Rối loạn chức năng tuyến Meibomian (MGD: Meibomian Gland Dysfunction) là tình trạng rối loạn chức năng mãn tính, lan tỏa của tuyến Meibomian. Nhóm công tác MGD của Nhật Bản (2010) đã định nghĩa đây là ‘tình trạng chức năng tuyến Meibomian bị rối loạn lan tỏa do nhiều nguyên nhân khác nhau, kèm theo khó chịu mãn tính’4). ‘Hướng dẫn thực hành lâm sàng về rối loạn chức năng tuyến Meibomian’ (Nihon Ganka Gakkai Zasshi, Tập 127, Số 2) được công bố năm 2023 đã xác định MGD là nguyên nhân chính gây khô mắt do tăng bay hơi, đưa ra các hướng dẫn thực hành toàn diện dựa trên bằng chứng3).
Trên thế giới, Hội thảo quốc tế về rối loạn chức năng tuyến Meibomian (IWMGD 2011) định nghĩa đây là “tình trạng bất thường lan tỏa mạn tính đặc trưng bởi tắc nghẽn ống dẫn cuối và/hoặc thay đổi về chất và lượng chất tiết của tuyến”1), 10). TFOS DEWS III (2025) cũng xác định MGD là yếu tố góp phần chính gây khô mắt, và các phương pháp điều trị như chườm ấm, vệ sinh mi mắt, IPL, laser mức thấp đã được đưa vào thuật toán quản lý8). Hội Nghiên cứu Khô mắt Nhật Bản đã xây dựng “Hướng dẫn Thực hành Lâm sàng Khô mắt” (2019), trong đó nhấn mạnh MGD là nguyên nhân gây khô mắt tăng bay hơi9).
Tuyến Meibomian là một loại tuyến bã nhờn lớn nằm trong sụn mi (tarsal plate) của mí mắt. Quan sát bằng phương pháp chụp tuyến Meibomian không tiếp xúc, mắt bình thường có 25–30 tuyến ở mí trên và 15–20 tuyến ở mí dưới5). Mỗi tuyến gồm nhiều túi tuyến (acinus) phân nhánh từ một ống dẫn trung tâm, và các tế bào biểu mô túi tuyến (meibocyte) sản xuất meibum theo cơ chế bài tiết toàn bộ (holocrine secretion). Meibum chứa hơn 100 loại lipid (chủ yếu là wax ester, cholesterol ester, phospholipid phân cực, sphingolipid) và hơn 90 loại protein, tạo thành lớp lipid ngoài cùng của màng phim nước mắt, ngăn chặn sự bay hơi của lớp nước, giảm sức căng bề mặt và duy trì sự trải rộng của màng phim nước mắt1). Độ dày lớp lipid nước mắt (LLT) bình thường là 60–100nm, và bị mỏng đi trong MGD1).
Theo nghiên cứu dựa trên dân số tại Nhật Bản (đối tượng từ 6–96 tuổi) được trích dẫn trong Hướng dẫn của Tạp chí Nhãn khoa Nhật Bản 2023 BQ-4, tỷ lệ hiện mắc MGD theo nhóm tuổi như sau3).
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng MGD gia tăng và trở nên trầm trọng hơn theo tuổi tác. Về giới tính, bệnh thường gặp ở nam giới và phụ nữ sau mãn kinh3). Nghiên cứu sử dụng phương pháp chụp ảnh tuyến meibom không tiếp xúc của Arita và cộng sự đã báo cáo rằng khoảng 86% bệnh nhân khô mắt có kèm theo MGD5). Sự khác biệt về chủng tộc cũng được ghi nhận, với tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở người châu Á so với người da trắng (3,5–19,9%)1). Tại Nhật Bản, theo ước tính của Hội Nghiên cứu Khô mắt, số lượng bệnh nhân bao gồm cả những người có nguy cơ tiềm ẩn lên đến hàng chục triệu người, và đây là một trong những bệnh mãn tính thường gặp nhất trong thực hành lâm sàng hàng ngày3).
Về mặt lâm sàng, loại giảm tiết chiếm ưu thế, trong đó MGD tắc nghẽn (oMGD: obstructive MGD) là phổ biến nhất. JOS Guideline 2023 BQ-1 tóm tắt cơ chế bệnh sinh chính của MGD giảm tiết là “tăng sừng hóa biểu mô ống dẫn và teo tuyến nang”3). MGD teo là tình trạng các tuyến nang bị teo lan tỏa, và cả hai cơ chế tắc nghẽn thứ phát và tổn thương tế bào tuyến nguyên phát đều đã được đề xuất.
MGD tăng tiết bao gồm viêm tuyến Meibomian dạng tiết bã (seborrheic MGD: sMGD) và được phân biệt với viêm tuyến Meibomian tắc nghẽn. Khi ấn nhẹ vào phần sụn mi trên, meibum trong suốt chảy ra ở người bình thường, nhưng trong MGD tiết bã, sự bài tiết tăng bất thường, tạo bọt trong nước mắt dọc theo bờ mi dưới. Các bệnh liên quan bao gồm viêm bờ mi sau, viêm tuyến Meibomian, và viêm kết giác mạc liên quan đến viêm tuyến Meibomian (meibomitis-related keratoconjunctivitis: MRKC). Tầm quan trọng của việc thống nhất các khái niệm này được nhấn mạnh trong Hướng dẫn của Hội Nhãn khoa Nhật Bản 2023 BQ-33).
Trên phạm vi quốc tế, IWMGD 2011 đã phân loại theo khung giảm tiết (low-delivery) và tăng tiết (high-delivery), trong đó loại tắc nghẽn là phổ biến nhất trong nhóm giảm tiết1).
QMGD và khô mắt có liên quan với nhau như thế nào?
A
MGD là nguyên nhân phổ biến nhất của khô mắt do tăng bay hơi. Khi lớp lipid của nước mắt bị mỏng đi do suy giảm chức năng tuyến Meibomian, sự bay hơi nước mắt tăng lên, áp suất thẩm thấu nước mắt tăng cao và viêm bề mặt nhãn cầu xảy ra. Hướng dẫn của Hội Nhãn khoa Nhật Bản 2023 cũng nêu rõ MGD gây ra khô mắt và khó chịu mắt mãn tính.
