Rối loạn chức năng tuyến Meibom (MGD: Meibomian Gland Dysfunction) là tình trạng rối loạn chức năng mãn tính, lan tỏa của tuyến Meibom. Nhóm công tác MGD của Nhật Bản (2010) định nghĩa đây là “tình trạng chức năng tuyến Meibom bị rối loạn lan tỏa do nhiều nguyên nhân khác nhau, kèm theo cảm giác khó chịu mãn tính”4). Trong những năm gần đây, MGD được xem là nguyên nhân chính của khô mắt tăng bay hơi, và các hướng dẫn lâm sàng toàn diện về chẩn đoán, xét nghiệm và điều trị đã được công bố3).
Trên thế giới, Hội thảo quốc tế về rối loạn chức năng tuyến Meibom (IWMGD 2011) định nghĩa đây là “rối loạn lan tỏa mạn tính đặc trưng bởi tắc nghẽn ống dẫn cuối và/hoặc thay đổi về chất và lượng của chất tiết tuyến”1), 10). TFOS DEWS III (2025) cũng coi MGD là yếu tố đóng góp chính cho khô mắt, và các phương pháp điều trị như chườm ấm, vệ sinh mi mắt, IPL, laser mức thấp được đưa vào thuật toán quản lý8). Tại Nhật Bản, Hội nghiên cứu khô mắt đã xây dựng “Hướng dẫn thực hành lâm sàng khô mắt” (2019), nhấn mạnh MGD là nguyên nhân của khô mắt do tăng bay hơi9).
Tuyến Meibom là một loại tuyến bã nhờn lớn nằm trong sụn mi. Quan sát bằng máy chụp ảnh tuyến Meibom không tiếp xúc, mắt bình thường có 25–30 tuyến ở mi trên và 15–20 tuyến ở mi dưới5). Mỗi tuyến có nhiều tiểu thùy (acinus) phân nhánh từ ống dẫn trung tâm, và các tế bào biểu mô tiểu thùy (meibocyte) sản xuất meibum theo kiểu bài tiết toàn bộ (holocrine secretion). Meibum chứa hơn 100 loại lipid (chủ yếu là wax ester, cholesterol ester, phospholipid phân cực, sphingolipid) và hơn 90 loại protein, tạo thành lớp lipid ngoài cùng của màng phim nước mắt, ngăn chặn sự bay hơi của lớp nước và giảm sức căng bề mặt để duy trì sự trải rộng của màng phim nước mắt1). Độ dày lớp lipid (LLT) bình thường là 60–100 nm và bị mỏng đi trong MGD1).
Một nghiên cứu dựa trên dân số tại Nhật Bản (đối tượng từ 6–96 tuổi) cho thấy tỷ lệ mắc MGD theo độ tuổi như sau3):
Độ tuổi
Tỷ lệ mắc MGD
≤19 tuổi
0%
20–29 tuổi
11,8%
30–39 tuổi
5,6%
40–49 tuổi
21,6%
50–59 tuổi
32,8%
60 tuổi
41,9%
70 tuổi
48,4%
80 tuổi
63,9%
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng MGD gia tăng và trở nên trầm trọng hơn theo tuổi tác. Về giới tính, bệnh thường gặp ở nam giới và phụ nữ sau mãn kinh3). Nghiên cứu sử dụng phương pháp chụp ảnh tuyến meibomian không tiếp xúc của Arita và cộng sự đã báo cáo rằng khoảng 86% bệnh nhân khô mắt có kèm MGD5). Sự khác biệt về chủng tộc cũng được ghi nhận, với tỷ lệ mắc bệnh ở người châu Á cao hơn (3,5–19,9%) so với người da trắng1). Tại Nhật Bản, theo ước tính của Hội nghiên cứu khô mắt, có hàng chục triệu bệnh nhân, bao gồm cả những người chưa được chẩn đoán, và đây là một trong những bệnh mãn tính thường gặp nhất trong thực hành lâm sàng hàng ngày3).
Về mặt lâm sàng, thể giảm tiết chiếm đa số, trong đó MGD tắc nghẽn (oMGD: obstructive MGD) là phổ biến nhất. Cơ chế bệnh chính của MGD giảm tiết được tóm tắt là “tăng sừng hóa biểu mô ống dẫn và teo nang tuyến” 3). MGD teo là tình trạng các nang tuyến bị teo lan tỏa, với hai cơ chế được đề xuất là thứ phát sau tắc nghẽn và tổn thương tế bào tuyến nguyên phát.
Thể tăng tiết MGD bao gồm viêm tuyến Meibomian tăng tiết bã (seborrheic MGD: sMGD), và cũng được nhận biết khi so sánh với viêm tuyến Meibomian tắc nghẽn. Khi ấn nhẹ vào phần sụn mi trên, người bình thường sẽ tiết ra meibum trong suốt, nhưng ở MGD tăng tiết bã, sự tiết ra tăng bất thường, và có thể thấy bọt hình thành trong nước mắt dọc theo bờ mi dưới. Các bệnh liên quan bao gồm viêm bờ mi sau, viêm tuyến Meibomian, và bệnh biểu mô giác mạckết mạc liên quan đến viêm tuyến Meibomian (meibomitis-related keratoconjunctivitis: MRKC), và việc phân loại các khái niệm này rất quan trọng 3).
Trên thế giới, IWMGD 2011 phân loại theo khuôn khổ thể giảm tiết (low-delivery) và thể tăng tiết (high-delivery), trong đó thể tắc nghẽn là phổ biến nhất trong thể giảm tiết 1).
QMGD và khô mắt có liên quan như thế nào?
A
MGD là nguyên nhân phổ biến nhất của khô mắt do tăng bay hơi. Khi chức năng tuyến Meibomian suy giảm làm lớp lipid nước mắt mỏng đi, sự bay hơi nước mắt tăng lên, áp suất thẩm thấu nước mắt tăng và gây viêm bề mặt nhãn cầu. MGD có thể dẫn đến khô mắt và gây khó chịu mãn tính ở mắt.
