Bỏ qua đến nội dung
Giác mạc và mắt ngoài

Triệu chứng mắt của bệnh viêm tuyến mồ hôi mủ (Hidradenitis Suppurativa)

1. Triệu chứng mắt của viêm tuyến mồ hôi mủ là gì?

Phần tiêu đề “1. Triệu chứng mắt của viêm tuyến mồ hôi mủ là gì?”

Viêm tuyến mồ hôi mủ (hidradenitis suppurativa: HS) là bệnh da viêm mạn tính xuất hiện ở các vùng có tuyến mồ hôi apocrine. Đặc trưng bởi các nốt đau, áp xe và đường rò, xảy ra ở nách, bẹn, mông và dưới vú. Tỷ lệ hiện mắc ước tính toàn cầu từ 0,00033% đến 4,1%, và ở châu Âu và Mỹ là 0,7-1,2%.

Mặc dù HS là bệnh da, nhưng viêm hệ thống có thể lan đến mắt. Khoảng 13,89% bệnh nhân HS có biểu hiện bất thường ở mắt. Biến chứng mắt phổ biến nhất là viêm màng bồ đào, tiếp theo là viêm củng mạc và viêm giác mạc. Một nghiên cứu khác báo cáo viêm thượng củng mạc có mối liên quan mạnh nhất.

Tắc nghẽn đơn vị nang lông-tuyến bã đóng vai trò trung tâm trong cơ chế bệnh sinh của HS 2). Vỡ nang lông sau đó và đáp ứng miễn dịch kích hoạt dòng thác viêm, với tăng hệ thống các cytokine viêm như TNF, IL-1, IL-17 và IL-23 2). Các cytokine này cũng tham gia sâu vào cơ chế bệnh sinh của viêm màng bồ đàokhô mắt 1), và được cho là giải thích một phần cơ chế biến chứng mắt trong HS.

HS chia sẻ một phần cơ chế miễn dịch với các bệnh miễn dịch liên quan viêm cột sống như vảy nến, bệnh Crohn, viêm loét đại tràng, và với hội chứng Behçet và lupus ban đỏ hệ thống. Biến chứng mắt đã được biết rõ trong các bệnh này, và nguy cơ tương tự tồn tại trong HS.

Q Bệnh nhân viêm tuyến mồ hôi mủ có nên khám mắt không?
A

Vì viêm tuyến mồ hôi mủ (HS) kèm viêm hệ thống, biến chứng mắt có thể xảy ra. Khuyến cáo tầm soát mắt định kỳ ngay cả khi không có triệu chứng. Nếu xuất hiện các triệu chứng như đỏ, đau, nhìn mờ hoặc sợ ánh sáng, hãy đến khám bác sĩ mắt ngay. Sự phối hợp giữa bác sĩ da liễu và bác sĩ mắt là quan trọng.

2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng

Phần tiêu đề “2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”
Biểu hiện ở mắt của bệnh viêm tuyến mồ hôi mủ
Biểu hiện ở mắt của bệnh viêm tuyến mồ hôi mủ
Ritasman Baisya, Meghna Gavali, Mudit Tyagi, Phani Kumar Devarasetti A Case of SAPHO Syndrome Complicated by Uveitis with Good Response to Both TNF Inhibitor and JAKinib 2023 Jan 18 Case Rep Rheumatol. 2023 Jan 18; 2023:6201887 Figure 3. PMCID: PMC9876693. License: CC BY.
Hình ảnh đoạn trước mắt phải cho thấy đồng tử không đều do dính sau, giãn đồng tử kém và đục thủy tinh thể, kèm viêm tiền phòng và đục thủy tinh thể phức tạp.

Các triệu chứng mắt sau đây đã được báo cáo liên quan đến HS:

  • Đỏ mắt
  • Đau mắt
  • Sợ ánh sáng (nhạy cảm với ánh sáng)
  • Nhìn mờ
  • Triệu chứng khô mắt
  • Ngứa mắt
  • Ghèn mắt (dử mắt)

Mức độ nghiêm trọng của triệu chứng thay đổi dựa trên các yếu tố môi trường, căng thẳng và các đợt bùng phát (flare) do bệnh đi kèm.