Hình ảnh chụp tuyến Meibomian (meibography) của rối loạn chức năng tuyến Meibomian. Quan sát thấy tuyến Meibomian ở mi trên và mi dưới bị ngoằn ngoèo, biến dạng và mất đi.
Li B, et al. Comparison of the therapeutic effect of Meibomian Thermal Pulsation LipiFlow® on obstructive and hyposecretory meibomian gland dysfunction patients. Int Ophthalmol. 2020. Figure 1. PMCID: PMC7669766. License: CC BY.
Meibography của mi trên và mi dưới cho thấy tuyến Meibomian bị ngoằn ngoèo, sắp xếp không đều và mất một phần tuyến. Điều này trực tiếp chỉ ra các bất thường hình thái đặc trưng của MGD và phù hợp để minh họa các dấu hiệu lâm sàng chính.
Hướng dẫn của Hội Nhãn khoa Nhật Bản 2023 CQ-2 liệt kê các triệu chứng chủ quan sau đây của MGD và khuyến nghị mạnh mẽ việc khai thác các triệu chứng này3).
Khó chịu mắt và cảm giác dị vật : triệu chứng thường gặp nhất
Cảm giác khô và căng tức : thường nặng hơn vào buổi sáng
Đau và cảm giác nóng rát : có thể có cảm giác nóng rát dọc theo bờ mi
Chảy nước mắt và mỏi mắt : do tăng tiết nước mắt phản xạ
Mờ mắt / thay đổi thị lực: Phản ánh sự bất ổn của màng nước mắt
Ngứa / ghèn / sợ ánh sáng: Triệu chứng kèm theo do viêm
Cảm giác dính (“nhão nhão”) cũng là đặc trưng4). Triệu chứng thường nặng vào buổi sáng, và đôi khi bệnh nhân phàn nàn về sự thay đổi thị lực. Tuy nhiên, hiện chưa xác định được triệu chứng chủ quan đặc hiệu nào để phân biệt MGD với các bệnh bề mặt nhãn cầu khác3). Bảng câu hỏi OSDI (Ocular Surface Disease Index) được sử dụng rộng rãi để đánh giá triệu chứng chủ quan. Các triệu chứng MGD ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống, không chỉ gây kích ứng mắt mà còn làm suy giảm thị lực, do đó cần đánh giá một cách hệ thống mức độ ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày1).
Hướng dẫn GL 2023 của Hội Nhãn khoa Nhật Bản (CQ-3) khuyến nghị 4 dấu hiệu sau có giá trị trong chẩn đoán MGD: tắc lỗ tuyến Meibomian, giãn mạch bờ mi, di lệch đường nối niêm mạc-da, và bờ mi không đều3).
Dấu hiệu bờ mi
Dấu hiệu tắc lỗ tuyến: plugging (nút bít), pouting (gồ lên nhọn quanh lỗ tuyến), ridge (cấu trúc dạng đập che phủ nhiều lỗ tuyến).
Di lệch đường nối niêm mạc-da (MCJ): Lệch ra trước hoặc ra sau. Dễ quan sát bằng nhuộm fluorescein.
Bờ mi không đều: Đường tiếp xúc với giác mạc không đều, lồi lõm.
Đánh giá meibum và tuyến Meibomian
Tính chất meibum: Bình thường là chất dầu trong suốt. Trong MGD, meibum trở nên đục, hạt, hoặc như kem đánh răng.
Phân loại Shimazaki: Đánh giá khả năng ép meibum bằng áp lực ngón tay cái vừa phải theo grade 0-3, grade ≥ 2 được coi là bất thường.
Meibography: Quan sát sự biến mất (dropout), ngắn lại và cong vẹo của tuyến bằng camera hồng ngoại.
Mỏng lớp lipid nước mắt: Có thể đánh giá độ dày lớp lipid (LLT) bằng interferometer.
Meibum grade của Shimazaki được đánh giá theo 4 mức độ như sau4), 12).
grade 0: dễ dàng ép ra meibum trong suốt khi ấn nhẹ
grade 1: ép ra meibum đục khi ấn nhẹ
grade 2: ép ra meibum đục khi ấn từ trung bình trở lên
grade 3: không thể ép ra meibum ngay cả khi ấn mạnh
Meibography không tiếp xúc do Arita và cộng sự phát triển năm 2008 là một thiết bị xâm lấn tối thiểu chỉ cần gắn thêm bộ lọc hồng ngoại (700–850 nm) và camera CCD hồng ngoại nhỏ vào kính hiển vi sinh học đèn khe5), 11). Ánh sáng hồng ngoại xuyên qua mi mắt và được phản xạ bởi meibum, do đó tuyến meibomius được quan sát dưới dạng phản xạ cao (màu trắng). Ở bệnh nhân MGD, các dấu hiệu như mất tuyến meibomius (dropout), ngắn lại, cong vẹo, lốm đốm, giãn rộng,… thường xuất hiện kết hợp5).
Mức độ mất tuyến được phân loại theo 4 mức độ sau đây dựa trên thang điểm Arita Meiboscore5):
Meiboscore
Diện tích mất tuyến
grade 0
Không mất
grade 1
≤ 1/3 tổng diện tích
grade 2
1/3–2/3
grade 3
≥ 2/3
Đã có báo cáo cho thấy người đeo kính áp tròng bị mất tuyến meibomian nhiều hơn so với người không đeo. Sự thay đổi càng rõ rệt khi thời gian đeo càng dài và được quan sát thấy ở cả kính áp tròng mềm và cứng16).
Hướng dẫn của Hội Nhãn khoa Nhật Bản 2023 BQ-5 và BQ-6 đã hệ thống hóa các yếu tố liên quan đến sự phát triển của MGD3).
