Viêm bờ mi là bệnh viêm nhiễm chủ yếu ở vùng bờ mi. Còn được gọi là ‘viêm bờ mi rìa (marginal blepharitis)’. Đây là một trong những bệnh phổ biến nhất trong nhãn khoa, xảy ra ở mọi lứa tuổi và chủng tộc. Thông thường bệnh không đe dọa trực tiếp đến thị lực, nhưng nếu nặng có thể gây tổn thương biểu mô giác mạc và tân mạch giác mạc.
Về mặt giải phẫu, được chia thành viêm bờ mi trước và viêm bờ mi sau. Viêm bờ mi trước là tình trạng viêm ở vùng chân lông mi về phía da, được phân loại thành viêm bờ mi do tụ cầu (loét) và viêm bờ mi tiết bã (bong vảy). Thể hỗn hợp kết hợp cả hai cũng thường gặp. Viêm bờ mi sau chủ yếu là viêm tuyến Meibomian, thường được xem là rối loạn chức năng tuyến Meibomian (MGD)3)4).
MGD được định nghĩa trong “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị rối loạn chức năng tuyến Meibomian 2023” của Tạp chí Nhãn khoa Nhật Bản là “tình trạng chức năng tuyến Meibomian bị rối loạn lan tỏa do nhiều nguyên nhân khác nhau, kèm theo khó chịu mắt mãn tính”4). MGD được phân loại lớn thành hai loại: loại giảm tiết và loại tăng tiết, trong đó loại giảm tiết chiếm đa số4).
Ngoài ra, viêm bờ mi do Demodex (Demodex folliculorum và Demodex brevis) liên quan đến sự ký sinh của trùng lông mi (Demodex) đang được chú ý như một trong các thể bệnh1). Khoảng 30% bệnh nhân viêm bờ mi mãn tính có sự ký sinh của Demodex và ở những ca khó điều trị, liệu pháp diệt ký sinh trùng có thể mang lại hiệu quả.
Một nghiên cứu dựa trên cộng đồng ở Nhật Bản trên đối tượng từ 6 đến 96 tuổi cho thấy tỷ lệ mắc MGD tăng rõ rệt theo độ tuổi4).
19 tuổi trở xuống: 0%
20–29 tuổi: 11,8%
30–39 tuổi: 5,6%
40–49 tuổi: 21,6%
50–59 tuổi: 32,8%
60–69 tuổi: 41,9%
70–79 tuổi: 48,4%
80 tuổi trở lên: 63,9%
Về khác biệt giới tính, có nhiều báo cáo cho thấy tỷ lệ mắc cao hơn ở nam giới và phụ nữ sau mãn kinh4). Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi cao, người châu Á, sống ở nông thôn, làm việc với thiết bị hiển thị, hút thuốc, đeo kính áp tròng mềm và sử dụng thuốc nhỏ mắt điều trị glôcôm lâu dài4). Tại Hoa Kỳ, 37–47% bệnh nhân khám mắt có dấu hiệu viêm bờ mi, trong đó thể tụ cầu khuẩn gặp ở độ tuổi tương đối trẻ (trung bình 42 tuổi) và phổ biến hơn ở nữ giới. Có báo cáo cho thấy viêm bờ mi liên quan đến Demodex xuất hiện ở hơn 80% người trên 60 tuổi và gần 100% người trên 70 tuổi1).
QViêm bờ mi và MGD là bệnh phổ biến như thế nào?
A
Trong các khảo sát trên người dân Nhật Bản, tỷ lệ mắc MGD khoảng 11,8% ở độ tuổi 20, 21,6% ở độ tuổi 40, 41,9% ở độ tuổi 60 và lên tới 63,9% ở độ tuổi 804). Tỷ lệ này tăng rõ rệt theo tuổi tác, với hơn một nửa người cao tuổi có một số dạng rối loạn chức năng tuyến Meibomius. Bệnh thường gặp hơn ở nam giới và phụ nữ sau mãn kinh4).
Ảnh chụp đèn khe của bệnh viêm bờ mi. Có thể thấy đỏ bờ mi, vảy da, giãn mạch máu nhỏ, bất thường tuyến Meibomius
Pyzia J, et al. Demodex Species and Culturable Microorganism Co-Infestations in Patients with Blepharitis. Life (Basel). 2023. Figure 2. PMCID: PMC10533081. License: CC BY.
