Bỏ qua đến nội dung
Điều chỉnh khúc xạ

Tầm quan trọng của việc kê đơn và lắp kính mắt

1. Tầm quan trọng của kê đơn và lắp kính

Phần tiêu đề “1. Tầm quan trọng của kê đơn và lắp kính”

Kê đơn kính (spectacle prescription) là việc lựa chọn và kê đơn độ kính, loại kính và gọng kính phù hợp để chỉnh tật khúc xạ (cận thị, viễn thị, loạn thị, lão thị). Đây không chỉ đơn thuần là xác định độ kính, mà là một hành vi y tế toàn diện bao gồm cảm giác đeo, chức năng thị giác hai mắt và cân nhắc về dị hình ảnh.

Tật khúc xạ là bệnh lý, và chỉnh khúc xạ là hành vi y tế1). Khác với kê đơn tại cửa hàng kính, kê đơn tại phòng khám mắt liên quan trực tiếp đến việc phát hiện và loại trừ bệnh lý mắt.

Thị lực 0,7 được coi là ngưỡng để xem xét kê đơn (lại) kính. Theo phân loại thị lực của Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản, nếu thị lực từ 0,7 trở lên, có thể đọc được chữ trên bảng từ ghế phía sau lớp học. Tiêu chuẩn đỗ bằng lái xe ô tô thông thường cũng là thị lực hai mắt 0,7.

Phân loạiThị lựcÝ nghĩa phân loại
A1,0 trở lênNhìn rõ chữ trên bảng từ ghế phía sau
B0,9–0,7Hầu như nhìn thấy chữ trên bảng từ ghế phía sau
C0,7–0,3Khó nhìn thấy chữ trên bảng từ ghế phía sau
DDưới 0,3Không nhìn rõ chữ trên bảng ngay cả từ ghế phía trước

Tỷ lệ sử dụng kính mắt ở người trưởng thành là 74,2% (bao gồm đeo thường xuyên, đeo khi cần và kết hợp với kính áp tròng), trong đó tỷ lệ đeo thường xuyên ở nam giới là 40,4% và nữ giới là 21,8%1). Độ tuổi bắt đầu sử dụng phổ biến nhất là từ trung học cơ sở đến trung học phổ thông, tiếp theo là độ tuổi 40-59 (nhu cầu kính nhìn gần do lão thị)1). Hơn một nửa dân số Nhật Bản bị cận thị, và kính mắt là phương tiện điều chỉnh khúc xạ phổ biến nhất.

Kempen và cộng sự đã báo cáo tỷ lệ hiện mắc ước tính của cận thị (tương đương cầu ≤ -1D) ở người từ 40 tuổi trở lên là 25,4% tại Mỹ, 26,6% tại Tây Âu và 16,4% tại Úc, viễn thị (+3D trở lên) là 9,9% tại Mỹ, 11,6% tại Tây Âu và 5,8% tại Úc, ước tính khoảng 1/3 người từ 40 tuổi trở lên tại Mỹ và Tây Âu và khoảng 1/5 tại Úc mắc tật khúc xạ10). Tỷ lệ hiện mắc khác nhau tùy theo độ tuổi nghiên cứu, định nghĩa tật khúc xạ và khu vực. Tại Nhật Bản, sự tiến triển của cận thị đã trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng, và hướng dẫn về kính mắt quản lý cận thị đã được xây dựng vào năm 20252).

Q Tại sao nên khám kính mắt tại cơ sở nhãn khoa?
A

Khi khám kính mắt tại cơ sở nhãn khoa, ngoài việc xác định độ kính điều chỉnh khúc xạ phù hợp, còn có thể phát hiện sớm các bệnh về mắt như đục thủy tinh thể, glôcôm, nhược thị, lác, v.v. Tật khúc xạ là một bệnh lý và việc điều chỉnh nó là một hành vi y tế1). Đo thị lực tại cửa hàng kính không thể chẩn đoán hoặc loại trừ bệnh lý, do đó, khi kê đơn lần đầu hoặc thay đổi độ kính, nên đến khám tại cơ sở nhãn khoa.

2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng

Phần tiêu đề “2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”

Nếu kính mắt không được kê đơn phù hợp, có thể xuất hiện nhiều triệu chứng chủ quan khác nhau.

Triệu chứng do điều chỉnh thiếu hoặc điều chỉnh thừa

Phần tiêu đề “Triệu chứng do điều chỉnh thiếu hoặc điều chỉnh thừa”
  • Điều chỉnh thiếu: Thị lực kém, mỏi mắt, đau đầu, khó nhìn gần
  • Điều chỉnh thừa (cận thị): Mỏi mắt do tiêu hao quá mức khả năng điều tiết, đặc biệt khi làm việc nhìn gần
  • Điều chỉnh thừa viễn thị: Khó chịu, thị lực kém
  • Lệch trục loạn thị: Cảm giác nghiêng, méo mó, rối loạn cảm giác không gian ba chiều

Trong kê đơn kính cho người trưởng thành, điều quan trọng là dựa trên thị lực tốt nhất với điều chỉnh hoàn toàn, nhưng kê đơn độ kính có thể đeo thoải mái hàng ngày. Nếu điều chỉnh hoàn toàn cận thị nặng hoặc loạn thị xiên có thể gây méo mó và khó đeo1).