Li B, et al. Comparison of the therapeutic effect of Meibomian Thermal Pulsation LipiFlow® on obstructive and hyposecretory meibomian gland dysfunction patients. Int Ophthalmol. 2020. Figure 1. PMCID: PMC7669766. License: CC BY.
Hình ảnh chụp tuyến Meibomian (meibography) của mi trên và mi dưới cho thấy các tuyến Meibomian bị uốn cong, sắp xếp không đều và mất một phần tuyến. Hình ảnh trực tiếp cho thấy các bất thường hình thái đặc trưng của MGD, phù hợp để mô tả các dấu hiệu lâm sàng chính.
Cảm giác dính nhớp, thường được mô tả là “cảm giác dính dính”, cũng là đặc trưng4). Triệu chứng thường nặng hơn vào buổi sáng, đôi khi bệnh nhân phàn nàn về sự thay đổi thị lực. Tuy nhiên, hiện tại chưa xác định được triệu chứng chủ quan đặc hiệu nào để phân biệt MGD với các bệnh bề mặt nhãn cầu khác3). Để đánh giá triệu chứng chủ quan, bảng câu hỏi OSDI (Ocular Surface Disease Index) được sử dụng rộng rãi. Triệu chứng MGD ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống, không chỉ gây kích ứng mắt mà còn làm giảm thị lực, do đó cần đánh giá một cách có hệ thống mức độ ảnh hưởng đến sinh hoạt1).
Di lệch đường nối niêm mạc-da (MCJ): lệch về phía trước hoặc phía sau. Dễ quan sát khi nhuộm fluorescein.
Bờ mi không đều: đường tiếp xúc với giác mạc không đều, lồi lõm.
Đánh giá tuyến Meibomian
Tính chất meibum: bình thường là dầu trong suốt. Trong MGD, meibum đục, dạng hạt, hoặc dạng kem đánh răng.
Phân loại Shimazaki: đánh giá khả năng tiết meibum khi ấn vừa phải bằng ngón cái, từ grade 0 đến 3, grade 2 trở lên được coi là bất thường.
Meibography: sử dụng camera hồng ngoại để quan sát sự mất (dropout), ngắn lại, hoặc cong queo của tuyến.
Mỏng lớp lipid nước mắt: có thể đánh giá độ dày lớp lipid (LLT) bằng giao thoa kế.
Meibum grade theo Shimazaki được đánh giá theo 4 mức như sau4), 12).
grade 0: meibum trong suốt dễ dàng được ép ra khi ấn nhẹ
grade 1: meibum đục được ép ra khi ấn nhẹ
grade 2: meibum đục được ép ra khi ấn vừa phải hoặc mạnh hơn
grade 3: meibum không được ép ra dù ấn mạnh
Phương pháp chụp ảnh tuyến meibomian không tiếp xúc do Arita và cộng sự phát triển năm 2008 là một thiết bị xâm lấn tối thiểu chỉ cần gắn thêm bộ lọc hồng ngoại (700-850nm) và camera CCD hồng ngoại nhỏ vào kính hiển vi đèn khe 5), 11). Ánh sáng hồng ngoại xuyên qua mi mắt và phản xạ từ meibum, do đó tuyến meibomian được quan sát dưới dạng phản xạ cao (màu trắng). Ở bệnh nhân MGD, các dấu hiệu khác nhau như mất tuyến (dropout), ngắn lại, uốn cong, lốm đốm và giãn nở thường xuất hiện cùng nhau 5).
Mức độ mất tuyến được phân loại theo thang điểm Arita Meiboscore thành 4 cấp độ sau 5).
Meiboscore
Diện tích mất tuyến
grade 0
Không mất
grade 1
Dưới 1/3 tổng số
grade 2
1/3 đến 2/3
grade 3
Trên 2/3
Ở người đeo kính áp tròng, tình trạng mất tuyến meibomian được báo cáo nhiều hơn so với người không đeo. Sự thay đổi càng rõ rệt khi thời gian đeo càng dài, và được quan sát thấy ở cả kính áp tròng mềm và cứng 16).
Sự phát triển của MGD có liên quan đến các yếu tố sau 3).