(A) Rối loạn chức năng tuyến Meibomius, vảy sừng, viêm bờ mi nhẹ, (B) Rối loạn chức năng tuyến Meibomius, giãn mạch bờ mi, chảy nước mắt, (C) Tắc tuyến Meibomius, giãn mạch bờ mi, (D) Hình ảnh lâm sàng của viêm bờ mi do Demodex cho thấy tắc tuyến Meibomius. Tương ứng với phần «Rối loạn chức năng tuyến Meibomius» được đề cập trong mục «2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng».
Các triệu chứng chính của viêm bờ mi mãn tính là cảm giác nóng rát, cảm giác dị vật và ngứa ở mi mắt. Đôi khi kèm theo xung huyết, chảy nước mắt, tiết tố, nhìn mờ và sợ ánh sáng. Các triệu chứng thường nặng hơn vào buổi sáng và có đặc điểm là tái phát và thuyên giảm xen kẽ. Trong viêm bờ mi do tụ cầu, người bệnh thường cảm thấy nóng rát dữ dội và đỏ bờ mi. Trong khi đó, viêm bờ mi tiết bã thường khởi phát với cảm giác nóng rát mãn tính tương đối nhẹ và cảm giác dị vật.
Trong MGD, các triệu chứng đặc trưng là khó chịu ở mắt, cảm giác căng tức, khô, mệt mỏi và cảm giác bất thường được mô tả là «cảm giác dính dính»4). Rất khó để chẩn đoán phân biệt chỉ dựa trên triệu chứng chủ quan; cần phải đánh giá tổng hợp với các dấu hiệu quan sát được qua đèn khe4).
Viêm bờ mi do Demodex có đặc điểm là ngứa dữ dội từ đêm đến sáng sớm, với 80% bệnh nhân cảm thấy ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày, 47% khó lái xe ban đêm và 34% phàn nàn về việc phải hạn chế đeo kính áp tròng hoặc trang điểm1).
Quan sát bằng kính hiển vi đèn khe, đặc biệt khi kết hợp với bộ khuếch tán, là phương pháp cơ bản. Các dấu hiệu theo từng thể bệnh được tổng hợp dưới đây.
Viêm bờ mi trước
Viêm bờ mi do tụ cầu (viêm nang lông mi): Đỏ hai bên bờ mi, sẩn nhỏ, mụn mủ nhỏ, loét nhỏ, đóng vảy. Các collarettes (vòng tròn fibrin) quanh chân lông mi là dấu hiệu đặc trưng. Trường hợp nặng, nang lông bị phá hủy gây rụng lông mi (madarosis) và lông mi mọc lộn, kèm viêm kết mạc mạn tính và tổn thương biểu mô chấm giác mạc-kết mạc.
Viêm bờ mi tăng tiết bã: Đỏ và phù nhẹ hơn thể tụ cầu, nhưng có sung huyết quanh bờ mi và vảy nhờn dễ bong. Nhiều lông mi dính thành chùm gọi là “lông mi tăng tiết bã” là dấu hiệu đặc trưng. Nang lông không bị phá hủy nên lông mi có thể mọc lại.
Viêm bờ mi sau (MGD)
Dấu hiệu tại lỗ tuyến: Tắc lỗ tuyến Meibomius (plugging, pouting, ridge), rối loạn sắp xếp, di lệch đường niêm mạc-da theo chiều trước-sau, bờ mi không đều, giãn mạch bờ mi4). Khi ép mi, có dịch màu vàng hoặc chất đông đặc thoát ra.
Dấu hiệu kèm theo: Ở thể tăng tiết bã, hình thành bọt Meibomius ở bờ mi dưới. Trường hợp nặng kèm dày mi và tăng sản nhú kết mạc mi. Giảm lớp lipid nước mắt gây khô mắt tăng bay hơi, dễ kèm viêm giác mạc nông lan tỏa3)4).
Viêm bờ mi do Demodex
Dấu hiệu bệnh lý: Vảy trụ (cylindrical dandruff) ở chân lông mi là dấu hiệu có giá trị bệnh lý cao, tương tự collarettes là gợi ý chẩn đoán1)2). Kèm sung huyết kết mạc, đỏ-phù-giãn mạch bờ mi, rụng lông mi quá mức.