Tổn thương viêm

Viêm màng bồ đào trước: Một trong những biến chứng mắt phổ biến nhất. Biểu hiện xung huyết mi và tế bào viêm trong tiền phòng.

Viêm màng bồ đào sau: Có thể kèm theo đục dịch kính hoặc viêm mạch võng mạc

Viêm củng mạcviêm thượng củng mạc: Xung huyết viêm ở củng mạc. Một số báo cáo cho thấy viêm thượng củng mạc có mối liên quan mạnh nhất

Viêm giác mạc nhu mô: Viêm nhu mô giác mạc. Trường hợp nặng có thể dẫn đến giảm thị lực

Các dấu hiệu ở bề mặt mắt và võng mạc

Viêm bờ mi kết mạc góc: Đã có báo cáo về các trường hợp tân mạch giác mạc hai bên và mỏng giác mạc dưới

Rối loạn chức năng tuyến Meibom: Có thể gây khô mắt do rối loạn chức năng tuyến

Thay đổi mạch máu võng mạc: Trên OCTA, đã ghi nhận giảm mật độ mạch máu vùng hoàng điểm và giảm mật độ mạch máu đám rối mao mạch sâu võng mạc

Tổn thương quanh hốc mắt: Hiếm gặp, nhưng tổn thương HS có thể xuất hiện ở mặt hoặc mí mắt

Trong các nghiên cứu sử dụng OCTA, các bất thường vi mạch võng mạc đã được phát hiện ngay cả ở bệnh nhân HS không có bệnh mắt lâm sàng. Những phát hiện này tương tự như những gì thấy trong bệnh võng mạc tiểu đường và được cho là phản ánh nguy cơ mắc bệnh kèm giữa HS và đái tháo đường type 2.

Q Các triệu chứng về mắt của viêm tuyến mồ hôi mủ xảy ra thường xuyên như thế nào?
A

Khoảng 13,89% bệnh nhân HS có dấu hiệu nhãn khoa theo các báo cáo. Viêm màng bồ đào là phổ biến nhất, tiếp theo là viêm củng mạc, viêm thượng củng mạc và viêm giác mạc. Tuy nhiên, vì các nghiên cứu về các biến chứng mắt này cũng bao gồm bệnh nhân mắc các bệnh tự miễn khác, nên tần suất chính xác chỉ riêng ở HS vẫn chưa được xác lập.

Khiếm khuyết chính trong sinh lý bệnh của HS là tắc nang lông ở đơn vị tuyến bã lông 2). Về mặt mô học, tăng sản tế bào gai phễu, tăng sừng hóa và thâm nhiễm tế bào miễn dịch quanh nang lông được phát hiện sớm 2). Phản ứng miễn dịch sau khi nang lông vỡ sẽ kích hoạt dòng thác viêm, dẫn đến hình thành các nốt, áp xe và đường rò.

Trong nghiên cứu của Fitzsimmons và Gilbert, sự tích tụ HS được quan sát thấy ở 14 trong số 23 gia đình, và 30% bệnh nhân có tiền sử gia đình mạnh. Các bất thường trong con đường tín hiệu Notch có liên quan, và các đột biến gen PSENEN, KRT5, POFUT1 và POGLUT1 đã được báo cáo3). Vì con đường Notch cũng tham gia vào cân bằng nội môi của tế bào hắc tố và biệt hóa nang lông, sự bất thường của nó có thể ảnh hưởng không chỉ đến da mà còn đến nhiều cơ quan3).

TNF, IL-1, IL-17 và IL-23 tăng cao ở da và huyết thanh2). Trong số các cytokine này, TNF-α và IL-6 tham gia sâu vào cơ chế bệnh sinh của viêm màng bồ đào và cũng tương quan với đau mắt khô1). Các tế bào biểu mô giải phóng TNF-α, IL-1, IL-6 và IL-8, khuếch đại đáp ứng miễn dịch và thu hút các tế bào viêm1).