Tuổi tác và yếu tố nội tiết tố
Tuổi tác: Yếu tố nguy cơ quan trọng nhất. Gây teo và suy giảm chức năng của các nang tuyến
Nam giới và phụ nữ sau mãn kinh: Tỷ lệ mắc bệnh cao
Thiếu hụt androgen: Androgen thúc đẩy tổng hợp lipid của tuyến meibomian và ức chế sừng hóa. Thiếu hụt, bất thường thụ thể, hoặc thuốc kháng androgen có liên quan đến MGD tắc nghẽn 1)
Estrogen: Ức chế tiết lipid và có tác dụng thúc đẩy viêm trên bề mặt mắt 1)
Yếu tố tại mắt và yếu tố bên ngoài
Đeo kính áp tròng mềm: Thúc đẩy tắc nghẽn cơ học của lỗ tuyến
Làm việc với thiết bị hiển thị (VDT): Tăng bay hơi do giảm chớp mắt
Hút thuốc, sống ở nông thôn, chủng tộc châu Á: Đã được báo cáo có liên quan đến MGD 3)
Sử dụng lâu dài thuốc nhỏ mắt điều trị glôcôm: Độc tính của chất bảo quản và bản thân thuốc
Tiền sử phẫu thuật mắt: Đã có báo cáo MGD trầm trọng hơn sau phẫu thuật đục thủy tinh thể và phẫu thuật khúc xạ
Đái tháo đường: Có liên quan đến MGD theo báo cáo 3). Trong một nghiên cứu cắt ngang trên 302 mắt khô mắt có đái tháo đường týp 2, nhóm DED-DM có mức độ tắc nghẽn lỗ tuyến (P<0,0001), giãn mạch bờ mi (P<0,0001), mất tuyến Meibomian mi trên (P=0,003) và thời gian BUT không xâm lấn (P=0,011) nặng hơn đáng kể so với nhóm DED đơn thuần 7)
Rối loạn chuyển hóa lipid, tăng huyết áp, cường giáp: Có liên quan đến MGD theo báo cáo 3)
Rosacea, hội chứng Sjögren, hội chứng Stevens-Johnson, bệnh ghép chống chủ: Liên quan đến MGD thông qua viêm mắt 3)
Nhiễm Demodex
Demodex folliculorum ký sinh ở chân lông mi, Demodex brevis ký sinh trong tuyến Meibomian và tuyến bã 1). Tỷ lệ ký sinh tăng theo tuổi, đạt 100% ở người trên 70 tuổi 1). Trong một nghiên cứu thuần tập trên 150 ca, Demodex được phát hiện ở 90% bệnh nhân viêm bờ mi trước và 60% bệnh nhân MGD 1). D. folliculorum gây tổn thương trực tiếp tế bào đáy nang lông, gây tăng sừng hóa phản ứng và hình thành vảy trụ. D. brevis gây tắc nghẽn vật lý tuyến Meibomian và kích thích phản ứng u hạt, thúc đẩy phát triển chắp 1). Demodex cũng gây viêm như một vector vi khuẩn và có thể gây phản ứng quá mẫn muộn ở bệnh nhân rosacea 1). Zhang và cộng sự đã báo cáo một trường hợp MGD ở nam 46 tuổi, dù triệu chứng bên ngoài nghèo nàn nhưng phát hiện 15 con Demodex brevis trong meibum ép ra, cho thấy tính hữu ích của soi trực tiếp meibum 6).
QCó mối liên quan giữa kính áp tròng và MGD không?
A
Đeo kính áp tròng mềm được coi là một yếu tố nguy cơ của MGD. Ma sát cơ học khi chớp mắt khi đeo kính có thể làm ngắn và rụng tuyến Meibomian, gây tắc lỗ tuyến. MGD có thể là một nguyên nhân gây không dung nạp kính áp tròng, và điều trị MGD có thể cải thiện sự thoải mái khi đeo kính.
Tiêu chuẩn chẩn đoán MGD thể giảm tiết do Nhóm công tác MGD Nhật Bản đề xuất năm 2010 yêu cầu cả 3 mục sau đều dương tính 4). Tiêu chuẩn này được sử dụng rộng rãi trong nước 3).
Mục
Nội dung
1. Triệu chứng chủ quan
Có cảm giác khó chịu ở mắt, cảm giác dị vật, khô, cảm giác căng tức, v.v.
2. Bất thường quanh lỗ mở
Giãn mạch, di lệch ranh giới da-niêm mạc, bờ mi không đều: ít nhất 1 trong các dấu hiệu dương tính
3. Dấu hiệu tắc lỗ mở
Có dấu hiệu tắc như plugging/pouting/ridge và giảm tiết meibum độ 2 trở lên theo thang Shimazaki
Quan sát meibum bằng đèn khe: đánh giá bán định lượng chất lượng và số lượng meibum
Quan sát giải phẫu bờ mi: xác nhận 4 dấu hiệu nêu trên
Meibography: loại không tiếp xúc là tiêu chuẩn quốc tế, thời gian ngắn, ít xâm lấn 5). Định lượng bằng Meiboscore
Thời gian phá vỡ màng nước mắt (BUT): giảm trong MGD nhưng không đặc hiệu
Nhuộm fluorescein: đánh giá tổn thương biểu mô giác mạc và kết mạc, phổ biến nhất
Đo độ dày lớp lipid nước mắt (LLT): giao thoa kế cho thấy LLT mỏng ở bệnh nhân MGD nhưng chưa có giá trị cắt
Đo áp suất thẩm thấu nước mắt: hiện tại hữu ích lâm sàng hạn chế
Kính hiển vi đồng tiêu, đo bay hơi nước mắt, dấu ấn sinh học viêm trong nước mắt, xét nghiệm vi khuẩn, phân tích sinh hóa meibum hiện đều có vai trò hạn chế như xét nghiệm thường quy 3). Tăng IL-1α, IL-1β, MMP-9 trong nước mắt quan trọng về cơ chế bệnh sinh nhưng chưa được tiêu chuẩn hóa thiết bị và điều kiện nên chưa ứng dụng lâm sàng 1).
Tại các phòng khám ngoại trú ở Nhật Bản, phương pháp tích hợp chụp meibography không tiếp xúc vào quy trình làm việc của đèn khe được khuyến nghị 5).
Yêu cầu bệnh nhân đặt mặt lên giá đỡ cằm của đèn khe
Quan sát tình trạng xung quanh lỗ tuyến meibomian và bờ mi dưới ánh sáng tán xạ (plugging/pouting/ridge, giãn mạch, di lệch MCJ, bờ mi không đều)
Thực hiện nhuộm fluorescein, đo tổn thương biểu mô giác mạc-kết mạc (SPK) và thời gian phá vỡ màng nước mắt (BUT) dưới kính lọc xanh
Chuyển sang kính lọc hồng ngoại, quan sát tuyến meibomian trên và dưới bằng meibography và ghi lại bằng ảnh tĩnh hoặc video. Đánh giá meiboscore
Quay lại ánh sáng tán xạ, dùng ngón tay cái hoặc kẹp ép ấn vào trung tâm mi để đánh giá chất lượng meibum và khả năng tiết (phân loại Shimazaki)
Một loạt các xét nghiệm thường hoàn thành trong vòng 3-5 phút và ít gây khó chịu cho bệnh nhân. Meibography cung cấp phản hồi trực quan cho bệnh nhân, góp phần nâng cao động lực điều trị 5).