Thể đặc biệt: Demodex brevis ẩn trong tuyến Meibomius, có thể không phát hiện được khi nhổ lông mi xét nghiệm. Một số ca được phát hiện bằng cách ép meibum sau khi lau bờ mi và soi trực tiếp dưới kính hiển vi5). Ở trẻ em đã ghi nhận viêm giác mạc nặng kèm loét và tân mạch giác mạc; cần phân biệt Demodex trong viêm giác mạc kháng trị2).
Trong thực hành lâm sàng tại Nhật Bản, phân loại Shimazaki đánh giá đặc điểm của meibum bằng cách ấn vừa phải vào phần giữa mi trên được sử dụng rộng rãi.
độ 0: Meibum trong suốt dễ dàng thoát ra khi ấn nhẹ (bình thường)
độ 1: Meibum đục thoát ra khi ấn nhẹ
độ 2: Meibum đục thoát ra khi ấn vừa hoặc mạnh hơn
độ 3: Không có meibum thoát ra ngay cả khi ấn mạnh
Từ độ 2 trở lên được coi là bất thường và được sử dụng để xác định “giảm tiết meibum” trong tiêu chuẩn chẩn đoán MGD4).
QCollarettes là gì?
A
Collarettes là các vảy (mảng bám giống gàu) hình thành xung quanh gốc lông mi. Trong viêm bờ mi do tụ cầu, fibrin hình thành tại các vùng loét ở bờ mi được nâng lên khi lông mi phát triển. Trong viêm bờ mi do Demodex, chúng được gọi là gàu hình trụ (cylindrical dandruff) và là dấu hiệu có giá trị chẩn đoán cao1)2).
Căn nguyên của viêm bờ mi là đa yếu tố, với các nguyên nhân chính khác nhau tùy theo loại bệnh.
Viêm bờ mi do tụ cầu liên quan đến sự phát triển của tụ cầu trên bề mặt nhãn cầu. 46–51% bệnh nhân có cấy dương tính với Staphylococcus aureus, cao hơn đáng kể so với 8% ở người khỏe mạnh. Ngoại độc tố của vi khuẩn gây tổn thương biểu mô chấm ở giác mạc và kết mạc lân cận. Moraxella là nguyên nhân quan trọng gây viêm bờ mi góc.
Viêm bờ mi tiết bã thường đi kèm với viêm da tiết bã, với báo cáo cho thấy 95% bệnh nhân có viêm da tiết bã. Viêm da do rosacea được báo cáo ở 20–42% bệnh nhân viêm bờ mi và được công nhận là một nguyên nhân quan trọng của viêm bờ mi.
Cơ chế hình thành MGD được Hướng dẫn Thực hành Lâm sàng MGD Nhật Bản 2023 tổng hợp như sau4). Bệnh lý chính của MGD thể giảm tiết là tăng sừng hóa biểu mô ống dẫn tuyến Meibomius và teo nang tuyến. Teo nang tuyến không chỉ là thứ phát do tắc nghẽn mà còn có thể do tổn thương nguyên phát của tế bào tuyến do lão hóa.
Các yếu tố nguy cơ của MGD (Hướng dẫn BQ-5, BQ-6)4):
Tuổi tác: Được nhiều nghiên cứu ủng hộ mạnh mẽ
Giới tính: Phổ biến hơn ở nam giới và phụ nữ sau mãn kinh
Yếu tố tại mắt: Người gốc Á, làm việc với thiết bị hiển thị, đeo kính áp tròng mềm, sử dụng lâu dài thuốc nhỏ mắt điều trị glôcôm, tiền sử phẫu thuật mắt
Yếu tố lối sống: Hút thuốc lá, sống ở nông thôn
Bệnh toàn thân: Đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipid, tăng huyết áp, cường giáp
Bệnh kèm viêm bề mặt nhãn cầu: Rosacea, Hội chứng Sjögren, Hội chứng Stevens-Johnson, Bệnh ghép chống chủ (GVHD)
Yếu tố nội tiết tố: Mãn kinh, giảm androgen
Demodex (Demodex folliculorum và Demodex brevis) ký sinh ở tuyến bã nhờn, nang lông và tuyến Meibomius. Chất thải và chất tiết của chúng gây tắc nang lông và viêm1). Các cytokine gây viêm như IL-1β và IL-17 cùng với mmp-9 được kích hoạt. Demodex cũng đóng vai trò là vector cho các vi khuẩn như Staphylococcus aureus, Acinetobacter baumannii, Streptococcus pneumoniae, có thể thúc đẩy bội nhiễm bề mặt nhãn cầu1).