Tuổi tác và yếu tố nội tiết tố
Tuổi tác: Yếu tố nguy cơ quan trọng nhất. Gây teo các tiểu nang tuyến và suy giảm chức năng
Nam giới và phụ nữ sau mãn kinh: Tỷ lệ mắc bệnh cao
Thiếu hụt androgen: Androgen thúc đẩy tổng hợp lipid của tuyến meibomian và ức chế sừng hóa. Thiếu hụt, bất thường thụ thể và thuốc kháng androgen có liên quan đến MGD tắc nghẽn1)
Estrogen: Ức chế bài tiết lipid và có tác dụng thúc đẩy viêm trên bề mặt mắt1)
Yếu tố tại mắt và yếu tố bên ngoài
Đeo kính áp tròng mềm: Thúc đẩy tắc nghẽn cơ học lỗ tuyến
Làm việc với thiết bị hiển thị (VDT): Gia tăng bay hơi do giảm chớp mắt
Hút thuốc, sống ở nông thôn, chủng tộc châu Á: Được Hướng dẫn của Hội Nhãn khoa Nhật Bản 2023 xác định là yếu tố nguy cơ3)
Sử dụng lâu dài thuốc nhỏ mắt điều trị glôcôm: Độc tính từ chất bảo quản và bản thân thuốc
Tiền sử phẫu thuật mắt: Đã có báo cáo MGD trầm trọng hơn sau phẫu thuật đục thủy tinh thể và phẫu thuật khúc xạ
Đái tháo đường: Được ghi nhận là yếu tố nguy cơ của MGD trong Jpn J Ophthalmol Soc GL 20233). Một nghiên cứu cắt ngang trên 302 mắt khô mắt có kèm đái tháo đường típ 2 cho thấy nhóm DED-DM có mức độ nặng hơn đáng kể so với nhóm DED đơn thuần về grade tắc lỗ tuyến (P<0,0001), giãn mạch bờ mi (P<0,0001), mất tuyến Meibomian mi trên (P=0,003) và BUT không xâm lấn (P=0,011)7)
Rối loạn chuyển hóa lipid・tăng huyết áp・cường giáp: Được ghi nhận trong Jpn J Ophthalmol Soc GL 2023 BQ-63)
Demodex folliculorum ký sinh ở chân lông mi, Demodex brevis ký sinh trong tuyến Meibomian và tuyến bã1). Tỷ lệ ký sinh tăng theo tuổi, đạt 100% ở người trên 70 tuổi1). Một nghiên cứu thuần tập trên 150 ca cho thấy Demodex được phát hiện ở 90% bệnh nhân viêm bờ mi trước và 60% bệnh nhân MGD1). D. folliculorum gây tổn thương trực tiếp tế bào đáy nang lông, gây tăng sừng hóa phản ứng và hình thành vảy trụ. D. brevis gây tắc nghẽn vật lý tuyến Meibomian và cảm ứng phản ứng u hạt, thúc đẩy hình thành chắp1). Demodex cũng gây viêm thông qua vai trò là vector vi khuẩn và có thể gây phản ứng quá mẫn muộn ở bệnh nhân rosacea1). Zhang và cộng sự đã báo cáo một trường hợp MGD ở nam 46 tuổi có 15 con Demodex brevis được phát hiện trong meibum ép ra dù không có biểu hiện bên ngoài rõ rệt, cho thấy giá trị của soi trực tiếp meibum6).
QCó mối liên hệ giữa kính áp tròng và MGD không?
A
Theo Nhãn khoa Nhật Bản GL 2023, đeo kính áp tròng mềm được ghi nhận là yếu tố nguy cơ của MGD. Ma sát cơ học khi chớp mắt trong quá trình đeo có thể làm ngắn và rụng các tuyến Meibomian, đồng thời gây tắc lỗ mở. MGD có thể là một trong những nguyên nhân gây không dung nạp CL và điều trị MGD có thể cải thiện sự thoải mái khi đeo.
Tiêu chuẩn chẩn đoán MGD thể giảm tiết do Nhóm công tác MGD Nhật Bản đề xuất năm 2010 yêu cầu cả 3 mục sau đều dương tính4). Nhãn khoa Nhật Bản GL 2023 CQ-1 cũng ghi nhận tiêu chuẩn này được sử dụng rộng rãi trong nước3).
Mục
Nội dung
1. Triệu chứng chủ quan
Có cảm giác khó chịu ở mắt, cảm giác dị vật, khô mắt, cảm giác bị đè ép, v.v.
2. Bất thường quanh lỗ mở
Giãn mạch, di chuyển đường nối niêm mạc-da, bờ mí mắt không đều: 1 mục trở lên dương tính
3. Dấu hiệu tắc lỗ mở
Dấu hiệu tắc như plugging/pouting/ridge và giảm tiết độ 2 trở lên theo Shimazaki
Phương pháp Xét nghiệm Tiêu chuẩn (Theo GL Nhật Bản)
Các xét nghiệm được Nhãn khoa Nhật Bản GL 2023 khuyến nghị như sau3).
Quan sát meibum bằng kính hiển vi đèn khe (CQ-6, khuyến nghị): đánh giá bán định lượng chất lượng và số lượng meibum
Quan sát giải phẫu bờ mi (CQ-3, hữu ích): Xác nhận 4 dấu hiệu nêu trên
Chụp ảnh tuyến Meibom (CQ-8, khuyến nghị): Loại không tiếp xúc là tiêu chuẩn quốc tế, thời gian ngắn, ít xâm lấn5). Định lượng bằng Meiboscore
Thời gian phá vỡ màng phim nước mắt (BUT) (CQ-4): Giảm trong MGD nhưng không phải xét nghiệm đặc hiệu
Nhuộm fluorescéine (CQ-17): Phương pháp linh hoạt nhất để đánh giá tổn thương biểu mô giác mạc và kết mạc
Đo độ dày lớp lipid nước mắt (LLT) (CQ-9): Máy đo giao thoa cho thấy LLT ở bệnh nhân MGD mỏng hơn nhưng giá trị cut-off chưa được thiết lập
Đo áp suất thẩm thấu nước mắt (CQ-12): Hiện tại, tính hữu ích lâm sàng còn hạn chế
Kính hiển vi đồng tiêu sống (CQ-11), đo lượng bay hơi nước mắt (CQ-10), dấu ấn sinh học viêm trong nước mắt (CQ-15), xét nghiệm vi khuẩn học (CQ-16), phân tích sinh hóa meibum (CQ-14) đều chưa được khuyến nghị là xét nghiệm thường quy ở thời điểm hiện tại3). Sự gia tăng IL-1α, IL-1β và MMP-9 trong nước mắt có ý nghĩa quan trọng về cơ chế bệnh sinh, nhưng do thiết bị xét nghiệm và điều kiện chưa được tiêu chuẩn hóa nên chưa ứng dụng lâm sàng được1).
Tại các phòng khám ngoại trú ở Nhật Bản, phương pháp tích hợp chụp ảnh tuyến Meibom không tiếp xúc vào quy trình làm việc của đèn khe được khuyến nghị5).