Khô mắt do giảm tiết nước mắt (ADDE): Kết hợp đánh giá giảm chỉ số Schirmer, hội chứng Sjögren. Theo TFOS DEWS II, phần lớn là thể tăng bay hơi và thể hỗn hợp
Ung thư biểu mô tuyến bã: Các trường hợp chắp tái phát hoặc kèm rụng lông mi cần được loại trừ bằng xét nghiệm bệnh lý. Ung thư biểu mô tuyến bã được biết đến là có thể ngụy trang dưới dạng viêm bờ mi khó trị/chắp
Viêm bờ mi sau/viêm tuyến meibomian: Các bệnh liên quan tạo thành một phổ liên tục với MGD. Cần phân biệt khái niệm rõ ràng 3)
Bệnh lý biểu mô giác mạc-kết mạc liên quan đến viêm tuyến meibomian (MRKC): Tên bệnh thường dùng ở Nhật Bản, chỉ tổn thương biểu mô giác mạc-kết mạc thứ phát sau viêm tuyến meibomian
Trong điều trị MGD, không có phương pháp điều trị đơn lẻ nào được coi là tiêu chuẩn vàng, mà cách tiếp cận từng bước kết hợp là cơ bản1,3). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị khô mắt tại Nhật Bản năm 2019 cũng chỉ ra MGD là nguyên nhân chính của khô mắt do bay hơi quá mức, và đưa ra thuật toán điều trị với chườm ấm và vệ sinh mi mắt là lựa chọn đầu tiên9). Báo cáo quản lý và điều trị TFOS DEWS III (2025) đề xuất quản lý từng bước kết hợp chườm ấm, điều trị thiết bị tại phòng khám, IPL, liệu pháp ánh sáng cường độ thấp (LLLT), chà mi, liệu pháp chống Demodex và tẩy tế bào chết mi mắt như một cách tiếp cận tiêu chuẩn cho MGD8).
Điều trị bảo tồn (lựa chọn đầu tiên)
Chườm ấm: Nâng nhiệt độ mi mắt lên trên điểm nóng chảy của meibum để thúc đẩy bài tiết. Khuyến cáo sử dụng mặt nạ nhiệt ấm bán sẵn, 2 lần/ngày, mỗi lần ít nhất 5 phút.
Vệ sinh mi mắt: Lau bờ mi bằng bông gòn thấm nước hoặc dung dịch làm sạch bán sẵn. Nguyên tắc là thực hiện hàng ngày.
Nặn meibum: Sử dụng kẹp nặn tuyến Meibomian Arita, thực hiện như thủ thuật ngoại trú với khoảng cách 10 ngày đến 1 tháng. Chỉ định tốt cho MGD tắc nghẽn.
Nước mắt nhân tạo: Dùng để bổ sung nước mắt và giữ ẩm bề mặt nhãn cầu.
Điều trị bằng thuốc (lưu ý bảo hiểm)
Nhỏ mắt azithromycin hydrat: Cải thiện triệu chứng chủ quan, dấu hiệu bờ mi và mức độ meibum. Không được bảo hiểm chi trả cho MGD đơn thuần, nhưng được chấp thuận chỉ định và hiệu quả đối với viêm bờ mi17).
Kháng sinh nhóm tetracycline đường uống: Không được bảo hiểm chi trả. Liều dùng thường là doxycycline 100mg, 2 lần/ngày, giảm dần sau 3-4 tháng.
Nhỏ mắt corticosteroid: Tại Nhật Bản, chỉ được bảo hiểm chi trả khi có viêm bờ mi kèm theo. Sử dụng ngắn hạn kết hợp với các thuốc khác, ví dụ fluorometholone 0,1%.
Axit béo omega-3 đường uống: Tại Nhật Bản, được coi là thực phẩm bổ sung, không được bảo hiểm chi trả.
Liệu pháp Intense Pulsed Light (IPL): Chiếu ánh sáng không laser cường độ cao băng rộng 500–1200nm lên vùng quanh mi mắt 1), 8). Năng lượng ánh sáng được hấp thụ bởi oxyhemoglobin trong mạch máu da tạo ra nhiệt, gây đông tụ nhiệt các mạch máu bất thường, giảm vi khuẩn, diệt Demodex, hóa lỏng meibum, ức chế sự luân chuyển biểu mô, kích hoạt nguyên bào sợi và thúc đẩy tổng hợp collagen 1). Một RCT trên 88 mắt báo cáo rằng điều trị liên tiếp 3 đợt (cách nhau 4 tuần) làm giảm đáng kể IL-17α và IL-6 trong nước mắt 1). Nhiều RCT đã chứng minh sự cải thiện về triệu chứng chủ quan, dấu hiệu lỗ tuyến, meibum grade, BUT và tổn thương biểu mô giác mạc, nhưng cần xác nhận tình trạng phê duyệt và bảo hiểm tại quốc gia trước khi xem xét tại cơ sở chuyên khoa. Tác dụng phụ bao gồm đỏ và sưng mi mắt với tỷ lệ tối đa 13%, tất cả đều nhẹ và có thể hồi phục 1).