Mối liên quan với khô mắt cũng rất quan trọng. 50% bệnh nhân viêm bờ mi do tụ cầu có khô mắt. Trong MGD, thiếu lớp lipid nước mắt dẫn đến tăng bay hơi, tỷ lệ mắc kèm khô mắt lên tới 25–40%3). MGD và khô mắt có mối quan hệ tương hỗ làm nặng thêm lẫn nhau.
QKhô mắt và viêm bờ mi có liên quan với nhau như thế nào?
A
Hai bệnh này có liên quan chặt chẽ với nhau. Sự suy giảm chất lượng và số lượng của lớp dầu nước mắt do MGD là nguyên nhân chính của khô mắt thể bay hơi 3). Mặt khác, sự suy giảm lysozyme và immunoglobulin do giảm nước mắt tạo điều kiện cho viêm bờ mi do tụ cầu phát triển. Do đó, cần điều trị viêm bờ mi và khô mắt đồng thời.
Chẩn đoán dựa trên tiền sử bệnh và khám bằng đèn khe. Xác định khởi phát cấp tính hay mạn tính, hai mắt hay một mắt, có đau hay không. Hỏi về bệnh toàn thân (hội chứng Sjögren, rosacea, đái tháo đường, viêm da dị ứng, bệnh tuyến giáp, viêm xoang), tiền sử dị ứng, tiền sử sử dụng mỹ phẩm và thuốc nhỏ mắt, đeo kính áp tròng, và hút thuốc.
Quan sát và sờ nắn đánh giá tình trạng đỏ, sưng (lan tỏa hay khu trú), đau khi ấn, và chàm. Sưng khu trú một bên và đau khi ấn gợi ý lẹo mắt hoặc chắp cấp tính. Sưng lan tỏa hai bên và đau khi ấn gợi ý áp xe mi hoặc viêm mô tế bào ổ mắt.
Chẩn đoán MGD thể giảm tiết dựa trên cả 3 tiêu chí sau đều dương tính4).
Tiêu chí chẩn đoán
Tiêu chuẩn dương tính
Triệu chứng chủ quan
Có các triệu chứng như khó chịu ở mắt, cảm giác dị vật, cảm giác căng tức
Dấu hiệu quanh lỗ tuyến
Có ít nhất 1 trong các dấu hiệu: giãn mạch, di lệch đường viền niêm da, bờ mi không đều
Dấu hiệu tắc lỗ tuyến
Dấu hiệu tắc nghẽn như plugging và phân độ Shimazaki từ grade 2 trở lên
Tiêu chuẩn chẩn đoán này do nhóm công tác MGD đề xuất năm 2010 được sử dụng rộng rãi, nhưng hiện vẫn chưa có tiêu chuẩn chẩn đoán thống nhất quốc tế4).
Xét nghiệm bổ trợ (Hướng dẫn thực hành MGD 2023 CQ)
Meibography (hồng ngoại): Quan sát không xâm lấn hình thái tuyến meibomian. Có thể định lượng diện tích dropout, tuyến ngắn lại, giãn nở, được khuyến cáo trong chẩn đoán MGD4)
Thời gian vỡ màng phim nước mắt (TBUT): Thường ngắn ở MGD, nhưng không phải là xét nghiệm đặc hiệu4)
Quan sát meibum bằng đèn khe: Khuyến cáo thực hiện4)
Nhuộm fluorescein: Đa năng nhất trong đánh giá tổn thương biểu mô giác mạc và kết mạc4)
Đo áp suất thẩm thấu nước mắt: Hữu ích trong chẩn đoán khô mắt kèm theo, được báo cáo có độ nhạy 59% và độ đặc hiệu 94% ở ngưỡng ≥ 316 mOsm/L
Khám nghiệm kính hiển vi lông mi nhổ là phương pháp cơ bản. Lee và cộng sự đã nhổ 4 lông mi từ mỗi mí mắt trên và dưới, sau đó xác định D. folliculorum trưởng thành và ấu trùng dưới kính hiển vi quang học2). Tuy nhiên, D. brevis ẩn náu trong tuyến Meibomius nên đôi khi không được phát hiện bằng phương pháp nhổ lông mi. Zhang và Liang đã báo cáo phát hiện 15 con D. brevis bằng cách nặn meibum sau khi xử lý kháng khuẩn bờ mi và quan sát dưới kính hiển vi, cho thấy viêm bờ mi do Demodex có thể tồn tại chỉ với D. brevis trong meibum mà không có biểu hiện bên ngoài5).