Yếu tố nguy cơẢnh hưởng
Hút thuốcThúc đẩy tăng sản biểu bì và tắc nang lông
Béo phìLiên quan đến mức độ nặng
Thuốc (ví dụ lithi)Đã có báo cáo gây ra HS

Lithi có thể tác động trực tiếp lên tế bào sừng nang lông và gây ra HS thông qua di chuyển bạch cầu trung tính và tăng thực bào4). Các triệu chứng da cải thiện sau khi ngừng lithi4).

Chẩn đoán HS dựa trên đánh giá lâm sàng theo ba tiêu chí sau2).

  1. Tổn thương điển hình: Các nốt sâu đau, áp xe, sẹo cầu nối, đường rò mủ
  2. Vị trí điển hình: Nách, bẹn, đáy chậu, mông, dưới vú
  3. Diễn tiến mạn tính tái phát điển hình: Tái phát hai lần trở lên trong 6 tháng

Mức độ nặng được phân thành ba giai đoạn theo phân loại Hurley2).

Phân loại HurleyĐặc điểm
Giai đoạn IÁp xe đơn độc. Không có đường rò hoặc sẹo
Giai đoạn IIÁp xe tái phát. Có hình thành đường rò
Giai đoạn IIIĐường rò và áp xe lan rộng, kết nối với nhau

Phần lớn là Giai đoạn I (68%) hoặc Giai đoạn II (28%), trong khi Giai đoạn III chỉ chiếm 4%2).

Bất kể có triệu chứng hay không, bệnh nhân HS nên được thực hiện các kiểm tra mắt sau:

  • Khám đèn khe: để kiểm tra xung huyết kết mạc, viêm bờ mi, dấu hiệu viêm màng bồ đào/viêm củng mạc, thay đổi giác mạcmống mắt
  • OCTA (Chụp mạch cắt lớp quang học): để phát hiện bất thường vi mạch võng mạc
  • Xét nghiệm Schirmer và TBUT: để đánh giá khô mắt

Các triệu chứng mắt của HS cần được phân biệt với các bệnh sau:

  • Viêm kết mạc và viêm giác mạc nhiễm trùng (vi khuẩn, nấm, virus)
  • Rosacea mắt (ocular rosacea)
  • Nhiễm trùng mắt do herpes
  • Viêm màng bồ đào liên quan đến bệnh tự miễn (hội chứng Sjögren, viêm khớp dạng thấp, sarcoidosis)
  • Hội chứng khô mắt
  • Viêm mắt liên quan đến bệnh Crohn

Đặc biệt quan trọng là phân biệt với bệnh Crohn. HS và bệnh Crohn cùng tồn tại ở 17–40% bệnh nhân 2) và có chung rối loạn điều hòa miễn dịch. Đáp ứng điều trị đôi khi là manh mối chẩn đoán. Nếu triệu chứng mắt cải thiện sau liệu pháp toàn thân nhắm vào cytokine đặc hiệu của HS, điều đó hỗ trợ chẩn đoán.

  • Chườm ấm và làm sạch nhẹ nhàng mí mắt và lông mi
  • Điều trị triệu chứng khô mắt bằng nước mắt nhân tạo

Phương pháp tiếp cận từng bước trong điều trị bằng thuốc

Phần tiêu đề “Phương pháp tiếp cận từng bước trong điều trị bằng thuốc”

Điều trị HS theo phương pháp từng bước dựa trên mức độ nghiêm trọng.

Giai đoạn 1 (Nhẹ): Kháng sinh tại chỗ hoặc uống (doxycycline, clindamycin, v.v.)