Liệu pháp xung nhiệt (LipiFlow, v.v.): LipiFlow® (TearScience) là thiết bị xung nhiệt có hướng (VTP) tác động đồng thời nhiệt 42,5°C từ phía kết mạc mi và áp lực xung từ xa đến gần từ phía ngoài mi mắt trong 12 phút 1). Đây là thiết bị duy nhất có thể truyền nhiệt trực tiếp lên bề mặt trong của tuyến Meibomius, làm tăng nhiệt độ mi trên từ 36,9°C lên 41,1°C và mi dưới từ 37,0°C lên 42,0°C 1). Một lần điều trị duy nhất cải thiện đáng kể điểm tiết meibum, OSDI, SPEED và TBUT sau 1 tháng, và kết quả lâu dài kéo dài 3 năm cũng đã được báo cáo 1). Một RCT trên 400 mắt cho thấy LipiFlow một lần vượt trội hơn đáng kể so với chườm ấm 10 phút hai lần mỗi ngày kết hợp vệ sinh mi mắt, với 86% không cần điều trị bổ sung tại thời điểm 12 tháng 1). So với uống doxycycline 3 tháng, hiệu quả tương đương hoặc cao hơn đã được xác nhận 1). Với bộ kích hoạt trong suốt mới (Activator Clear), việc xác nhận vị trí đặt dễ dàng hơn và tỷ lệ hoàn thành điều trị 100% đã được báo cáo 2). Tại Nhật Bản, không được bảo hiểm chi trả. Thiết bị tương tự MiBo Thermoflo® làm ấm bằng paddle ngoài ở 42,2°C nhưng hiệu quả tăng nhiệt độ mi thấp hơn 1).
Intraductal probing: Đưa đầu dò Maskin (1mm → 4/6mm theo từng bước) vào ống dẫn bị tắc để thông về mặt vật lý 1). Trong một nhóm 25 ca, 96% cải thiện triệu chứng ngay lập tức, nhưng trong một RCT 49 ca, cải thiện khách quan chỉ giới hạn 1). Vì xâm lấn và ít cải thiện dấu hiệu khách quan, thường không thực hiện 3).
Các thủ thuật chính được thực hiện ngoại trú như sau.
Nặn meibum: Nhằm loại bỏ chất tắc và cải thiện chức năng tuyến. Kẹp nặn tuyến Meibom của Arita (Inami Co.) có thiết kế giảm đau khi nặn. Thực hiện liên tục cách nhau 10 ngày đến 1 tháng, kết hợp với chườm ấm và vệ sinh mi mắt tại nhà. Meibum được nặn ra có dạng đục hoặc như kem đánh răng trong MGD giảm tiết.
Loại bỏ plugging: Nếu plugging lớn gây khó chịu, nhỏ tê sau đó dùng kẹp loại bỏ. Nếu tắc sâu trong lỗ, dùng tăm bông ấn vào bờ mi hoặc dùng kẹp nặn meibum. Nếu nhồi máu tuyến Meibom nhô ra như sáp, dùng kim tiêm rạch và loại bỏ.
Chích lẹo trong: Nếu điểm mủ rõ, dùng kim 21-25G chích, dùng tăm bông đẩy mủ ra, sau đó kê đơn kháng sinh.
Tiêm steroid chắp: Dùng bơm tiêm 1mL và kim 27-28G, tiêm 2mg triamcinolone acetonide (Kenacort-A® 40mg/mL 0.05mL) vào khối u từ phía kết mạc. Tỷ lệ khỏi sau 1-2 lần tiêm là 60-90%, hiệu quả tương đương phẫu thuật cắt bỏ chắp. Thời gian khỏi khoảng 5 ngày đến 2,5 tuần. Tiêm từ phía kết mạc thay vì da để tránh lắng đọng trắng thuốc và mất sắc tố da. Nếu không cải thiện sau 2 lần tiêm, cân nhắc điều trị IPL. Nếu nghi ngờ ung thư biểu mô tuyến bã, phẫu thuật để làm giải phẫu bệnh.
Phí khám chữa bệnh: Chườm ấm, nặn meibum, loại bỏ plugging, chích lẹo trong được tính là “thủ thuật mắt”; nặn meibum và loại bỏ plugging cần chẩn đoán “nhồi máu tuyến Meibom”. Kenacort-A® không được bảo hiểm cho chẩn đoán “chắp” nhưng có thể yêu cầu thanh toán như “điều trị triệu chứng bệnh viêm vùng mắt ngoài”.
Nhóm tetracycline: Doxycycline và minocycline có tính tan trong lipid cao hơn tetracycline, tích tụ ở mô mắt và mi mắt với liều thấp 1). Được sử dụng chủ yếu vì tác dụng chống viêm hơn là kháng khuẩn, ức chế MMP-8, MMP-9, TNF-α, sản xuất lipase và axit béo tự do để kiểm soát viêm 1). Một RCT 60 ca báo cáo nhóm dùng minocycline cải thiện đáng kể tất cả chỉ số lâm sàng và IL-6, IL-1β, IL-17α, TNF-α, IL-12p70 so với nhóm đối chứng 1), 13). Tác dụng phụ: nhạy cảm ánh sáng, triệu chứng tiêu hóa; chống chỉ định ở phụ nữ mang thai và trẻ em 14).
Azithromycin: Thuộc nhóm macrolide, gắn kết với tiểu đơn vị 50S ribosome 23S rRNA, ức chế tổng hợp protein vi khuẩn. Ngoài tác dụng kháng khuẩn, còn ức chế biểu hiện NF-κB, IL-6, IL-8, TNF-α, MMP-9 và cảm ứng yếu tố chống viêm TGF-β11). Dạng nhỏ mắt 1% (AzaSite®, Mỹ) được sử dụng, báo cáo có hiệu quả điều trị kéo dài 3 tháng sau liệu trình ngắn. Azithromycin đường uống dùng phác đồ 500mg x 3 ngày, 3 chu kỳ (cách nhau 7 ngày) hoặc 1g/tuần x 3 tuần, nhưng có nguy cơ kéo dài QT, cần thận trọng ở bệnh nhân có tiền sử bệnh tim1).
Cyclosporin A 0,05% nhỏ mắt: Được phê duyệt tại Mỹ dưới tên Restasis® cho khô mắt do giảm tiết nước mắt. Ức chế sản xuất IL-2 của tế bào T, phát huy tác dụng chống viêm1). Hiệu quả đơn trị trên MGD còn hạn chế, thường không chỉ định đơn trị liệu3).
Lifitegrast 5,0% nhỏ mắt: Thuốc đối kháng LFA-1, được FDA Mỹ phê duyệt cho khô mắt. Bằng chứng riêng cho MGD chưa được thiết lập1).