Yêu cầu bệnh nhân đặt mặt lên giá đỡ cằm của đèn khe
Quan sát tình trạng xung quanh lỗ tuyến Meibom và bờ mi bằng ánh sáng khuếch tán (plugging/pouting/ridge, giãn mạch, di lệch MCJ, bờ mi không đều)
Thực hiện nhuộm fluorescéine, đo tổn thương biểu mô giác mạc-kết mạc (SPK) và thời gian phá vỡ màng phim nước mắt (BUT) bằng bộ lọc xanh
Chuyển sang bộ lọc hồng ngoại, quan sát tuyến Meibom trên và dưới bằng chụp ảnh tuyến Meibom và ghi lại bằng ảnh tĩnh hoặc video. Đánh giá Meiboscore
Quay lại ánh sáng khuếch tán, ấn vào trung tâm mi bằng ngón tay cái hoặc kẹp ép để đánh giá chất lượng và khả năng tiết meibum (phân loại Shimazaki)
Một loạt các xét nghiệm thường hoàn thành trong vòng 3–5 phút và ít gây khó chịu cho bệnh nhân. Chụp meibography cung cấp phản hồi trực quan cho bệnh nhân và giúp nâng cao động lực điều trị5).
Khô mắt thể giảm nước mắt (ADDE): Cần đánh giá kết hợp chỉ số Schirmer thấp và hội chứng Sjögren. Theo TFOS DEWS II, phần lớn là thể bay hơi tăng và thể hỗn hợp
Ung thư tuyến bã: Các trường hợp tái phát chắp hoặc rụng lông mi cần được loại trừ bằng xét nghiệm bệnh lý. Ung thư tuyến bã được biết đến có thể giả dạng viêm bờ mi kháng trị hoặc chắp
Viêm bờ mi sau – Viêm tuyến Meibom: Các bệnh có liên quan nằm trong cùng phổ liên tục với MGD. Tầm quan trọng của việc thống nhất khái niệm cũng được nhấn mạnh trong Hướng dẫn của Hội Nhãn khoa Nhật Bản 2023 BQ-33)
Bệnh biểu mô giác–kết mạc liên quan đến viêm tuyến Meibom (MRKC): Thuật ngữ thường dùng ở Nhật Bản, chỉ tổn thương biểu mô giác mạc và kết mạc thứ phát sau viêm tuyến Meibom
Trong GL 2023 của Tạp chí Nhãn khoa Nhật Bản, 13 CQ (CQ-18~CQ-30) đã đánh giá các phương pháp điều trị MGD dựa trên bằng chứng3). Không có phương pháp điều trị đơn lẻ nào được coi là tiêu chuẩn vàng, cách tiếp cận từng bước kết hợp là cơ bản1). Hướng dẫn thực hành lâm sàng về khô mắt Nhật Bản 2019 cũng chỉ ra rằng MGD là nguyên nhân chính của khô mắt do bay hơi quá mức và đưa ra thuật toán điều trị với chườm ấm và vệ sinh bờ mi là lựa chọn đầu tiên9). Báo cáo quản lý và điều trị TFOS DEWS III (2025) đề xuất quản lý theo từng giai đoạn kết hợp chườm ấm, điều trị thiết bị tại phòng khám, IPL, liệu pháp ánh sáng mức thấp (LLLT), vệ sinh bờ mi, liệu pháp kháng Demodex và blepharoexfoliation như một phương pháp tiêu chuẩn cho MGD8).
Điều trị bảo tồn (Lựa chọn đầu tay)
Chườm ấm: CQ-18 của GL 2023 Tạp chí Nhãn khoa Nhật Bản khuyến cáo mạnh mẽ nên thực hiện. Nâng nhiệt độ mí mắt trên điểm nóng chảy của meibum để thúc đẩy bài tiết. Nên sử dụng mặt nạ nhiệt mua sẵn, 2 lần/ngày, mỗi lần ít nhất 5 phút.
Vệ sinh bờ mi: CQ-19 khuyến cáo yếu. Lau sạch bờ mi bằng bông gòn thấm nước hoặc dung dịch làm sạch mua sẵn. Nguyên tắc là duy trì hàng ngày.
Nặn meibum: CQ-20 khuyến cáo yếu. Thực hiện như một thủ thuật ngoại trú bằng kẹp nặn tuyến meibomian kiểu Arita, cách nhau 10 ngày đến 1 tháng. MGD tắc nghẽn là chỉ định tốt.
Nước mắt nhân tạo: Dùng để bổ sung nước mắt và giữ ẩm bề mặt nhãn cầu.
Điều trị bằng thuốc (Lưu ý về bảo hiểm y tế)
Nhỏ mắt azithromycin hydrat: CQ-22 khuyến cáo yếu nhưng không được bảo hiểm y tế chi trả tại Nhật Bản. Cải thiện triệu chứng chủ quan, dấu hiệu bờ mi và mức độ meibum.
Tetracycline đường uống: CQ-27 khuyến cáo yếu, không được bảo hiểm chi trả. Phác đồ sử dụng doxycycline 100mg 2 lần/ngày, giảm dần trong 3-4 tháng.
Tra mắt corticosteroid: Được khuyến cáo yếu tại CQ-24. Tại Nhật Bản, chỉ được bảo hiểm chi trả khi có kèm viêm bờ mi. Sử dụng kết hợp ngắn hạn fluorometholone 0,1% và các thuốc tương tự.
Uống axit béo omega-3: Được khuyến cáo yếu tại CQ-26. Tại Nhật Bản, được coi là thực phẩm chức năng và không được bảo hiểm chi trả.