Bất đồng hình (aniseikonia) là tình trạng có sự khác biệt về kích thước hình ảnh giữa hai mắt. Thấu kính lồi gây phóng đại, thấu kính lõm gây thu nhỏ, do đó dễ xảy ra khi điều chỉnh dị hình bằng kính mắt.

Viễn thị tiềm ẩn thường bị bỏ qua ở trẻ em do thị lực không kính tốt. Khi tuổi tác tăng, khả năng điều tiết giảm dẫn đến mất bù, bắt đầu bằng rối loạn thị lực nhìn gần và lan rộng ra khoảng cách trung gian và xa. Triệu chứng đặc trưng là nặng hơn vào buổi chiều tối và ban đêm.

Q Aniseikonia là gì?
A

Aniseikonia là tình trạng chênh lệch kích thước hình ảnh giữa hai mắt do sự khác biệt về độ kính của hai mắt. Thông thường, mức chênh lệch 2% trở xuống được coi là chấp nhận được, và chênh lệch độ kính khoảng 1,5–2,0 D là ngưỡng tham khảo, nhưng khả năng chịu đựng khác nhau ở mỗi người, do đó cần kiểm tra thị giác bằng kính thử cho từng bệnh nhân 1). Triệu chứng đặc trưng bao gồm cảm giác cửa xoay và cảm giác nghiêng, và biến mất khi che một mắt, đây là dấu hiệu chẩn đoán phân biệt.

  • Cận thị: Tia sáng song song hội tụ trước võng mạc. Nguyên nhân chính là trục nhãn cầu dài (cận thị trục). Điều chỉnh bằng thấu kính phân kỳ
  • Viễn thị: Tia sáng song song hội tụ sau võng mạc. Khi khả năng điều tiết không đủ, cả nhìn xa và nhìn gần đều kém. Điều chỉnh bằng thấu kính hội tụ
  • Loạn thị: Độ cong của giác mạc hoặc thủy tinh thể khác nhau theo các kinh tuyến, khiến tiêu điểm không tập trung thành một điểm. Điều chỉnh bằng thấu kính trụ
  • Lão thị: Do tuổi tác, thủy tinh thể mất tính đàn hồi, khả năng điều tiết giảm, không thể lấy nét ở cự ly gần. Xử lý bằng cách cộng thêm độ (thấu kính hội tụ)
  • Dị hình thị: Chênh lệch độ khúc xạ lớn giữa hai mắt. Có nguy cơ gây aniseikonia và nhược thị

Yếu tố nguy cơ của chỉ định kính không phù hợp

Phần tiêu đề “Yếu tố nguy cơ của chỉ định kính không phù hợp”
  • Xác định độ kính không chính xác do bỏ qua khám khúc xạ dưới giãn đồng tử (đặc biệt ở trẻ em và người trẻ)
  • Bỏ sót rối loạn điều tiết, lác, hoặc bệnh lý thực thể
  • Thiếu thông tin về môi trường sử dụng (khoảng cách màn hình máy tính, chơi nhạc cụ, v.v.)
  • Thay đổi khoảng cách đỉnh-giác mạc và góc nghiêng do lắp kính không phù hợp
  • Thiếu cân nhắc về chứng bất đồng hình
Hình ảnh kiểm tra khúc xạ khách quan bằng máy đo khúc xạ tự động
Ajeeshkumar4u. Autorefractometry. Wikimedia Commons. 2024. Source ID: https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Autorefractometry.jpg. License: CC BY-SA 4.0. License URL: https://creativecommons.org/licenses/by-sa/4.0/.
Cảnh người khám đang vận hành máy đo khúc xạ tự động (autorefractometer) để đo khúc xạ khách quan của bệnh nhân. Tương ứng với phần đo khúc xạ khách quan bằng máy đo khúc xạ tự động được đề cập trong mục “4. Phương pháp chẩn đoán và xét nghiệm”.
Hình ảnh kiểm tra khúc xạ chủ quan bằng phoropter
Ostrowsky B. Man at Phoropter. Wikimedia Commons. 2006. Source ID: https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Man_at_Phoropter.jpg. License: CC BY 2.0. License URL: https://creativecommons.org/licenses/by/2.0/.
Cảnh bệnh nhân áp mặt vào bộ phận thị kính của phoropter (máy đo khúc xạ tổng hợp) và đang thực hiện kiểm tra khúc xạ chủ quan trong khi xác nhận thị lực. Tương ứng với phần kiểm tra khúc xạ chủ quan (xác định độ kính chủ quan sau khi đo khúc xạ khách quan bằng máy đo khúc xạ tự động) được đề cập trong mục “4. Phương pháp chẩn đoán và xét nghiệm”.

Quy trình kiểm tra cho người lớn

Hỏi về mục đích sử dụng: Nắm rõ tình huống và khoảng cách thị giác khi sử dụng như lái xe, làm việc với máy tính, chơi nhạc cụ, thể thao, v.v.

Kiểm tra kính đang đeo: Xác nhận độ kính hiện tại bằng lensmeter.

Kiểm tra khúc xạ: Đo giá trị khách quan bằng máy đo khúc xạ tự động, sau đó xác định độ kính cuối cùng bằng kiểm tra chủ quan.

Kiểm tra điều tiết: Đánh giá lượng điều tiết và sử dụng để tính độ cận thị cho khoảng nhìn gần.

Đo PD: Đo khoảng cách đồng tử và ghi vào đơn kính.