Omega-3 axit béo đường uống: Bổ sung EPA/DHA làm thay đổi thành phần axit béo của meibum1). Thử nghiệm DREAM (n=499) năm 2018 báo cáo không có khác biệt đáng kể về OSDI, Schirmer, BUT giữa nhóm omega-3 và nhóm đối chứng, bằng chứng còn mâu thuẫn1). Tại Nhật Bản, được coi là thực phẩm bổ sung, nên cân nhắc hỗ trợ3).
Nhiễm Demodex tăng theo tuổi, đạt 100% ở người trên 70 tuổi1). Demodex folliculorum ký sinh ở chân lông mi, Demodex brevis ký sinh ở tuyến Meibomius và tuyến bã, loại trước gây tăng sừng hóa phản ứng tạo vảy trụ (cylindrical dandruff), loại sau gây tắc tuyến và phản ứng u hạt1).
Tinh dầu tràm trà (TTO: từ Melaleuca alternifolia) có tác dụng diệt ký sinh trùng1). Cụ thể, phác đồ sử dụng TTO 50% chà mi tại phòng khám 1 lần/tuần, kết hợp TTO 10% tại nhà hàng ngày trong 1 tháng, báo cáo giảm viêm bờ mi, giảm IL-1β, IL-17 trong nước mắt, cải thiện triệu chứng kích thích bề mặt nhãn cầu1). Hoạt chất diệt Demodex chính của TTO là terpinen-4-ol, có sẵn trong các sản phẩm thương mại như Cliradex®1). Ivermectin đường uống 200μg/kg liều đơn (ngày 0 và ngày 7) cũng được báo cáo cải thiện số lượng Demodex, Schirmer và BUT trong viêm bờ mi sau khó trị1).
Zhang và cộng sự đã báo cáo một trường hợp MGD ở nam 46 tuổi có ít dấu hiệu bên ngoài và không phát hiện Demodex qua xét nghiệm nhổ lông mi, nhưng sau khi khử trùng bờ mi, họ trực tiếp phát hiện 15 con D. brevis trong meibum ép ra, và các triệu chứng đã cải thiện sau khi sử dụng TTO lid scrub 6). Đây là một trường hợp quan trọng cho thấy soi trực tiếp meibum hữu ích trong việc phát hiện Demodex.
QMGD được chẩn đoán bằng xét nghiệm nào?
A
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Nhóm công tác MGD Nhật Bản 2010, cần có cả ba tiêu chí sau: (1) triệu chứng chủ quan như khó chịu ở mắt, (2) bất thường quanh lỗ tuyến (giãn mạch, di lệch MCJ, bờ mi không đều – ít nhất một dấu hiệu), (3) tắc lỗ tuyến (cả plugging và giảm tiết meibum độ 2 trở lên theo thang điểm Shimazaki). Các xét nghiệm bổ trợ như chụp ảnh tuyến meibomian và quan sát meibum cũng hữu ích.
QNên thực hiện chườm ấm như thế nào?
A
Làm ướt khăn sạch và hâm nóng bằng lò vi sóng, hoặc dùng mặt nạ mắt nhiệt bán sẵn đắp lên cả hai mắt trong 5–10 phút. Điều quan trọng là giữ nhiệt độ bờ mi khoảng 40°C; lưu ý khăn nóng dễ giảm nhiệt do bay hơi. Nên thực hiện 2 lần/ngày, mỗi lần ít nhất 5 phút. Sau khi chườm ấm, massage nhẹ nhàng bờ mi để thúc đẩy meibum tan chảy được bài tiết.
Cơ chế bệnh chính của MGD giảm tiết là “tăng sừng hóa biểu mô ống dẫn và teo nang tuyến” 3). Teo nang tuyến có thể xảy ra thứ phát sau tắc nghẽn tuyến meibomian hoặc do tổn thương nguyên phát tế bào nang tuyến do lão hóa và các yếu tố khác.
Tiến triển từ tắc ống dẫn đến teo nang tuyến
Tăng sừng hóa biểu mô ống dẫn và tăng độ nhớt của meibum gây tắc nghẽn ống dẫn cuối 1). Tắc nghẽn dẫn đến tăng áp lực trong nang tuyến, tiến triển thành teo và mất nang tuyến. Mất nang tuyến làm giảm tiết lipid, dẫn đến mỏng lớp lipid nước mắt.
Tăng điểm nóng chảy của meibum
Meibum bình thường có điểm nóng chảy khoảng 19–32°C, duy trì trạng thái lỏng ở nhiệt độ bề mặt mắt 33–37°C 1). Trong MGD, sự gia tăng các sphingolipid như ceramide làm tăng điểm nóng chảy của meibum; ở các trường hợp nặng, meibum không hóa lỏng trừ khi được làm nóng trên 40°C 1). Đây là cơ sở điều trị của chườm ấm và xung nhiệt.
Ảnh hưởng của hormone sinh dục
Androgen kích hoạt gen tổng hợp lipid trong tế bào meibocyte (tế bào tuyến meibom) và ức chế gen liên quan đến sừng hóa 1). Thiếu hụt androgen, rối loạn chức năng thụ thể, hoặc sử dụng thuốc kháng androgen có liên quan đến MGD tắc nghẽn. Ngược lại, estrogen thúc đẩy dị hóa lipid và kích thích sản xuất các cytokine viêm như IL-6 và TNF-α 1). Mối liên quan giữa liệu pháp thay thế hormone sau mãn kinh và khô mắt được giải thích một phần do giảm sản xuất androgen tuyến thượng thận thông qua ức chế trục dưới đồi-tuyến yên-tuyến thượng thận 1).