Danh sách khuyến cáo điều trị theo GL 2023 của Nihon Ganka Gakkai Zasshi
Liệu pháp Intense pulsed light (IPL) (Hướng dẫn của Hội Nhãn khoa Nhật Bản 2023 CQ-28): Chiếu ánh sáng không laser cường độ cao băng thông rộng 500–1200nm quanh vùng mi mắt1), 8). Năng lượng ánh sáng được hấp thụ bởi oxyhemoglobin trong mạch máu trên bề mặt da tạo ra nhiệt, gây đông nhiệt các mạch máu bất thường, giảm vi khuẩn, diệt Demodex, hóa lỏng meibum, ức chế chu kỳ biểu mô, hoạt hóa nguyên bào sợi và thúc đẩy tổng hợp collagen1). Một RCT trên 88 mắt báo cáo rằng 3 đợt điều trị liên tiếp (cách nhau 4 tuần) làm giảm đáng kể IL-17α và IL-6 trong nước mắt1). Nhiều RCT đã chứng minh sự cải thiện về triệu chứng chủ quan, dấu hiệu lỗ tuyến, meibum grade, BUT và tổn thương biểu mô giác mạc. Dựa trên bằng chứng, phương pháp này được khuyến cáo mạnh, nhưng tại Nhật Bản, tại thời điểm viết bài, phương pháp này chưa được phê duyệt và không được bảo hiểm chi trả, do đó Hướng dẫn của Hội Nhãn khoa Nhật Bản 2023 chỉ khuyến cáo yếu3). Tác dụng bất lợi bao gồm đỏ và sưng mi mắt với tỷ lệ tối đa 13%, tất cả đều nhẹ và có thể hồi phục1).
Liệu pháp xung nhiệt (LipiFlow, v.v.) (CQ-29): LipiFlow® (TearScience) là thiết bị xung nhiệt có định hướng (VTP) tác động đồng thời quá trình làm nóng 42,5°C từ phía kết mạc mi và nén xung từ xa đến gần từ phía ngoài mi mắt trong 12 phút1). Đây là thiết bị duy nhất có thể tác động nhiệt trực tiếp lên bề mặt trong của mi mắt, làm tăng nhiệt độ mi trên từ 36,9°C lên 41,1°C và nhiệt độ mi dưới từ 37,0°C lên 42,0°C1). Điều trị một lần cải thiện đáng kể điểm tiết meibum, OSDI, SPEED và TBUT sau 1 tháng, và hiệu quả kéo dài đến 3 năm đã được báo cáo1). Một thử nghiệm RCT trên 400 mắt cho thấy LipiFlow một lần vượt trội hơn hẳn so với chườm ấm 10 phút hai lần mỗi ngày kết hợp vệ sinh mi mắt, với 86% không cần điều trị bổ sung sau 12 tháng1). Hiệu quả cũng được xác nhận là tương đương hoặc cao hơn so với doxycycline uống trong 3 tháng1). Với bộ kích hoạt trong suốt mới (Activator Clear), việc xác nhận vị trí đặt trở nên dễ dàng và tỷ lệ hoàn thành điều trị 100% đã được báo cáo2). Không được bảo hiểm chi trả tại Nhật Bản. Thiết bị tương tự MiBo Thermoflo® làm nóng bằng paddle ngoài ở 42,2°C nhưng hiệu quả tăng nhiệt độ mi mắt thấp hơn1).
Thông dẫn nội tuyến (Intraductal probing) (CQ-30): Đưa đầu dò Maskin (tăng dần từ 1mm lên 4/6mm) vào ống dẫn bị tắc để thông về mặt vật lý1). Trong một đoàn hệ 25 ca, 96% cải thiện triệu chứng ngay lập tức, nhưng trong một RCT 49 ca, cải thiện các dấu hiệu khách quan chỉ ở mức hạn chế1). Vì mang tính xâm lấn và ít cải thiện dấu hiệu khách quan, Hướng dẫn GL 2023 của Nhãn khoa Nhật Bản khuyến nghị yếu không nên thực hiện3).
Các thủ thuật chính được thực hiện ngoại trú như sau.
Nặn meibum: Thực hiện nhằm tống xuất chất tắc nghẽn và cải thiện chức năng tuyến. Kẹp nặn tuyến Meibomius kiểu Arita (hãng Inami) có thiết kế giúp giảm đau khi nặn. Tiến hành liên tục với khoảng cách 10 ngày đến 1 tháng, kết hợp với chườm ấm và vệ sinh bờ mi tại nhà. Meibum được nặn ra có dạng đục hoặc như kem đánh răng trong MGD thể giảm tiết
Loại bỏ plugging: Nếu plugging lớn gây khó chịu, dùng nhíp loại bỏ sau khi nhỏ tê. Nếu tắc sâu trong lỗ mở, dùng tăm bông ép bờ mi hoặc dùng kẹp nặn meibum. Nếu nhồi máu tuyến Meibomius nhô ra dạng sáp, rạch bằng kim tiêm và loại bỏ
Chích lẹo trong: Nếu điểm mủ rõ rệt, chích bằng kim tiêm 21~25G, dùng tăm bông lấy mủ, sau đó kê đơn kháng sinh
Tiêm steroid điều trị chắp: Dùng bơm tiêm 1mL và kim 2728G, tiêm triamcinolone acetonide 2mg (Kenacort-A® 40mg/mL với liều 0,05mL) vào khối u từ phía kết mạc. Tỷ lệ khỏi bệnh đạt 6090% sau 1~2 lần tiêm, hiệu quả tương đương phẫu thuật cắt bỏ chắp. Thời gian lành bệnh khoảng 5 ngày đến 2,5 tuần. Tiêm từ phía kết mạc thay vì từ phía da giúp ngăn ngừa lắng đọng trắng của thuốc và mất sắc tố da. Nếu không cải thiện sau 2 lần tiêm, cân nhắc điều trị IPL. Nếu nghi ngờ ung thư tuyến bã, tiến hành phẫu thuật và xét nghiệm giải phẫu bệnh
Bảo hiểm y tế: Chườm ấm, nặn meibum, loại bỏ plugging, chích lẹo trong được tính là “thủ thuật mắt”. Nặn meibum và loại bỏ plugging được chẩn đoán là “nhồi máu tuyến Meibomius”. Kenacort-A® không được bảo hiểm chi trả cho chẩn đoán “chắp” nhưng có thể yêu cầu thanh toán như “điều trị triệu chứng bệnh viêm vùng mắt ngoài”
Họ tetracycline: Doxycycline và minocycline có tính ưa mỡ cao hơn tetracycline, tích tụ trong mô mắt và mi mắt ở liều thấp1). Được sử dụng chủ yếu với mục đích chống viêm hơn là kháng khuẩn, kiểm soát viêm thông qua ức chế MMP-8, MMP-9, TNF-α, ức chế sản xuất lipase và ức chế sản xuất acid béo tự do1). Một RCT trên 60 ca báo cáo rằng nhóm dùng kết hợp minocycline cải thiện đáng kể tất cả các chỉ số lâm sàng và IL-6, IL-1β, IL-17α, TNF-α, IL-12p70 so với nhóm đối chứng1), 13). Tác dụng phụ bao gồm nhạy cảm ánh sáng và triệu chứng tiêu hóa, chống chỉ định ở phụ nữ mang thai và trẻ em14).