Quy trình kiểm tra cho trẻ em

Kiểm tra khúc xạ dưới liệt điều tiết: Thuốc liệt điều tiết được lựa chọn dựa trên vị trí mắt và độ tuổi3). Nếu có lác trong, dùng thuốc nhỏ mắt atropine sulfate ngay từ đầu, và nếu có viễn thị thì kê đơn kính chỉnh kính hoàn toàn3). Vì trục loạn thị được phát hiện chính xác, trường hợp loạn thị nặng cũng nên dùng thuốc nhỏ mắt atropine sulfate3). Ở trẻ em không có lác trong, thường nhỏ 1 giọt cyclopentolate hydrochloride vào mỗi mắt, sau 5 phút nhỏ thêm 1 giọt nữa, và tiến hành kiểm tra khúc xạ sau 45 phút3). Nếu qua kiểm tra đó xác định cần đeo kính do nhược thị do lác trong mắc phải hoặc viễn thị, thì nhỏ atropine sulfate có tác dụng liệt điều tiết mạnh hơn vào mỗi mắt 1-3 lần/ngày trong 5 ngày và kiểm tra lại3). Atropine sulfate là thuốc độc/dược tính mạnh, hiệu quả giãn đồng tử và liệt điều tiết kéo dài 2-3 tuần nên không được dùng tùy tiện3). Thuốc, nồng độ và số lần nhỏ do bác sĩ nhãn khoa quyết định dựa trên tuổi, vị trí mắt, v.v.

Đo chiều dài trục nhãn cầu: Khuyến cáo đo bằng giao thoa kế laser 2). Dùng để theo dõi tiến triển cận thị.

Đánh giá chức năng thị giác hai mắt: Đánh giá nghiệm pháp che mắt, thị giác lập thể nhìn gần, và độ trễ điều tiết.

Khám đáy mắt: Cần thiết để loại trừ nhược thị và bệnh lý thực thể.

Xét nghiệm trước khi kê kính quản lý cận thị

Phần tiêu đề “Xét nghiệm trước khi kê kính quản lý cận thị”

Trước khi kê kính quản lý cận thị (thấu kính đa tiêu), cần đánh giá các yếu tố sau 2).

Không thể coi việc kết hợp kính quản lý cận thị với các phương pháp quản lý cận thị khác là điều trị tiêu chuẩn đồng nhất. Hướng dẫn về kính quản lý cận thị cho rằng hiện tại bằng chứng về việc kết hợp với thuốc nhỏ atropine nồng độ thấp còn hạn chế, do đó phương pháp điều trị cần được xem xét riêng cho từng trường hợp 2).

Q Tại sao cần dùng thuốc liệt điều tiết khi kê kính cho trẻ em?
A

Do trẻ em có khả năng điều tiết mạnh, khi kê kính cần đánh giá độ khúc xạ thực tế dưới tác dụng của thuốc liệt điều tiết3). Nếu không dùng thuốc liệt điều tiết, sự điều tiết có thể xảy ra, dẫn đến đánh giá cận thị quá mức hoặc viễn thị quá thấp so me với thực tế. Nếu có lác trong thì dùng atropine sulfate, nếu không có lác trong thì thường dùng cyclopentolate hydrochloride3). Ngay cả với loạn thị nặng, atropine sulfate cũng được dùng vì có thể phát hiện chính xác trục loạn thị3).

5. Phương pháp điều trị tiêu chuẩn (Loại kính và thực tế kê đơn)

Phần tiêu đề “5. Phương pháp điều trị tiêu chuẩn (Loại kính và thực tế kê đơn)”
Gọng kính thử (trial frame) dùng để kê đơn kính
Ajeeshkumar4u. Ophthalmic trial frame. Wikimedia Commons. 2022. Source ID: https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Ophthalmic_trial_frame.jpg. License: CC BY-SA 4.0. License URL: https://creativecommons.org/licenses/by-sa/4.0/.
Hình ảnh gọng kính thử (trial frame) dùng để đeo thấu kính chỉnh tật khúc xạ và kiểm tra thị lực. Tương ứng với phần khám khúc xạ chủ quan và cài đặt độ kính được đề cập trong mục “5. Phương pháp điều trị tiêu chuẩn (Loại kính và thực tế kê đơn)”.

Nguyên tắc cơ bản khi cài đặt độ kính

Phần tiêu đề “Nguyên tắc cơ bản khi cài đặt độ kính”

Ở trẻ em, khả năng điều tiết vượt quá 10D và khả năng thích ứng cảm giác cũng mạnh. Về nguyên tắc, có thể chỉnh khúc xạ hoàn toàn. Tuy nhiên, khi tuổi tác tăng, khả năng điều tiết giảm và cần cân nhắc về quang học.

Các trường hợp ngoại lệ (người lớn) mà chỉnh cận thị dưới mức là phù hợp 1):

  • Khi cận thị cao, hiệu ứng phóng đại của kính lớn và không đạt được vault thỏa đáng.
  • Khi cận thị ở độ tuổi lão thị đóng vai trò bù trừ cho thị lực nhìn gần (cận thị trong khoảng -3D có lợi ở độ tuổi lão thị)
  • Người trẻ có điều tiết mạnh, dễ bị điều chỉnh quá mức

Dưới đây là mức độ cộng thêm cho nhìn gần theo độ tuổi ở mắt chính thị.