Vai trò của vi khuẩn và viêm
Lipase do vi khuẩn thường trú ở bờ mi (chủ yếu là tụ cầu) sản xuất phân giải lipid trong meibum, làm tăng axit béo tự do gây viêm 1). Ở bệnh nhân viêm bờ mi, hoạt tính lipase tăng và sản xuất matrix metalloproteinase (MMP) đã được xác nhận. Trong nước mắt của bệnh nhân MGD, nồng độ IL-1α, IL-1β trưởng thành, MMP-9, IL-6, IL-8 và TNF-α tăng cao, tương quan với mức độ tổn thương biểu mô bề mặt nhãn cầu 1). IL-1 thúc đẩy tăng sinh và sừng hóa tế bào biểu mô, tạo vòng xoắn bệnh lý của MGD tắc nghẽn.
PPAR-γ (peroxisome proliferator-activated receptor γ) thuộc siêu họ thụ thể nhân, hoạt động như yếu tố phiên mã liên quan đến tổng hợp lipid và biệt hóa tế bào tuyến bã. Trong tế bào meibocyte, nó được cho là đóng vai trò quan trọng trong biệt hóa tế bào và tổng hợp lipid, và được chú ý như một mục tiêu nghiên cứu cơ chế bệnh sinh của MGD 3).
Sphingolipid và điểm nóng chảy
Trong MGD, tỷ lệ ceramide và sphingolipid trong meibum tăng lên, làm giảm độ ổn định của màng lipid meibum 1). Sự gia tăng hàm lượng ceramide trực tiếp làm tăng điểm nóng chảy của meibum, khiến nó chỉ hóa lỏng khi được làm nóng trên 40°C. Sphingolipid không chỉ thay đổi tính chất lý hóa của meibum mà còn điều hòa các quá trình tế bào như tăng sinh, biệt hóa, apoptosis và viêm, làm phức tạp thêm cơ chế bệnh sinh của MGD 1).
Đái tháo đường và thay đổi bề mặt nhãn cầu
Đái tháo đường type 2 là yếu tố làm nặng thêm MGD. Nghiên cứu cắt ngang trên 302 mắt của Hao và cộng sự báo cáo rằng nhóm DED-DM có bờ mi trên không đều, giãn mạch bờ mi, độ tắc lỗ tuyến, dày bờ mi, mất tuyến meibom mi trên, xung huyết lông mi, thời gian BUT không xâm lấn (NIBUT) xấu hơn đáng kể so với nhóm DED đơn thuần, và đường huyết tương quan có ý nghĩa với NIBUT, dày bờ mi và bờ mi không đều 7). Cơ chế bệnh sinh được đề xuất bao gồm viêm mạn tính và tổn thương vi mạch ảnh hưởng đến bờ mi và mô tuyến.
LipiFlow Translucent Activator: LipiFlow Activator Clear mới, làm từ vật liệu bán trong suốt, giúp dễ dàng xác nhận vị trí đặt. Nghiên cứu của Hu và cộng sự báo cáo tỷ lệ hoàn thành điều trị 100%2). Cải thiện triệu chứng chủ quan và điểm meibum đã được xác nhận trong 3 tháng sau điều trị. Nghiên cứu theo dõi dài hạn của Blackie và cộng sự cho thấy một lần điều trị LipiFlow duy nhất duy trì cải thiện tiết meibum và triệu chứng khô mắt trong 12 tháng, với 86% không cần điều trị bổ sung15).
Kích thích thần kinh nội mũi (intranasal neurostimulation): Kích thích xung thần kinh sàng trước trong mũi kích thích tiết tuyến lệ qua đường phản xạ mũi-lệ. Trong thí nghiệm trên động vật, kích thích hàng ngày 3 phút trong 3 tuần làm tăng lượng nước mắt, nồng độ lipid và protein, đồng thời giảm áp suất thẩm thấu nước mắt1). Trong RCT trên người, Allergan TrueTear® Intranasal Tear Neurostimulator (ITN) được báo cáo gây ra sự thoái hóa hạt của tế bào đài kết mạc, tăng chiều cao màng nước mắt, tăng nhiệt độ tuyến Meibomian ở giữa mi dưới và tăng độ dày lớp dầu nước mắt1). Một thử nghiệm nhãn mở không ngẫu nhiên báo cáo rằng sử dụng 4 lần/ngày trong 180 ngày cải thiện giá trị Schirmer, nhuộm giác mạc-kết mạc và triệu chứng chủ quan1). Kích thích nội mũi cũng cho thấy thay đổi tức thì về hình thái tuyến Meibomian (diện tích, chu vi), có thể trở thành chiến lược điều trị mới thúc đẩy tiết meibum thông qua điều hòa thần kinh1).
Liệu pháp hormone sinh dục: Trong thử nghiệm ngẫu nhiên đa trung tâm của Schiffman và cộng sự, thuốc nhỏ mắt testosterone tại chỗ (0,03%) được báo cáo ở giai đoạn tóm tắt ARVO là cải thiện đáng kể độ nhớt của chất tiết tuyến Meibomian sau 6 tháng điều trị so với nhóm đối chứng1). Một số nghiên cứu cho thấy androgen tại chỗ làm tăng độ dày lớp dầu nước mắt và BUT, nhưng hiện tại không có sản phẩm thuốc nhỏ mắt nào được phê duyệt ở Nhật Bản hoặc Hoa Kỳ1). Việc sử dụng kem testosterone 5% ở phụ nữ mãn kinh (cải thiện OSDI), DHEA qua da ở bệnh nhân sau mãn kinh và ứng dụng nhãn khoa của liệu pháp thay thế hormone nữ cũng được thảo luận, nhưng tất cả đều thiếu bằng chứng và chưa được đưa vào thực hành lâm sàng hàng ngày1).