Azithromycin: Thuộc nhóm macrolide, gắn kết với tiểu đơn vị 50S ribosome 23S rRNA và ức chế tổng hợp protein của vi khuẩn. Ngoài tác dụng kháng khuẩn, còn có tác dụng ức chế biểu hiện NF-κB, IL-6, IL-8, TNF-α, MMP-9 và cảm ứng TGF-β1 chống viêm1). Dạng nhỏ mắt 1% (AzaSite®, Hoa Kỳ) được sử dụng, báo cáo có hiệu quả điều trị kéo dài 3 tháng sau khi dùng ngắn hạn. Azithromycin đường uống được sử dụng với phác đồ 500mg × 3 ngày, 3 chu kỳ (cách nhau 7 ngày) hoặc 1g × 3 tuần mỗi tuần một lần, nhưng có nguy cơ kéo dài QT, cần thận trọng ở bệnh nhân có tiền sử bệnh tim1).
Cyclosporine A 0.05% nhỏ mắt: Được FDA Hoa Kỳ phê duyệt dưới tên Restasis® cho bệnh khô mắt do giảm tiết nước mắt. Ức chế sản xuất IL-2 của tế bào T và phát huy tác dụng chống viêm1). Hiệu quả trên MGD đơn thuần còn hạn chế, Hướng dẫn của Nhãn khoa Nhật Bản 2023 khuyến cáo yếu không nên thực hiện3).
Lifitegrast 5.0% nhỏ mắt: Thuốc đối kháng LFA-1, được FDA Hoa Kỳ phê duyệt cho bệnh khô mắt. Bằng chứng chuyên biệt cho MGD chưa được thiết lập1).
Bổ sung axit béo omega-3: Bổ sung EPA/DHA làm thay đổi thành phần axit béo của meibum1). Thử nghiệm DREAM (n=499) báo cáo năm 2018 rằng không có sự khác biệt đáng kể về OSDI, Schirmer và BUT giữa nhóm omega-3 và nhóm đối chứng, và bằng chứng còn mâu thuẫn1). Hướng dẫn GL 2023 của Tạp chí Nhãn khoa Nhật Bản đưa ra khuyến nghị yếu vì đây được coi là thực phẩm bổ sung tại Nhật3).
Nhiễm Demodex tăng dần theo tuổi và đạt 100% ở người trên 70 tuổi1). Demodex folliculorum ký sinh ở chân lông mi, Demodex brevis ký sinh ở tuyến meibomian và tuyến bã, loài trước gây tăng sừng hóa phản ứng tạo vảy trụ (cylindrical dandruff), loài sau gây tắc tuyến và phản ứng u hạt1).
Dầu cây trà (TTO: từ Melaleuca alternifolia) có hiệu quả trong việc diệt ký sinh trùng1). Cụ thể, phác đồ sử dụng TTO 50% chà bờ mi tại phòng khám 1 lần/tuần và TTO 10% tại nhà hàng ngày trong 1 tháng đã được báo cáo giúp giảm viêm bờ mi, giảm IL-1β và IL-17 trong nước mắt, cải thiện triệu chứng kích ứng bề mặt nhãn cầu1). Hoạt chất diệt Demodex của TTO là terpinen-4-ol, và các sản phẩm thương mại như Cliradex® có sẵn1). Cũng có báo cáo cho thấy ivermectin đường uống 200 μg/kg liều đơn (ngày 0 và ngày 7) cải thiện số lượng Demodex, Schirmer và BUT ở bệnh viêm bờ mi sau kháng trị1).
Zhang và cộng sự đã báo cáo một trường hợp MGD ở nam 46 tuổi có biểu hiện bên ngoài nghèo nàn và xét nghiệm nhổ lông mi không phát hiện Demodex. Sau khi sát trùng bờ mi, 15 con D. brevis được phát hiện trực tiếp trong meibum ép ra, và triệu chứng cải thiện sau TTO lid scrub6). Đây là trường hợp quan trọng cho thấy soi trực tiếp meibum hữu ích trong phát hiện Demodex.
QMGD được chẩn đoán bằng những xét nghiệm nào?
A
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Nhóm nghiên cứu MGD Nhật Bản 2010, cần có cả 3 tiêu chí: (1) triệu chứng chủ quan như khó chịu ở mắt, (2) bất thường quanh lỗ tuyến meibomian (giãn mạch, di lệch MCJ, bờ mi không đều – ít nhất 1 dấu hiệu), (3) dấu hiệu tắc lỗ tuyến (plugging và giảm tiết meibum từ độ 2 trở lên theo Shimazaki). Hướng dẫn GL 2023 của Tạp chí Nhãn khoa Nhật Bản khuyến nghị thực hiện meibography và quan sát meibum.
QChườm ấm được thực hiện như thế nào?
A
Làm ướt khăn sạch và hâm nóng bằng lò vi sóng, hoặc đắp mặt nạ mắt nhiệt bán sẵn lên cả hai mắt trong 5–10 phút. Điều quan trọng là giữ nhiệt độ bờ mi khoảng 40°C; lưu ý khăn nóng dễ giảm nhiệt do bay hơi. Hướng dẫn GL 2023 CQ-18 của Tạp chí Nhãn khoa Nhật Bản khuyến nghị thực hiện 2 lần/ngày, mỗi lần ít nhất 5 phút. Xoa bóp nhẹ nhàng bờ mi sau khi chườm nóng giúp đẩy meibum đã hóa lỏng ra ngoài.
Tạp chí Nhãn khoa Nhật Bản GL 2023 BQ-1 tóm tắt bệnh lý chính của MGD thể giảm tiết là “tăng sừng hóa biểu mô ống dẫn và teo nang tuyến”3). Tài liệu nêu rõ teo nang tuyến có thể xảy ra không chỉ thứ phát sau tắc nghẽn tuyến Meibomius mà còn do tổn thương nguyên phát của tế bào tuyến do lão hóa.