Đối với viêm bờ mi trước nặng tái phát hoặc các trường hợp kháng điều trị, chỉ định nuôi cấy vi khuẩn bờ mi (Staphylococcus · Moraxella). Trường hợp bất đối xứng rõ rệt, tổn thương dạng chắp một bên khó điều trị, hoặc ở bệnh nhân trung niên đến cao tuổi, cần xem xét sinh thiết mí mắt để loại trừ ung thư biểu mô tuyến bã. Ung thư biểu mô tuyến bã được biết đến là có thể ngụy trang dưới dạng viêm bờ mi khó điều trị hoặc tổn thương dạng chắp.
Chẩn đoán phân biệt bao gồm: chắp (chalazion), áp xe mí mắt, viêm mô tế bào hốc mắt, viêm bờ mi do Herpes (VZV · HSV), viêm bờ mi dị ứng, viêm da mí mắt (tiếp xúc · do thuốc · cơ địa), viêm bờ mi dạng chàm, ung thư biểu mô tuyến bã, v.v.
Viêm bờ mi là bệnh mạn tính, nguyên tắc điều trị cơ bản là kiểm soát triệu chứng và dấu hiệu viêm. Không có bằng chứng mạnh mẽ về việc chữa khỏi hoàn toàn, cần quản lý lâu dài. Phương pháp điều trị dựa trên Hướng dẫn thực hành lâm sàng MGD Nhật Bản 20234) làm trụ cột chính.
Lựa chọn đầu tiên: Chăm sóc mí mắt (chườm ấm · vệ sinh bờ mi · nặn meibum)
Chườm ấm được ghi nhận trong Hướng dẫn điều trị MGD 2023 là “khuyến cáo mạnh” nên thực hiện4). Nâng nhiệt độ mi lên đến điểm nóng chảy của meibum để làm tan meibum, thúc đẩy bài tiết, đồng thời cải thiện lưu thông máu ở mi. Sử dụng mặt nạ mắt nhiệt bán sẵn, hướng dẫn thực hiện tại nhà 2 lần/ngày, ít nhất 5 phút. Khăn ấm tiện lợi nhưng khó điều chỉnh nhiệt độ, khi ướt sẽ bị mất nhiệt do bay hơi nên chỉ là lựa chọn thứ hai.
Vệ sinh bờ mi (lid hygiene) được khuyến cáo “yếu” trong cùng hướng dẫn này4). Sử dụng bông gòn thấm nước hoặc dung dịch làm sạch bán sẵn (như dung dịch dầu gội em bé pha loãng), dùng tăm bông lau sạch đúng cách gốc lông mi. Có thể cải thiện triệu chứng chủ quan, dấu hiệu lỗ tuyến meibomian, meibum grade, TBUT và tổn thương biểu mô giác mạc-kết mạc. Cần lưu ý rằng tùy loại dung dịch làm sạch có thể gây tác dụng bất lợi4).
Nặn meibum có hiệu quả trong MGD tắc nghẽn và được khuyến cáo yếu4). Tại phòng khám, sử dụng dụng cụ chuyên dụng như kẹp nặn tuyến meibomian Arita (hãng Inami), thực hiện với khoảng cách 10 ngày đến 1 tháng. Nút tắc lớn có thể được loại bỏ bằng kẹp hoặc kim tiêm sau khi nhỏ thuốc tê.
Thuốc kháng khuẩn tại chỗ: Đối với viêm do tụ cầu, bôi thuốc mỡ bacitracin hoặc erythromycin lên bờ mi trước khi đi ngủ. Sử dụng trong 2〜8 tuần. Nhỏ mắt azithromycin hydrat cải thiện triệu chứng chủ quan, dấu hiệu lỗ tuyến và meibum grade trong MGD, được khuyến cáo yếu trong hướng dẫn4).