TuổiMức độ cộng thêm tham khảo
52 tuổi+0.50D
56 tuổi+1.00D
60 tuổi+1.50D
64 tuổi+2.00D
68 tuổi+2.50D

Nếu có độ cận thị hiện tại, hãy trừ độ cận thị đó để tính độ cộng thêm (ví dụ: người 56 tuổi bị cận −0,5D thì độ kính nhìn gần là +0,50D thay vì +1,00D).

Kính một tròng

Chỉ định: Cơ bản để điều chỉnh cận thị, viễn thị, loạn thị. Được kê đơn riêng cho nhìn xa và nhìn gần.

Đặc điểm: Đơn giản, dễ làm quen. Thường được làm riêng cho nhìn xa và nhìn gần.

Chất liệu: Kính hai mặt phi cầu có chiết suất siêu cao (1,74–1,76) có thể kê đến −20D.

Kính đa tròng tiến triển

Chỉ định: Kính đa tiêu chuẩn cho lão thị.

Đặc điểm: Không có đường ranh giới, không bị nhảy hình. Tuy nhiên, hai bên vùng chuyển tiếp xuất hiện vùng loạn thị.

Lưu ý: Độ cộng càng cao, chiều dài vùng chuyển tiếp càng ngắn thì vấn đề loạn thị càng rõ rệt.

Kính trung-cận và kính cận-cận

Chỉ định: Dành riêng cho khoảng cách trung bình đến gần như làm việc với máy tính, thủ công, chơi nhạc cụ.

Đặc điểm: Cung cấp vùng nhìn gần rộng, ít loạn thị.

Kính kiểm soát cận thị (kính đa phân đoạn)

Độ tuổi: Độ tuổi đối tượng trong thử nghiệm lâm sàng là MiYOSMART® từ 5–18 tuổi, Essilor® Stellest® từ 7–18 tuổi. Không khuyến cáo cho trẻ dưới 5 tuổi; độ tuổi cuối cùng do bác sĩ nhãn khoa quyết định2).

Đối tượng: Dựa trên độ cầu tương đương dưới liệt điều tiết, cả hai mắt có cận thị từ −0,5D trở lên, và xem xét chỉ định dựa trên tiến triển cận thị, tiền sử gia đình, v.v. 2).

Hiệu quả: Tỷ lệ ức chế tiến triển cận thị trung bình trong 2 năm là 55–59% 2).

Aniseikonia thường được chấp nhận ở mức 2% trở xuống, và chênh lệch độ kính khoảng 1,5–2,0D là ngưỡng tham khảo. Tuy nhiên, khả năng chịu đựng khác nhau ở mỗi người, do đó cần kiểm tra bằng kính thử cho từng trường hợp 1).

Ba phương pháp xử trí điển hình như sau:

  1. Giảm độ trụ: Giữ vòng tròn ít khuếch tán nhất ổn định bằng cách cộng một nửa độ trụ vào độ cầu (ví dụ: đổi −1,00D=−cyl2,50D A135° thành −1,50D=−cyl1,50D A135°)
  2. Dịch chuyển trục: Dịch chuyển về hướng 90° hoặc 180° để giảm thị sai cắt. Dịch chuyển trục không quá 15° vì sẽ làm tăng loạn thị còn lại
  3. Rút ngắn khoảng cách đỉnh giác mạc: Đưa gọng kính lại gần mặt để giảm hiệu ứng phóng đại

Được sử dụng để điều chỉnh lác và song thị. Phạm vi có thể xử lý bằng lăng kính tích hợp phụ thuộc vào độ kính, nhưng thường khoảng 5–10Δ; nếu vượt quá, cân nhắc dùng màng Fresnel. Với màng Fresnel trên 10Δ, cần chú ý giảm thị lực do quang sai 1). Đơn kính cần ghi rõ loại lăng kính, độ và hướng đáy.

Chỉnh kính cho mắt cận thị nặng gây thu nhỏ ảnh. So với kính áp tròng (CL), kính áp tròng mềm làm tăng quang sai bậc cao, kính áp tròng cứng gây thị lực không ổn định do chuyển động của kính. Kính gọng có hiệu ứng điều tiết biểu kiến và hiệu ứng lăng kính, đặc biệt hiệu quả ở tuổi trung niên trở lên.

Lưu ý khi chỉ định kính cho cận thị nặng (từ −6D trở lên) 1):

  • Hiệu ứng khoảng cách đỉnh giác mạc: Đưa kính ra trước hoặc ra sau làm thay đổi độ hiệu dụng. Ở cận thị nặng, thay đổi nhỏ khoảng cách đỉnh giác mạc cũng ảnh hưởng lớn
  • Thu nhỏ ảnh: Thấu kính phân kỳ mạnh làm thu nhỏ ảnh, khiến vật nhỏ hơn và xa hơn. Đặc biệt khi bắt đầu đeo kính mới, cần chú ý khi đi bộ và nhận biết bậc thang
  • Hiệu ứng lăng kính: Thấu kính lõm tạo ra hiệu ứng lăng kính khi nhìn qua ngoài trục chính. Việc lắp kính đúng cách là rất quan trọng
  • Lựa chọn thấu kính mỏng: Thấu kính siêu chiết suất cao (1,74–1,76) giúp giảm độ dày, cải thiện ngoại hình và trọng lượng

Nguyên tắc kê đơn kính cho các bệnh lý mắt khác nhau

Phần tiêu đề “Nguyên tắc kê đơn kính cho các bệnh lý mắt khác nhau”

Hướng dẫn kê đơn kính cho người lớn (năm 2025) mô tả chi tiết về việc kê đơn cho mắt bệnh lý1).