Tiến triển từ tắc ống dẫn đến teo nang tuyến
Tăng sừng hóa biểu mô ống dẫn và tăng độ nhớt của meibum gây tắc các ống dẫn tận cùng1). Tắc nghẽn dẫn đến tăng áp lực trong nang tuyến, tiến triển đến teo và mất nang tuyến. Mất nang tuyến làm giảm tiết lipid, dẫn đến lớp lipid của màng nước mắt bị mỏng đi.
Tăng điểm nóng chảy của meibum
Meibum bình thường có điểm nóng chảy khoảng 19–32°C và duy trì trạng thái lỏng ở nhiệt độ bề mặt mắt 33–37°C1). Trong MGD, sự gia tăng các sphingolipid như ceramide làm tăng điểm nóng chảy của meibum; trong trường hợp nặng, meibum không hóa lỏng trừ khi được làm nóng trên 40°C1). Đây là cơ sở điều trị của phương pháp chườm ấm và xung nhiệt.
Ảnh hưởng của hormone giới tính
Androgen kích hoạt gen tổng hợp lipid trong tế bào meibocyte (tế bào tuyến Meibomius) và ức chế gen liên quan đến sừng hóa1). Thiếu hụt androgen, rối loạn chức năng thụ thể, hoặc sử dụng thuốc kháng androgen có liên quan đến MGD tắc nghẽn. Ngược lại, estrogen thúc đẩy dị hóa lipid và kích thích sản xuất các cytokine viêm như IL-6 và TNF-α1). Mối liên quan giữa liệu pháp hormone thay thế sau mãn kinh và khô mắt được giải thích một phần do giảm sản xuất androgen thượng thận thông qua ức chế trục dưới đồi–tuyến yên–tuyến thượng thận1).
Vai trò của vi khuẩn và viêm
Lipase do vi khuẩn thường trú ở bờ mi mắt (chủ yếu là tụ cầu khuẩn) sản sinh sẽ phân giải lipid của meibum, làm tăng axit béo tự do gây viêm1). Ở bệnh nhân viêm bờ mi, hoạt tính lipase gia tăng và sản xuất matrix metalloproteinase (MMP) đã được xác nhận. Nồng độ IL-1α, IL-1β trưởng thành, MMP-9, IL-6, IL-8, TNF-α trong nước mắt của bệnh nhân MGD tăng cao và tương quan với mức độ tổn thương biểu mô bề mặt nhãn cầu1). IL-1 thúc đẩy tăng sinh biểu mô và tăng sừng hóa, tạo thành vòng xoắn bệnh lý của MGD tắc nghẽn.
PPAR-γ (peroxisome proliferator-activated receptor γ) thuộc siêu họ thụ thể nhân, hoạt động như yếu tố phiên mã tham gia vào tổng hợp lipid và biệt hóa tế bào tuyến bã. Trong tế bào meibocyte, nó được cho là đóng vai trò quan trọng trong biệt hóa tế bào và tổng hợp lipid, và đang được chú ý như một mục tiêu làm sáng tỏ cơ chế bệnh sinh của MGD3).
Sphingolipid và điểm nóng chảy
Trong MGD, tỷ lệ ceramide và sphingolipid trong meibum gia tăng, làm giảm độ ổn định của màng lipid meibum1). Sự gia tăng hàm lượng ceramide trực tiếp làm tăng điểm nóng chảy của meibum, tạo ra trạng thái không hóa lỏng trừ khi được làm nóng trên 40°C. Sphingolipid không chỉ làm thay đổi tính chất lý hóa của meibum mà còn điều hòa các quá trình tế bào như tăng sinh, biệt hóa, apoptosis và viêm, làm cho bệnh sinh của MGD thêm phức tạp1).
Đái tháo đường và thay đổi bề mặt nhãn cầu
Đái tháo đường type 2 là yếu tố làm nặng thêm MGD. Nghiên cứu cắt ngang trên 302 mắt của Hao và cộng sự báo cáo rằng nhóm DED-DM có bờ mi trên không đều, giãn mạch bờ mi, độ tắc lỗ tuyến, dày bờ mi, mất tuyến Meibomian mi trên, sung huyết thể mi, và thời gian BUT không xâm lấn (NIBUT) xấu hơn đáng kể so với nhóm DED đơn thuần, và đường huyết tương quan có ý nghĩa với NIBUT, dày bờ mi và bờ mi không đều7). Cơ chế bệnh sinh được đề xuất là viêm mạn tính và tổn thương vi mạch lan đến bờ mi và mô tuyến.
LipiFlow Translucent Activator: Activator Clear, bộ kích hoạt bán trong suốt mới của LipiFlow, giúp dễ dàng xác nhận vị trí đặt nhờ chất liệu bán trong suốt. Nghiên cứu của Hu và cộng sự báo cáo tỷ lệ hoàn thành điều trị 100%2). Cải thiện triệu chứng chủ quan và điểm meibum đã được xác nhận trong vòng 3 tháng sau điều trị. Nghiên cứu theo dõi dài hạn của Blackie và cộng sự cho thấy một lần điều trị LipiFlow duy trì cải thiện tiết meibum và triệu chứng khô mắt trong 12 tháng, với 86% không cần điều trị bổ sung15).
Kích thích thần kinh trong mũi (intranasal neurostimulation): Kích thích xung thần kinh sàng trước trong khoang mũi thông qua phản xạ mũi-lệ gây tiết nước mắt. Trên thực nghiệm động vật, kích thích 3 phút mỗi ngày trong 3 tuần liên tục làm tăng lượng nước mắt, nồng độ lipid và protein, đồng thời giảm áp suất thẩm thấu nước mắt1). Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên người cho thấy Allergan TrueTear® Intranasal Tear Neurostimulator (ITN) kích thích sự thoát hạt của tế bào đài kết mạc, tăng chiều cao màng nước mắt, tăng nhiệt độ trung tâm mi dưới tại tuyến Meibomius, và tăng độ dày lớp dầu nước mắt1). Một thử nghiệm nhãn mở không ngẫu nhiên báo cáo rằng sử dụng từ 4 lần/ngày trong 180 ngày cải thiện chỉ số Schirmer, nhuộm giác mạc-kết mạc và triệu chứng chủ quan1). Hình thái tuyến Meibomius (diện tích, chu vi) thay đổi tức thì khi kích thích trong mũi, mở ra chiến lược điều trị mới thúc đẩy tiết meibum qua điều hòa thần kinh1).
