibom3).

Trong nhiễm Demodex, chất bài tiết và chất thải của ve gây tắc nghẽn vật lý nang lông và kích hoạt phản ứng quá mẫn của vật chủ1). Các cytokine gây viêm như IL-1β, IL-17 và mmp-9 được cảm ứng. Hơn nữa, D. folliculorum hoạt động như một vector cho các vi khuẩn như tụ cầu vàng, Acinetobacter baumannii, Streptococcus pneumoniae, có thể thúc đẩy bội nhiễm bề mặt mắt1). D. brevis đã được báo cáo là ẩn náu trong tuyến Meibom và biểu hiện các dấu hiệu giống MGD, và có những trường hợp khó chẩn đoán chỉ dựa trên biểu hiện bên ngoài5).

7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai

Phần tiêu đề “7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai”

Việc phát triển các phương pháp điều trị mới cho viêm bờ mi do Demodex đang được tiến hành tích cực trong những năm gần đây.

Lotilaner nhỏ mắt 0,25% (XDEMVY) là một hợp chất isoxazoline, ức chế thụ thể GABA và kênh clorua hoạt hóa glutamate của Demodex, gây liệt cứng1). Trong thử nghiệm lâm sàng pha 3 (thử nghiệm Saturn-2, 412 bệnh nhân), nhỏ mắt 2 lần/ngày trong 6 tuần đạt tỷ lệ biến mất collarettes 56%, tỷ lệ diệt ve 51,8%, tỷ lệ biến mất ban đỏ 31,1%1). 90,7% người tham gia báo cáo khả năng dung nạp tốt, tác dụng phụ nhẹ như cảm giác nóng rát và giảm thị lực nhẹ1). Thuốc đã được FDA Hoa Kỳ phê duyệt, nhưng dự kiến phê duyệt tại châu Âu vào khoảng năm 2027, thời điểm phê duyệt tại Nhật Bản chưa được xác định1).

Liệu pháp IPL (Intense Pulsed Light) chiếu ánh sáng băng rộng, bất động và tiêu diệt ve bằng tác động quang nhiệt1). Thí nghiệm in vitro cho thấy nhiệt độ của ve tăng lên khoảng 49°C và được xác nhận là đã chết. Sau 4 lần điều trị IPL, ghi nhận sự cải thiện đáng kể về OSDI, lớp lipid nước mắt, TBUT, bài tiết tuyến Meibomius và giảm số lượng ve1). Một số báo cáo cho thấy cải thiện nhanh hơn và rõ rệt hơn sau 1 tháng so với TTO đơn thuần. Cần xác nhận tình trạng phê duyệt và bảo hiểm trong nước trước khi xem xét chỉ định tại các cơ sở chuyên khoa4).

BlephEx (Blepharoexfoliation) là phương pháp loại bỏ cơ học các mảnh vụn, ve và collarettes ở bờ mi bằng microsponge quay1). Cũng được kỳ vọng có tác dụng phá vỡ màng sinh học vi khuẩn. Kết hợp với TTO cho thấy cải thiện đáng kể các thông số OSDI và số lượng ve, nhưng cần nghiên cứu thêm để xác nhận hiệu quả lâu dài1).

Việc tìm kiếm tinh dầu tự nhiên cũng đang tiến triển, với báo cáo rằng tinh dầu xô thơm tiêu diệt ve trong vòng 7 phút, tinh dầu bạc hà trong vòng 11 phút1). Tác dụng hiệp đồng của dầu thầu dầu, dầu cam bergamot và dầu hạt nigella cũng đang được nghiên cứu.

Czepińska-Myszura và cộng sự cho biết: “Trong số các phương pháp điều trị mới, chỉ có Lotilaner nhỏ mắt được chứng minh hiệu quả cao trong các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn; IPL và BlephEx chỉ được xác nhận trên các nhóm bệnh nhân hạn chế”1).

Lee và cộng sự đã phân tích 9 trường hợp viêm bờ mi do Demodex, báo cáo rằng tất cả đều là D. folliculorum, và các trường hợp ở trẻ em (5, 13, 14 tuổi) cũng biểu hiện viêm giác mạc nặng kèm loét giác mạctân mạch2). Nhiễm Demodex ở trẻ em dễ bị bỏ sót, và trong viêm giác mạc tái phát, cần phân biệt với Demodex2). Ngoài ra, Zhang và Liang đã báo cáo một trường hợp nam 46 tuổi có 15 con Demodex brevis chỉ trong meibum mà không có biểu hiện bên ngoài, cho thấy quan sát trực tiếp meibum sau khi lau bờ mi có thể hỗ trợ chẩn đoán trong các trường hợp khó trị5).

Q Lotilaner (XDEMVY) có thể sử dụng ở Nhật Bản không?
A

Tính đến năm 2025, dung dịch nhỏ mắt Lotilaner 0,25% (XDEMVY) đã được FDA Hoa Kỳ phê duyệt, nhưng chưa được phê duyệt tại Nhật Bản và châu Âu1). Dự kiến phê duyệt tại châu Âu vào khoảng năm 2027. Thời điểm phê duyệt tại Nhật Bản chưa được xác định, và hiện tại điều trị chủ yếu bằng TTO và thuốc chống ký sinh trùng.

  1. Czepińska-Myszura A, Kozioł MM, Rymgayłło-Jankowska B. Pharmacotherapy of Demodex-Associated Blepharitis: Current Trends and Future Perspectives. Pharmacy. 2025;13(5):148. doi:10.3390/pharmacy13050148. PMID:41149876; PMCID:PMC12567107.
  2. Lee YI, Seo M, Cho KJ. Demodex Blepharitis: An Analysis of Nine Patients. The Korean journal of parasitology. 2022;60(6):429-432. doi:10.3347/kjp.2022.60.6.429. PMID:36588421; PMCID:PMC9806504.
  3. Saama Sabeti, Ahmad Kheirkhah, Jia Yin, Reza Dana. Management of meibomian gland dysfunction: a review. Survey of Ophthalmology. 2020;65(2):205-217. doi:10.1016/j.survophthal.2019.08.007.
  4. マイボーム腺機能不全診療ガイドライン作成委員会. マイボーム腺機能不全診療ガイドライン. 日眼会誌. 2023;127(2):109-228.
  5. Zhang N, Liang L. Demodex in Meibum. Ophthalmology. 2024.

Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.