  • Bệnh lý giác mạc (như giác mạc hình chóp): Kính cầu vẫn hữu ích cho các trường hợp nhẹ không thể quản lý bằng kính áp tròng RGP. Loạn thị không đều không thể điều chỉnh bằng kính
  • Mắt giả thể thủy tinh: Sau phẫu thuật đục thủy tinh thể, có thể xảy ra sai lệch khúc xạ tồn dư do công suất IOL. Cận thị hoặc viễn thị trục tồn dư được xử lý bằng kính đơn tiêu hoặc kính lũy tiến
  • Rối loạn điều tiết (suy điều tiết, co thắt điều tiết): Điều chỉnh kính nhìn gần phù hợp và các biện pháp chống mỏi mắt là quan trọng
  • Bệnh võng mạc (AMD, RP, v.v.): Kê đơn cho mắt thị lực kém nhằm tối đa hóa chức năng thị giác, cân nhắc kết hợp với kính chống chói và kính lúp nếu cần

Chi phí điều trị cho kính điều trị nhược thị ở trẻ em

Phần tiêu đề “Chi phí điều trị cho kính điều trị nhược thị ở trẻ em”

Đối với trẻ em dưới 9 tuổi, nếu bác sĩ bảo hiểm xác định cần kính hoặc kính áp tròng để điều trị nhược thị, lác, hoặc sau phẫu thuật đục thủy tinh thể bẩm sinh, có thể được chi trả phí điều trị11). Ban đầu người bệnh tự trả toàn bộ chi phí, sau đó nộp đơn xin hoàn trả. Mức chi trả tối đa là 40.492 yên (từ tháng 4 năm 2024; mức tối đa có thể điều chỉnh), và số tiền chi trả nằm trong phạm vi này tùy theo tỷ lệ đồng chi trả của bảo hiểm y tế tham gia. Các dụng cụ che mắt như miếng che mắt (eyepatch) và lăng kính màng Fresnel không thuộc đối tượng chi trả. Điều kiện cấp lại là phải qua ít nhất 1 năm kể từ lần cấp trước đối với trẻ dưới 5 tuổi, và 2 năm đối với trẻ từ 5 tuổi trở lên. Hồ sơ xin cấp bao gồm đơn xin chi trả phí điều trị, bản sao giấy chỉ định làm kính điều trị (đơn kính) của bác sĩ bảo hiểm (bác sĩ nhãn khoa), và hóa đơn mua kính điều trị. Một phần chi phí tự trả có thể được hỗ trợ bởi chương trình hỗ trợ chi phí y tế cho trẻ em của chính quyền địa phương, nhưng nội dung chương trình tùy thuộc vào từng địa phương. Cần xác nhận thông tin mới nhất với bảo hiểm y tế đang tham gia.

Đối với trẻ em hoặc những trường hợp chức năng thị giác một mắt đặc biệt quan trọng, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ nhãn khoa về chất liệu thấu kính và nhu cầu kính bảo hộ dựa trên tình trạng sinh hoạt và nguy cơ chấn thương. Khả năng chống va đập và sự phù hợp của từng chất liệu cần được xác nhận theo tiêu chuẩn sản phẩm và mục đích sử dụng.

Quy trình khám kê đơn kính (người lớn – chi tiết)

Phần tiêu đề “Quy trình khám kê đơn kính (người lớn – chi tiết)”

Quy trình khám ngoại trú dựa trên Hướng dẫn khám thị lực và kê đơn kính cho người lớn (năm 2025)1).

  1. Hỏi về mục đích sử dụng: Nắm rõ các tình huống và khoảng cách nhìn như lái xe, làm việc với máy tính bàn (khoảng cách màn hình 40–80 cm), điện thoại thông minh (30–40 cm), chơi nhạc cụ (khoảng cách bản nhạc 50–70 cm), công việc cận (khoảng 30 cm), v.v.
  2. Kiểm tra kính đang đeo: Đo độ cầu, độ trụ và lăng kính của kính hiện tại bằng lensmeter. Hỏi về tình trạng đeo, mức độ hài lòng và các điểm không hài lòng
  3. Đo khúc xạ khách quan: Đo độ cầu, độ trụ và trục bằng máy đo khúc xạ tự động. Thực hiện ít nhất 3 lần để kiểm tra độ tái lập
  4. Đo khúc xạ chủ quan: Tinh chỉnh lần lượt độ cầu, độ trụ, trục bằng phoropter hoặc khung thử. Mục tiêu là MPMVA (cộng tối đa cho thị lực tốt nhất)
  5. Kiểm tra điều tiết: Đánh giá khả năng điều tiết. Dùng để tính độ cộng cho nhìn gần. Nếu có độ trễ điều tiết, cân nhắc thêm độ cộng cho nhìn gần
  6. Đo thị lực: Ghi lại thị lực đã chỉnh cho nhìn xa và nhìn gần (33 cm)
  7. Đo khoảng cách đồng tử (PD): Đo chính xác PD nhìn xa và PD nhìn gần. Sai số PD dẫn đến sai số lăng kính
  8. Viết đơn kính: Ghi rõ độ cầu, độ trụ, trục, độ cộng, lăng kính, PD và khoảng cách đỉnh giác mạc

Các loại thuốc liệt điều tiết và cách sử dụng

Phần tiêu đề “Các loại thuốc liệt điều tiết và cách sử dụng”

Ở trẻ em, người trẻ và người lớn nghi ngờ viễn thị tiềm ẩn, thuốc liệt điều tiết rất quan trọng3).