Giai đoạn 2 (Trung bình): Thêm steroid uống hoặc tiêm

Giai đoạn 3 (Nặng/Kháng trị): Đưa vào các tác nhân sinh học

Hiện tại, có hai tác nhân sinh học được phê duyệt cho HS:

  • Adalimumab (Humira): Kháng thể đơn dòng kháng TNF-α hoàn toàn ở người
  • Infliximab: Kháng thể đơn dòng kháng TNF-α dạng khảm

Ở bệnh nhân HS có bệnh lý mắt kèm theo, đã được báo cáo là hầu như không đáp ứng với điều trị tại chỗ da liễu và đáp ứng tốt với liệu pháp kháng TNF-α. TNF-α cũng tham gia vào cơ chế bệnh sinh sớm của viêm màng bồ đào 1), và liệu pháp kháng TNF-α có lợi thế điều trị đồng thời cả triệu chứng da và mắt của HS.

Cũng có bằng chứng cho thấy người sử dụng thuốc sinh học có nguy cơ viêm kết mạc thấp hơn so với người không sử dụng.

  • Thuốc nhỏ mắt steroid tại chỗ (ví dụ prednisolon)
  • Tiêm triamcinolon quanh nhãn cầu
  • Trường hợp kháng trị: steroid đường uống hoặc liệu pháp kháng TNF-α
  • Vi khuẩn: thuốc nhỏ mắt kháng khuẩn (ví dụ moxifloxacin, ciprofloxacin)
  • Virus: thuốc kháng virus (ví dụ acyclovir, ganciclovir)
  • Nấm: thuốc kháng nấm (ví dụ natamycin, voriconazol)
  • Thuốc nhỏ mắt steroid để giảm viêm sau khi kiểm soát nhiễm trùng
Q Thuốc sinh học có hiệu quả đối với các triệu chứng ở mắt của bệnh viêm tuyến mồ hôi mủ không?
A

Có, liệu pháp kháng TNF-α (adalimumab, infliximab) đã được báo cáo là có hiệu quả không chỉ đối với các triệu chứng da mà còn đối với viêm mắt. Vì TNF-α tham gia vào cơ chế bệnh sinh của viêm màng bồ đàokhô mắt, liệu pháp này có lợi thế điều trị đồng thời cả da và mắt trong HS. Ở bệnh nhân HS có bệnh mắt kèm theo, điều trị tại chỗ da thường không đủ hiệu quả và cần điều trị kháng TNF-α toàn thân.

Từ tắc nghẽn nang lông đến viêm toàn thân

Phần tiêu đề “Từ tắc nghẽn nang lông đến viêm toàn thân”

Cơ chế bệnh sinh của HS bắt đầu bằng sự tắc nghẽn của đơn vị tuyến bã nang lông 2). Các thay đổi mô học ban đầu bao gồm tăng sản tế bào gai ở phễu và tăng sừng hóa, tiếp theo là sự xâm nhập của tế bào miễn dịch lympho-mô bào quanh nang lông. Vỡ nang lông dẫn đến rò rỉ keratin vào các mô xung quanh, gây ra phản ứng viêm mạnh 2).

Trong quá trình viêm này, TNF, IL-1, IL-17 và IL-23 tăng lên trong da và huyết thanh. Các cytokine tăng cao mở rộng tình trạng viêm quanh nang lông, tiến triển từ hình thành áp xe và nốt sần đến các đường rò mủ.

Nhiều cytokine tăng cao trong HS cũng tham gia vào cơ chế bệnh sinh của viêm mắt. TNF-α cảm ứng biểu hiện của chemokine và phân tử kết dính, kéo dài tình trạng viêm màng bồ đào 1). IL-6 tham gia vào đáp ứng miễn dịch trong mắt ở nhiều loại viêm màng bồ đào và cũng tương quan với đau mắt trong khô mắt 1).

Trong bài tổng quan của Rojas-Carabali và cộng sự, đã chỉ ra rằng các tế bào biểu mô sản xuất và giải phóng TNF-α, IL-1, IL-6 và IL-8, khuếch đại đáp ứng miễn dịch và thúc đẩy sự thu hút các tế bào viêm trong khô mắt 1).