Thuốc kháng sinh đường uống: Tetracycline và macrolide được sử dụng nhằm mục đích chống viêm và điều chỉnh lipid. Giảm dần tetracycline từ 1.000 mg/ngày xuống 250 mg/ngày, Giảm dần minocycline hydrochloride từ 200 mg/ngày xuống 100 mg/ngày, Doxycycline 100 mg uống 2 lần/ngày, giảm dần trong 3–4 tháng, Kết hợp macrolide như clarithromycin được thực hiện. Các thuốc này được cho là có tác dụng thông qua ức chế hoạt động enzyme do vi khuẩn sản xuất và ức chế hình thành màng sinh học.
Corticosteroid tại chỗ: Sử dụng ngắn hạn fluorometholone 0,1% khi viêm nặng. Theo hướng dẫn MGD, kết hợp với vệ sinh mi mắt và chườm ấm giúp cải thiện triệu chứng, TBUT, dấu hiệu bờ mi và chất lượng meibum, được khuyến cáo yếu4). Tại Nhật Bản, chỉ được bảo hiểm chi trả khi có kèm viêm bờ mi4).
Nước mắt nhân tạo và thuốc nhỏ hỗ trợ: Sử dụng hỗ trợ trong trường hợp khô mắt do bay hơi tăng hoặc giảm tiết nước mắt. Nếu sử dụng từ 4 lần/ngày trở lên, chọn chế phẩm không chứa chất bảo quản. Thuốc nhỏ diquafosol sodium cho MGD đơn thuần không được bảo hiểm chi trả, và hướng dẫn khuyến cáo yếu không sử dụng cho MGD đơn thuần4).
Điều trị viêm bờ mi do Demodex
Dầu cây trà (TTO): Thành phần chính terpinen-4-ol (T4O) có tác dụng ức chế acetylcholinesterase, phát huy hiệu quả diệt ve1). Được sử dụng ở nồng độ 5–50%. Có báo cáo cho thấy vệ sinh bờ mi bằng TTO 50% mỗi tuần một lần kết hợp vệ sinh hàng ngày bằng PHMB 0,4% trong 6 tuần cải thiện toàn bộ các trường hợp2).
Thuốc kháng ký sinh trùng đường uống và bôi ngoài da: Phối hợp ivermectin (tác động lên thụ thể GABA của ký sinh trùng, gây liệt) và metronidazole (gây tổn thương DNA qua gốc nitro) được cho là hiệu quả nhất1). Cả đường uống và bôi ngoài da đều được xem xét.
Khử khuẩn cơ học:Kết hợp vệ sinh bờ mi và chườm ấm, duy trì chăm sóc mí mắt hàng ngày.
Liệu pháp bổ trợ:Trong trường hợp khô mắt kèm theo, bổ sung nước mắt nhân tạo.
Cơ chế tác dụng của các thuốc đối với Demodex được so sánh dưới đây.
Phương pháp điều trị
Cơ chế tác dụng
Ghi chú
TTO
Ức chế AChE1)
Có sẵn rộng rãi
Ivermectin
Ức chế thụ thể GABA1)
Tăng cường hiệu quả khi kết hợp với metronidazol1)
Viêm góc mi mắt: Nhỏ thuốc kháng sinh nhạy cảm với tụ cầu khuẩn và thuốc mỡ tra mắt.
Viêm mi mắt do Herpes (HSV): Bắt đầu với thuốc mỡ acyclovir (Zovirax) 5 lần/ngày, giảm dần khi cải thiện. Kết hợp nhỏ kháng sinh 3 lần/ngày để ngừa bội nhiễm. Không dùng kèm steroid về nguyên tắc.
Viêm mi do Herpes (VZV・Herpes zoster mắt): Dùng acyclovir hoặc valacyclovir hydrochloride đường toàn thân sớm từ đầu sẽ giúp cải thiện tổn thương nhanh chóng.
Hướng dẫn MGD khuyến cáo yếu không sử dụng cyclosporin A nhỏ mắt vì hiệu quả hạn chế4). Điều trị IPL (Intense Pulsed Light) được khuyến cáo mạnh dựa trên bằng chứng, nhưng tại Nhật Bản chưa được phê duyệt là thiết bị y tế và không có bảo hiểm chi trả, do đó ở giai đoạn hiện tại chỉ là khuyến cáo yếu4).
QHãy cho tôi biết cách chăm sóc mi mắt tại nhà.