ThuốcNồng độCách nhỏ mắtĐặc điểm
Cyclopentolate hydrochlorideBác sĩ nhãn khoa quyết địnhNhỏ 1 giọt mỗi mắt → sau 5 phút nhỏ thêm 1 giọt mỗi mắt → kiểm tra sau 45 phútThường dùng ở trẻ em không có lác trong
Atropine sulfateDo bác sĩ nhãn khoa quyết địnhNhỏ cả hai mắt 1-3 lần/ngày × 5 ngày → khám lạiDùng khi có lác trong. Nên dùng cả trong trường hợp loạn thị nặng vì giúp phát hiện chính xác trục loạn thị. Cũng dùng khi xác định cần kính do nhược thị do lác trong mắc phải hoặc viễn thị
TropicamideDo bác sĩ nhãn khoa quyết địnhNhỏ 1 giọt mỗi mắt → khám sau 20-30 phútTác dụng liệt điều tiết tương đối yếu, đôi khi dùng cho học sinh trung học trở lên

Thuốc liệt điều tiết có tác dụng phụ và thời gian tác dụng. Atropine sulfate có thể gây sốt, đỏ mặt; cyclopentolate hydrochloride có thể gây buồn ngủ. Cần tuân theo hướng dẫn và chỉ định của bác sĩ nhãn khoa 3).

Q Kính kiểm soát cận thị có chữa được cận thị không?
A

Kính kiểm soát cận thị không chữa khỏi cận thị mà chỉ làm chậm tiến triển. MiYOSMART® và Essilor® Stellest® đã được báo cáo làm chậm tiến triển cận thị trung bình 55-59% trong các thử nghiệm lâm sàng 2 năm 2). Không có báo cáo về hiệu ứng bật lại sau khi ngừng, có thể ngừng bất cứ lúc nào vì bất kỳ lý do gì. Thời điểm kết thúc thường là 18±2 tuổi, tiếp tục cho đến khi tiến triển cận thị ổn định, sau đó nếu không có thay đổi về độ khúc xạ hoặc chiều dài trục nhãn cầu trong hai lần khám liên tiếp cách nhau 6 tháng thì có thể xem xét ngừng 2).

6. Sinh lý bệnh học và cơ chế bệnh sinh chi tiết

Phần tiêu đề “6. Sinh lý bệnh học và cơ chế bệnh sinh chi tiết”

Điều chỉnh quang học của tật khúc xạ

Phần tiêu đề “Điều chỉnh quang học của tật khúc xạ”

Kính đeo được đặt cách đỉnh giác mạc một khoảng, do đó hình ảnh có thể phóng đại (thấu kính lồi) hoặc thu nhỏ (thấu kính lõm) tùy theo độ. Thấu kính lồi đưa vật ở gần vào trong tiêu cự, với mắt viễn thị, nó di chuyển tiêu điểm từ phía sau võng mạc lên võng mạc. Thấu kính lõm làm phân kỳ các tia sáng song song, với mắt cận thị, nó di chuyển tiêu điểm từ phía trước võng mạc ra phía sau để tạo tiêu điểm trên võng mạc.

Khi có sự khác biệt về độ khúc xạ giữa hai mắt, việc kính đeo chỉnh quang hoàn toàn sẽ tạo ra sự khác biệt về kích thước hình ảnh giữa hai mắt (aniseikonia). Thấu kính lồi có tác dụng phóng đại, thấu kính lõm có tác dụng thu nhỏ, và khoảng cách đỉnh giác mạc càng lớn thì hiệu ứng phóng đại càng tăng. Thấu kính hình trụ điều chỉnh loạn thị gây ra aniseikonia kinh tuyến do độ phóng đại khác nhau theo hướng kinh tuyến.

Trong lão thị, do độ đàn hồi của thủy tinh thể giảm, khả năng điều tiết bị thiếu hụt, không thể lấy nét ở cự ly gần. Độ cộng thêm (add) bù đắp sự thiếu hụt điều tiết bằng cách thêm độ cộng thêm vào phần nhìn gần, và không được xác định đồng nhất chỉ dựa trên tuổi tác mà cần điều chỉnh dựa trên khoảng cách làm việc và khả năng điều tiết còn lại1).

Sinh lý của điều tiết và liệt điều tiết

Phần tiêu đề “Sinh lý của điều tiết và liệt điều tiết”

Điều tiết được thực hiện nhờ sự co cơ thể mi, giãn dây chằng Zinn và phồng lên của thủy tinh thể. Khả năng điều tiết giảm dần theo tuổi tác, và để bù đắp cho nhu cầu điều tiết khi nhìn gần, người ta sử dụng kính lão hoặc độ cộng thêm của kính đa tiêu cự1).

Độ trễ điều tiết (accommodative lag) là tình trạng tiêu điểm thực tế nằm phía sau so với khoảng cách nhìn (Near Lag), đặc biệt có vấn đề ở người trẻ bị cận thị. Sự lệch tiêu viễn thị ở vùng ngoại vi võng mạc được cho là tín hiệu kéo dài trục nhãn cầu, thúc đẩy tiến triển cận thị. Kính quản lý cận thị (kính đa tiêu) chuyển đổi sự lệch tiêu ngoại vi này thành cận thị để ức chế kéo dài trục nhãn cầu8).