Liệu pháp hormone sinh dục: Thử nghiệm đa trung tâm ngẫu nhiên của Schiffman và cộng sự ở giai đoạn báo cáo tóm tắt ARVO cho thấy thuốc nhỏ mắt testosterone tại chỗ (0,03%) sau 6 tháng cải thiện đáng kể độ nhớt của chất tiết tuyến Meibomius so với nhóm chứng1). Có nghiên cứu báo cáo androgen tại chỗ làm tăng độ dày lớp dầu nước mắt và BUT, nhưng hiện chưa có sản phẩm nhỏ mắt nào được phê duyệt tại Nhật Bản hay Hoa Kỳ1). Kem testosterone 5% ở phụ nữ mãn kinh (cải thiện OSDI), DHEA qua da ở bệnh nhân sau mãn kinh, và liệu pháp hormone thay thế ở phụ nữ cũng được bàn luận trong nhãn khoa nhưng đều thiếu bằng chứng và chưa được áp dụng lâm sàng thường quy1).
Thuốc đối kháng thụ thể IL-1 (Anakinra):Kineret™ (IL-1RA tái tổ hợp ở người) là một sinh phẩm được phê duyệt trong điều trị viêm khớp dạng thấp, và đã cho thấy hiệu quả khi sử dụng off-label trong bệnh khô mắt1). Vì IL-1 trong nước mắt của bệnh nhân MGD đóng vai trò trung tâm trong sinh bệnh học, đây là một mục tiêu điều trị đầy hứa hẹn, nhưng kết quả thử nghiệm lâm sàng trên MGD vẫn chưa được công bố1).
Thay đổi hình thái tuyến do IPL:Một nghiên cứu thuần tập trên 35 ca báo cáo rằng IPL làm tăng đường kính dài nhất của nang tuyến và tăng mật độ đơn vị, đồng thời làm giảm tế bào viêm quanh tuyến1). Điều này gợi ý khả năng phục hồi mô vượt xa điều trị triệu chứng đơn thuần.
Hồ sơ biểu hiện gen của tuyến Meibomius:Trong MGD, hơn 400 thay đổi biểu hiện gen của tuyến Meibomius đã được báo cáo. Các gen đáp ứng androgen, gen liên quan đến sừng hóa và gen liên quan đến tổng hợp lipid được coi là mục tiêu chính, và khả năng điều trị đích phân tử đang được nghiên cứu1).
Mibo Thermoflo®・IRPL・Laser mức thấp:Các thử nghiệm so sánh các thiết bị mới như thiết bị làm nóng ngoài, IRPL (ánh sáng dải rộng) và laser công suất thấp đang được tiến hành, nhưng chưa có thiết bị nào cho thấy hiệu quả vượt trội hơn LipiFlow được báo cáo tại thời điểm hiện tại1).
Hướng dẫn lâm sàng của Nhật Bản năm 2023 cũng chỉ ra những hạn chế về bằng chứng trong nhiều CQ, và việc tích lũy bằng chứng thông qua các RCT do Nhật Bản dẫn đầu được coi là thách thức trong tương lai3). Đặc biệt cần thiết lập quy trình chuẩn hóa cho điều trị bảo tồn có thể thực hiện tại Nhật Bản (chườm ấm, vệ sinh mi mắt, nặn meibum), các thử nghiệm trong nước để mở rộng chỉ định bảo hiểm cho doxycycline, azithromycin, v.v., và các thử nghiệm đa trung tâm để xin phê duyệt dược phẩm cho IPL và LipiFlow.
Sabeti S, Kheirkhah A, Yin J, Dana R. Management of meibomian gland dysfunction: a review. Surv Ophthalmol. 2020;65(2):205-217.
Hu JG, Dang VT, Chang DH, et al. Performance of a Translucent Activator for LipiFlow Vectored Thermal Pulse (VTP) Treatment of Meibomian Gland Dysfunction. Clin Ophthalmol. 2022;16:963-971.
Arita R, Itoh K, Inoue K, Amano S. Noncontact infrared meibography to document age-related changes of the meibomian glands in a normal population. Ophthalmology. 2008;115(5):911-915.
Zhang N, Liang L. Demodex in Meibum. Ophthalmology. 2024.
Hao Y, Wu B, Feng J, et al. Relationship between type 2 diabetes mellitus and changes of the lid margin, meibomian gland and tear film in dry eye patients: a cross-sectional study. 2024.
Jones L, Craig JP, Markoulli M, et al. TFOS DEWS III: Management and Therapy. Am J Ophthalmol. 2025.
Nelson JD, Shimazaki J, Benitez-del-Castillo JM, et al. The International Workshop on Meibomian Gland Dysfunction: Report of the Definition and Classification Subcommittee. Invest Ophthalmol Vis Sci. 2011;52(4):1930-1937.
Arita R, Minoura I, Morishige N, et al. Development of Definitive and Reliable Grading Scales for Meibomian Gland Dysfunction. Am J Ophthalmol. 2016;169:125-137.
Shimazaki J, Sakata M, Tsubota K. Ocular surface changes and discomfort in patients with meibomian gland dysfunction. Arch Ophthalmol. 1995;113(10):1266-1270.
Lee H, Min K, Kim EK, Kim TI. Minocycline controls clinical outcomes and inflammatory cytokines in moderate and severe meibomian gland dysfunction. Am J Ophthalmol. 2012;154(6):949-957.
Wladis EJ, Bradley EA, Bilyk JR, Yen MT, Mawn LA. Oral antibiotics for meibomian gland-related ocular surface disease: a Report by the American Academy of Ophthalmology. Ophthalmology. 2016;123(3):492-496. PMID: 26707417.
Blackie CA, Coleman CA, Holland EJ. The sustained effect (12 months) of a single-dose vectored thermal pulsation procedure for meibomian gland dysfunction and evaporative dry eye. Clin Ophthalmol. 2016;10:1385-1396. doi:10.2147/OPTH.S109663.
Arita R, Itoh K, Inoue K, Kuchiba A, Yamaguchi T, Amano S. Contact lens wear is associated with decrease of meibomian glands. Ophthalmology. 2009;116(3):379-384. doi:10.1016/j.ophtha.2008.10.012. PMID: 19167077.
Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.
Đã sao chép bài viết vào clipboard
Mở một trợ lý AI bên dưới và dán nội dung đã sao chép vào ô chat.