A
Cơ bản gồm 3 phương pháp: chườm ấm, massage mi mắt và lau sạch mi mắt3)4). Đầu tiên, đặt khăn sạch hoặc mặt nạ mắt ấm lên mi mắt, ngày 2 lần, mỗi lần 5 phút. Tiếp theo, massage nhẹ nhàng mi trên và mi dưới theo chiều dọc để kích thích tuyến Meibomius tiết dầu. Cuối cùng, dùng bông gòn thấm nước hoặc nước tẩy trang chuyên dụng lau sạch chân lông mi. Sau khi giai đoạn cấp tính qua đi, việc duy trì hàng ngày vẫn rất quan trọng.
Viêm bờ mi do tụ cầu phát sinh liên quan đến sự kích thích trực tiếp bề mặt nhãn cầu bởi độc tố vi khuẩn và sự gia tăng miễn dịch tế bào đối với tụ cầu vàng. Ngoại độc tố của vi khuẩn gây tổn thương biểu mô dạng chấm trên giác mạc và kết mạc lân cận. Lipase của vi khuẩn tác động lên lipid tuyến Meibomius tạo ra các acid béo tự do, gây viêm và dẫn đến tắc nghẽn tuyến nhiều hơn, hình thành vòng xoắn bệnh lý.
Bản chất của MGD là sự tắc nghẽn ống dẫn cuối của tuyến Meibomius3). Hướng dẫn điều trị MGD Nhật Bản nêu rõ: “Cơ chế bệnh lý chính của suy giảm chức năng tuyến Meibomius thể giảm tiết là sự tăng sừng hóa biểu mô ống dẫn và teo nang tuyến”4). Teo nang tuyến có thể là thứ phát sau tắc nghẽn tuyến Meibomius hoặc do tổn thương nguyên phát của tế bào tuyến do lão hóa và các yếu tố khác4). Tăng sừng hóa biểu mô ống dẫn và tăng độ nhớt của meibum làm tiến triển tắc nghẽn, dẫn đến mất tuyến, teo và giảm tiết.
Lớp lipid nước mắt bao gồm lớp không phân cực bên ngoài và lớp phân cực bên trong, góp phần ngăn ngừa bay hơi và làm phẳng bề mặt quang học3). Giảm cung cấp lipid từ tuyến Meibomius gây khô mắt thể bay hơi tăng và tăng áp suất thẩm thấu nước mắt, kích thích viêm và tổn thương biểu mô bề mặt nhãn cầu3). Sự thay đổi thành phần lớp lipid (tăng ceramide và cholesterol) đã được chứng minh gây phá hủy và mất ổn định màng lipid Meibomius3).
Trong nhiễm Demodex, chất bài tiết và chất thải của ve gây tắc nghẽn vật lý nang lông, đồng thời kích hoạt phản ứng quá mẫn của vật chủ1). Các cytokine viêm như IL-1β, IL-17 và mmp-9 được cảm ứng. Hơn nữa, D. folliculorum được báo cáo có khả năng hoạt động như vector cho vi khuẩn như Staphylococcus aureus, Acinetobacter baumannii, Streptococcus pneumoniae, có thể thúc đẩy bội nhiễm trên bề mặt mắt1). D. brevis được báo cáo ẩn trong tuyến Meibomius và biểu hiện các dấu hiệu giống MGD, tồn tại các trường hợp khó chẩn đoán chỉ dựa trên quan sát bên ngoài5).
Việc phát triển các phương pháp điều trị mới cho viêm bờ mi liên quan đến Demodex đang được tiến hành tích cực trong những năm gần đây.
Lotilaner dung dịch nhỏ mắt 0,25% (XDEMVY) là hợp chất isoxazoline, ức chế thụ thể GABA và kênh clorua hoạt hóa glutamate của Demodex, gây liệt co cứng1). Trong thử nghiệm lâm sàng pha 3 (Thử nghiệm Saturn-2, 412 bệnh nhân), nhỏ mắt 2 lần/ngày trong 6 tuần đạt tỷ lệ biến mất collarettes 56%, tỷ lệ diệt ve 51,8%, tỷ lệ biến mất ban đỏ 31,1%1). 90,7% người tham gia báo cáo dung nạp tốt, tác dụng phụ nhẹ như cảm giác nóng rát và giảm thị lực nhẹ1). Đã được FDA Hoa Kỳ phê duyệt, phê duyệt tại châu Âu dự kiến vào khoảng năm 2027, thời điểm phê duyệt tại Nhật Bản chưa được xác định1).