Yếu tố quang học và chiều dài trục nhãn cầu trong cận thị

Phần tiêu đề “Yếu tố quang học và chiều dài trục nhãn cầu trong cận thị”

Cơ chế chính của tiến triển cận thị là kéo dài trục nhãn cầu (cận thị trục). Khi trục nhãn cầu dài thêm 1mm, sai số khúc xạ thay đổi khoảng −2,5 đến −3,0D. Sự kéo dài trục nhãn cầu chủ yếu do giãn củng mạc, và tín hiệu lệch tiêu võng mạc được cho là điều chỉnh sự phát triển của nhãn cầu9). Nghiên cứu của Bullimore và cộng sự cho thấy việc ức chế tiến triển cận thị 1D làm giảm đáng kể nguy cơ suy giảm thị lực và cận thị bệnh lý trong tương lai7), do đó ngay cả việc ức chế tiến triển cận thị một chút cũng có ý nghĩa lâu dài lớn.

Kính quản lý cận thị (kính đa tiêu) có thiết kế quang học kiểm soát sự lệch tiêu ở vùng ngoại vi. Công nghệ DIMS (MiYOSMART®) và HALT (Stellest®) được cho là tạo ra sự lệch tiêu cận thị ở vùng ngoại vi võng mạc, gửi tín hiệu ức chế kéo dài trục nhãn cầu. Thiết kế này duy trì thị lực trung tâm tốt với độ chỉnh quang hoàn toàn, đồng thời kiểm soát lệch tiêu ở thị giác ngoại vi2).

Bằng chứng về hiệu quả của kính quản lý cận thị:

  • MiYOSMART® (HOYA, công nghệ DIMS): Trong thử nghiệm RCT kéo dài 2 năm, ức chế 52% tiến triển độ tương đương cầu và 62% kéo dài trục nhãn cầu5)
  • Essilor Stellest® (Nikon-Essilor, công nghệ HALT): Trong thử nghiệm RCT kéo dài 2 năm, ức chế 67% tiến triển độ tương đương cầu (thời gian đeo ≥12 giờ/ngày)6)
  • Chưa có báo cáo về hiệu ứng bật lại sau khi ngừng đeo, có thể ngừng bất cứ lúc nào. Thời điểm kết thúc là 18±2 tuổi, hoặc khi khám 6 tháng một lần không thấy thay đổi về độ khúc xạ và chiều dài trục nhãn cầu trong 2 lần liên tiếp2)

Khác với kính áp tròng, kính gọng không tạo thành thấu kính nước mắt. Do đó, loạn thị không đều không thể điều chỉnh bằng kính gọng mà cần kính áp tròng thấm khí (RGP) hoặc kính củng mạc.

Hướng dẫn về kiểm tra thị lực và kê đơn kính cho người lớn (năm 2025) nhấn mạnh việc lắp kính là một phần của đơn kính1). Các điểm kiểm tra lắp kính tại phòng khám bao gồm:

  • Khoảng cách đỉnh-giác mạc (BVD): Thường 12-14 mm. Khoảng cách càng ngắn, hiệu ứng thu nhỏ của thấu kính lồi và phóng đại của thấu kính lõm càng thay đổi
  • Góc nghiêng trước: Góc thẳng đứng của gọng kính. Góc nghiêng trước càng lớn, độ loạn thị càng tăng
  • Khoảng cách đồng tử (PD) và độ lệch tâm quang học của thấu kính: Sai lệch lăng kính có thể gây song thị và mỏi mắt
  • Chiều cao miếng đệm mũi và chiều rộng gọng kính: Sự xê dịch khi đeo làm thay đổi hiệu quả độ kính

Khuyến nghị phối hợp với kỹ thuật viên chế tạo kính (chứng chỉ quốc gia). Đối với kính quản lý cận thị, kỹ thuật viên chế tạo kính được coi là người chế tạo lý tưởng2).

7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai

Phần tiêu đề “7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai”

Phổ biến kính mắt kiểm soát cận thị và phát triển sản phẩm trong tương lai

Phần tiêu đề “Phổ biến kính mắt kiểm soát cận thị và phát triển sản phẩm trong tương lai”

Dân số cận thị trên thế giới được dự đoán sẽ đạt 4,9 tỷ người (trong đó có 940 triệu người cận thị nặng) vào năm 2050, từ 1,3 tỷ người vào năm 20004). Hiện tại, hai sản phẩm được khuyến cáo trong hướng dẫn là MiYOSMART® và Essilor® Stellest®, trong khi MYOGEN®, MyoCare® và thấu kính DOT sẽ được đánh giá lại trong các bản cập nhật sau2). Bullimore và cộng sự đã chỉ ra rằng kiểm soát tiến triển cận thị 1D làm giảm đáng kể nguy cơ suy giảm thị lực trong tương lai7).

Phát triển hệ thống kỹ thuật viên chế tạo kính mắt

Phần tiêu đề “Phát triển hệ thống kỹ thuật viên chế tạo kính mắt”

Nhằm chuẩn hóa việc lắp khung kính, hệ thống kỹ thuật viên chế tạo kính mắt (chứng chỉ quốc gia) đã được thiết lập. Trong hướng dẫn về kính mắt kiểm soát cận thị, kỹ thuật viên chế tạo kính mắt được khuyến nghị là người chế tạo kính mắt kiểm soát cận thị2).