Hơn nữa, IP-10/CXCL10 là một chemokine được giải phóng từ bạch cầu, bạch cầu trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu đơn nhân và tế bào mô đệm để đáp ứng với IFN-γ, và cũng tham gia vào viêm trong mắt 1).

Tương đồng miễn dịch giữa HS và bệnh Crohn

Phần tiêu đề “Tương đồng miễn dịch giữa HS và bệnh Crohn”

HS và bệnh Crohn có chung sự gia tăng đáng kể IL-1, IL-6, IL-17, IL-23 và TNF 2). Cả hai bệnh đều có đặc điểm mô học là các nang lympho và u hạt, và cùng tồn tại ở 17-40% bệnh nhân 2). Trong bệnh viêm ruột bao gồm bệnh Crohn, các biến chứng ở mắt đã được biết rõ, và HS được cho là cũng ảnh hưởng đến mắt thông qua sự rối loạn điều hòa viêm toàn thân tương tự.

Là nền tảng di truyền của HS, các bất thường trong con đường tín hiệu Notch đã thu hút sự chú ý. Các đột biến PSENEN, một tiểu đơn vị của phức hợp gamma-secretase, ức chế sự phân cắt nội bào của thụ thể Notch 3). Sự suy yếu của con đường Notch gây ra các bất thường trong tăng sinh và biệt hóa nang lông, dẫn đến tăng sừng hóa biểu bì và tắc nghẽn nang lông. Cơ chế này giải thích sự cùng tồn tại của bệnh Dowling-Degos và HS 3).

7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai

Phần tiêu đề “7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai”

Trong các nghiên cứu gần đây sử dụng OCTA, các bất thường vi mạch võng mạc đã được phát hiện ở bệnh nhân HS ngay cả khi không có bệnh mắt lâm sàng. Sự giảm mật độ mạch máu trung tâm (VD) và mật độ chiều dài mạch máu (VLD), cũng như giảm VD ở đám rối mao mạch sâu của võng mạc đã được báo cáo, cho thấy HS có thể gây ra các biến chứng mạch máu võng mạc tiềm ẩn.

Liệu pháp kháng TNF-α đã cho thấy hiệu quả trên cả triệu chứng da và mắt của HS, và dự kiến sẽ tiếp tục đóng vai trò trung tâm trong điều trị. Với sự phát triển của các tác nhân sinh học mới và thuốc ức chế JAK, việc xác nhận hiệu quả của các thuốc này đối với biến chứng mắt của HS được kỳ vọng.

Việc xác định tỷ lệ hiện mắc chính xác và cơ chế bệnh sinh của các biến chứng mắt ở bệnh nhân HS vẫn chưa đầy đủ. Cần có các nghiên cứu tiến cứu quy mô lớn để xác định tần suất và yếu tố nguy cơ của các triệu chứng mắt đặc hiệu HS, cũng như thiết lập một quy trình sàng lọc tối ưu.

  1. Rojas-Carabali W, Mejía-Salgado G, Cifuentes-González C, et al. Clinical relationship between dry eye disease and uveitis: a scoping review. J Ophthalmic Inflamm Infect. 2023;13(1):2. doi:10.1186/s12348-022-00323-0. PMID:36715869; PMCID:PMC9886213.
  2. Srisajjakul S, Prapaisilp P, Bangchokdee S. Magnetic Resonance Imaging of Hidradenitis Suppurativa: A Focus on the Anoperineal Location. Korean J Radiol. 2022;23(8):785-793.
  3. Dupont M, Parent M, Vanhooteghem O. About a Rare Association Between Vulvar Dowling Degos Disease and HS. Int J Womens Health. 2023;15:355-359.
  4. Chaudhari D, Vohra RR, Abdefatah Ali M, et al. A Rare Phenomenon of Lithium-Associated Acne Inversa: A Case Series and Literature Review. Cureus. 2023;15(3):e36051.

Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.