Thuốc đối kháng thụ thể IL-1 (Anakinra): IL-1RA tái tổ hợp ở người (Kineret™) là một chế phẩm sinh học được phê duyệt trong điều trị viêm khớp dạng thấp, và đã cho thấy hiệu quả khi sử dụng ngoài chỉ định trong khô mắt1). Vì IL-1 trong nước mắt của bệnh nhân MGD đóng vai trò trung tâm trong cơ chế bệnh sinh, đây là một mục tiêu điều trị đầy hứa hẹn, nhưng kết quả thử nghiệm lâm sàng trên MGD vẫn chưa được công bố 1).
Kích thích thay đổi hình thái tuyến bằng IPL: Một nghiên cứu thuần tập trên 35 ca báo cáo rằng IPL làm tăng đường kính dài nhất của nang tuyến và mật độ đơn vị, đồng thời giảm tế bào viêm quanh tuyến 1). Điều này gợi ý khả năng phục hồi mô vượt xa điều trị triệu chứng đơn thuần.
Hồ sơ biểu hiện gen của tuyến Meibomius: Trong MGD, hơn 400 gen của tuyến Meibomius đã được báo cáo có thay đổi biểu hiện. Các gen đáp ứng androgen, gen liên quan đến sừng hóa và gen liên quan đến tổng hợp lipid được xem là mục tiêu chính, và khả năng điều trị nhắm đích phân tử đang được khám phá 1).
Mibo Thermoflo®, IRPL và laser mức thấp: Các thử nghiệm so sánh các thiết bị mới như thiết bị làm nóng bên ngoài, IRPL (ánh sáng băng thông rộng) và laser công suất thấp đang được tiến hành, nhưng chưa có thiết bị nào được báo cáo cho thấy hiệu quả vượt trội hơn LipiFlow tại thời điểm hiện tại 1).
Trong điều trị MGD, có nhiều lĩnh vực còn hạn chế về bằng chứng, và việc tích lũy bằng chứng từ các RCT do Nhật Bản chủ trì là thách thức trong tương lai 3). Đặc biệt, cần thiết lập các quy trình chuẩn hóa cho điều trị bảo tồn có thể thực hiện tại Nhật Bản (chườm ấm, vệ sinh mi mắt, nặn meibum), các thử nghiệm trong nước để mở rộng chỉ định bảo hiểm cho doxycycline, azithromycin, v.v., và các thử nghiệm đa trung tâm để xin phê duyệt dược phẩm cho IPL và LipiFlow.
Sabeti S, Kheirkhah A, Yin J, Dana R. Management of meibomian gland dysfunction: a review. Surv Ophthalmol. 2020;65(2):205-217. doi:10.1016/j.survophthal.2019.08.007.
Hu JG, Dang VT, Chang DH, Goldberg DF, McKinnon C, Makedonsky K, et al. Performance of a Translucent Activator for LipiFlow Vectored Thermal Pulse (VTP) Treatment of Meibomian Gland Dysfunction. Clinical ophthalmology (Auckland, N.Z.). 2022;16:963-971. doi:10.2147/OPTH.S354738. PMID:35386613; PMCID:PMC8977218.
Arita R, Itoh K, Inoue K, Amano S. Noncontact infrared meibography to document age-related changes of the meibomian glands in a normal population. Ophthalmology. 2008;115(5):911-915. doi:10.1016/j.ophtha.2007.06.031.
Zhang N, Liang L. Demodex in Meibum. Ophthalmology. 2024.
Hao Y, Wu B, Feng J, He J, Zang Y, Tian L, et al. Relationship between type 2 diabetes mellitus and changes of the lid margin, meibomian gland and tear film in dry eye patients: a cross-sectional study. International ophthalmology. 2025;45(1):261. doi:10.1007/s10792-025-03636-w. PMID:40553413; PMCID:PMC12187884.
Jones L, Craig JP, Markoulli M, Karpecki P, Akpek EK, Basu S, et al. TFOS DEWS III: Management and Therapy. American journal of ophthalmology. 2025;279:289-386. doi:10.1016/j.ajo.2025.05.039. PMID:40467022.
Nelson JD, Shimazaki J, Benitez-del-Castillo JM, Craig JP, McCulley JP, Den S, et al. The international workshop on meibomian gland dysfunction: report of the definition and classification subcommittee. Investigative ophthalmology & visual science. 2011;52(4):1930-7. doi:10.1167/iovs.10-6997b. PMID:21450914; PMCID:PMC3072158.
Arita R, Minoura I, Morishige N, Shirakawa R, Fukuoka S, Asai K, et al. Development of Definitive and Reliable Grading Scales for Meibomian Gland Dysfunction. American journal of ophthalmology. 2016;169:125-137. doi:10.1016/j.ajo.2016.06.025. PMID:27345733.
Shimazaki J, Sakata M, Tsubota K. Ocular surface changes and discomfort in patients with meibomian gland dysfunction. Arch Ophthalmol. 1995;113(10):1266-1270. doi:10.1001/archopht.1995.01100100054027.
Lee H, Min K, Kim EK, Kim TI. Minocycline controls clinical outcomes and inflammatory cytokines in moderate and severe meibomian gland dysfunction. American journal of ophthalmology. 2012;154(6):949-957.e1. doi:10.1016/j.ajo.2012.06.009. PMID:22967863.
Wladis EJ, Bradley EA, Bilyk JR, Yen MT, Mawn LA. Oral antibiotics for meibomian gland-related ocular surface disease: a Report by the American Academy of Ophthalmology. Ophthalmology. 2016;123(3):492-496. PMID: 26707417.
Blackie CA, Coleman CA, Holland EJ. The sustained effect (12 months) of a single-dose vectored thermal pulsation procedure for meibomian gland dysfunction and evaporative dry eye. Clin Ophthalmol. 2016;10:1385-1396. doi:10.2147/OPTH.S109663.
Arita R, Itoh K, Inoue K, Kuchiba A, Yamaguchi T, Amano S. Contact lens wear is associated with decrease of meibomian glands. Ophthalmology. 2009;116(3):379-384. doi:10.1016/j.ophtha.2008.10.012. PMID: 19167077.