Mối lo ngại dịch tễ học về cận thị nặng

Phần tiêu đề “Mối lo ngại dịch tễ học về cận thị nặng”

Tỷ lệ hiện mắc cận thị nặng ở học sinh trung học cơ sở là 11,3%, vượt quá 8,2% ở người trưởng thành2), khiến tình trạng cận thị nặng ở nhóm tuổi trẻ trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng. Về lịch sử tự nhiên của cận thị, bản tóm tắt năm 2023 của IMI (Viện Nghiên cứu Cận thị Quốc tế) đã tổng hợp toàn diện8). Việc quản lý cận thị tích cực từ độ tuổi đi học là cần thiết.

Tỷ lệ hiện mắc tật khúc xạ thay đổi đáng kể theo độ tuổi, khu vực và định nghĩa. Kempen và cộng sự ước tính tỷ lệ hiện mắc cận thị (tương đương cầu ≤ -1D) ở người từ 40 tuổi trở lên là 25,4% tại Hoa Kỳ, 26,6% tại Tây Âu và 16,4% tại Úc, viễn thị (+3D trở lên) là 9,9% tại Hoa Kỳ, 11,6% tại Tây Âu và 5,8% tại Úc, ước tính tổng cộng khoảng 1/3 ở Hoa Kỳ và Tây Âu và khoảng 1/5 ở Úc có tật khúc xạ10).

Sự phát triển của thấu kính thiết kế riêng và thấu kính lũy tiến

Phần tiêu đề “Sự phát triển của thấu kính thiết kế riêng và thấu kính lũy tiến”

Các nhà sản xuất thấu kính đang phát triển thiết kế lũy tiến chuyên dụng cho khoảng cách ngắn và trung bình dành cho HMD (màn hình gắn đầu) và điện thoại thông minh. Đối với thấu kính ‘thiết kế riêng’ có tính đến quang sai sóng, hình dạng khung, khoảng cách đỉnh, góc nghiêng khi đeo và chiều cao đồng tử được đo lường và thiết kế phù hợp với điều kiện đeo. Các nguyên tắc về xem xét dị hình ảnh trong đơn kính cho người có chênh lệch khúc xạ hai mắt và thiết lập độ cộng cho lão thị được tóm tắt trong hướng dẫn kê đơn kính cho người lớn1).


  1. 成人視力検査眼鏡処方手引き作成委員会. 成人の視力検査および眼鏡処方に関する手引き. 日眼会誌. 2025;129(2):150-254. 日本眼科学会: https://www.nichigan.or.jp/member/journal/guideline/detail.html?dispmid=909&itemid=807.
  2. 近視管理用眼鏡ガイドライン作成委員会. 近視管理用眼鏡(多分割レンズ)ガイドライン(第1版). 日眼会誌. 2025;129(10):855-860.
  3. 小児眼鏡処方手引き作成委員会. 小児の眼鏡処方に関する手引き. 日眼会誌. 2024;128(10):730-768. 日本眼科学会: https://www.nichigan.or.jp/member/journal/guideline/detail.html?ItemId=762&dispmid=909.
  4. Holden BA, Fricke TR, Wilson DA, et al. Global prevalence of myopia and high myopia and temporal trends from 2000 through 2050. Ophthalmology. 2016;123(5):1036-1042. doi:10.1016/j.ophtha.2016.01.006. PMID:26875007.
  5. Lam CSY, Tang WC, Tse DY, Lee RPK, Chun RKM, Hasegawa K, et al. Defocus Incorporated Multiple Segments (DIMS) spectacle lenses slow myopia progression: a 2-year randomised clinical trial. The British journal of ophthalmology. 2020;104(3):363-368. doi:10.1136/bjophthalmol-2018-313739. PMID:31142465; PMCID:PMC7041503.
  6. Bao J, Huang Y, Li X, Yang A, Zhou F, Wu J, et al. Spectacle Lenses With Aspherical Lenslets for Myopia Control vs Single-Vision Spectacle Lenses: A Randomized Clinical Trial. JAMA ophthalmology. 2022;140(5):472-478. doi:10.1001/jamaophthalmol.2022.0401. PMID:35357402; PMCID:PMC8972151.
  7. Bullimore MA, Brennan NA. Myopia Control: Why Each Diopter Matters. Optometry and vision science : official publication of the American Academy of Optometry. 2019;96(6):463-465. doi:10.1097/OPX.0000000000001367. PMID:31116165.
  8. Sankaridurg P, Berntsen DA, Bullimore MA, et al. IMI 2023 digest. Invest Ophthalmol Vis Sci. 2023;64(6):7.
  9. Troilo D, Smith EL 3rd, Nickla DL, Ashby R, Tkatchenko AV, Ostrin LA, et al. IMI - Report on Experimental Models of Emmetropization and Myopia. Investigative ophthalmology & visual science. 2019;60(3):M31-M88. doi:10.1167/iovs.18-25967. PMID:30817827; PMCID:PMC6738517.
  10. Kempen JH, Mitchell P, Lee KE, Tielsch JM, Broman AT, Taylor HR, et al. The prevalence of refractive errors among adults in the United States, Western Europe, and Australia. Archives of ophthalmology (Chicago, Ill. : 1960). 2004;122(4):495-505. doi:10.1001/archopht.122.4.495. PMID:15078666.
  11. 厚生労働省. 小児弱視等の治療用眼鏡等に係る療養費の支給について. https://www.mhlw.go.jp/bunya/iryouhoken/iryouhoken13/01-03.html.

Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.