Liệu pháp IPL (Intense Pulsed Light) chiếu ánh sáng băng rộng, bất động và tiêu diệt ve bằng tác dụng quang nhiệt phân1). Trong thí nghiệm in vitro, nhiệt độ của ve tăng lên khoảng 49°C và được xác nhận đã bị tiêu diệt. Sau 4 lần điều trị IPL, OSDI, lớp lipid nước mắt, TBUT, bài tiết tuyến Meibomius cải thiện đáng kể và số lượng ve giảm đã được báo cáo1). Một số báo cáo cho thấy sự cải thiện sau 1 tháng nhanh hơn và rõ rệt hơn so với TTO đơn thuần. Trong Hướng dẫn thực hành lâm sàng về MGD của Nhật Bản, IPL được khuyến cáo mạnh về mặt bằng chứng, nhưng vì chưa được phê duyệt là thiết bị y tế tại Nhật Bản và không được bảo hiểm chi trả, nên chỉ được khuyến cáo yếu4).
BlepharExfoliation (BlephEx) là phương pháp loại bỏ cơ học các mảnh vụn, ve và collarettes trên bờ mi bằng microsponge xoay1). Phương pháp này cũng được kỳ vọng có tác dụng phá vỡ màng sinh học vi khuẩn. Sự cải thiện đáng kể về các thông số OSDI và số lượng ve đã được báo cáo khi kết hợp với TTO, nhưng cần nghiên cứu thêm để xác nhận hiệu quả lâu dài1).
Việc tìm kiếm tinh dầu tự nhiên cũng đang tiến triển, với báo cáo cho thấy dầu xô thơm tiêu diệt ve trong vòng 7 phút và dầu bạc hà trong vòng 11 phút1). Tác dụng hiệp đồng của dầu thầu dầu, dầu bergamot và dầu hạt nigella cũng đang được nghiên cứu.
Czepińska-Myszura và cộng sự cho biết: “Trong số các phương pháp điều trị mới, chỉ có thuốc nhỏ mắt Lotilaner là đã được chứng minh hiệu quả cao trong các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn; IPL và BlepharExfoliation mới chỉ được thử nghiệm trên các nhóm bệnh nhân hạn chế”1).
Lee và cộng sự đã phân tích 9 trường hợp viêm bờ mi do Demodex và báo cáo rằng tất cả các trường hợp đều do D. folliculorum gây ra. Các bệnh nhi (5, 13 và 14 tuổi) cũng biểu hiện viêm giác mạc nặng kèm loét giác mạc và tân mạch2). Nhiễm Demodex ở trẻ em dễ bị bỏ sót; do đó, trong các trường hợp viêm giác mạc tái phát, cần chẩn đoán phân biệt với Demodex2). Ngoài ra, Zhang và Liang đã báo cáo một trường hợp nam 46 tuổi có 15 con Demodex brevis chỉ trong meibum mà không có biểu hiện bên ngoài, cho thấy việc quan sát trực tiếp meibum sau khi vệ sinh bờ mi góp phần chẩn đoán ở các ca khó trị5).
QLotilaner (XDEMVY) có thể được sử dụng tại Nhật Bản không?
A
Tính đến năm 2025, dung dịch nhỏ mắt Lotilaner 0,25% (XDEMVY) đã được FDA Hoa Kỳ phê duyệt nhưng chưa được phê duyệt tại Nhật Bản và châu Âu1). Tại châu Âu, dự kiến phê duyệt vào khoảng năm 2027. Thời điểm phê duyệt tại Nhật Bản vẫn chưa được xác định, và hiện tại phương pháp điều trị chủ yếu là TTO và thuốc chống ký sinh trùng.
Czepińska-Myszura A, Kozioł MM, Rymgayłło-Jankowska B. Pharmacotherapy of Demodex-Associated Blepharitis: Current Trends and Future Perspectives. Pharmacy. 2025;13(5):148.
Lee YI, Seo M, Cho KJ. Demodex Blepharitis: An Analysis of Nine Patients. Korean J Parasitol. 2022;60(6):429-432.
Sabeti S, Kheirkhah A, Yin J, Dana R. Management of Meibomian Gland Dysfunction: a Review. Surv Ophthalmol. 2020;65(2):205-217.