Bỏ qua đến nội dung
Nhãn khoa thần kinh

Triệu chứng nhãn khoa của hội chứng cận ung thư

1. Các triệu chứng nhãn khoa của hội chứng cận u là gì?

Phần tiêu đề “1. Các triệu chứng nhãn khoa của hội chứng cận u là gì?”

Hội chứng cận u (PNS) là thuật ngữ chung cho một nhóm hội chứng xảy ra do phản ứng chéo của miễn dịch vật chủ chống lại các kháng nguyên liên quan đến khối u với các mô bình thường, chứ không phải do triệu chứng trực tiếp từ mô khối u hoặc di căn của nó. Trong lĩnh vực nhãn khoa, nhiều bộ phận khác nhau như võng mạc, thần kinh thị giác và hệ thống vận động mắt có thể bị ảnh hưởng.

Các loại chính của PNS nhãn khoa như sau:

  • Bệnh võng mạc liên quan đến ung thư (CAR): Chủ yếu biểu hiện tổn thương tế bào que của võng mạc. Các protein đặc hiệu của hệ thần kinh trung ương được biểu hiện lạc chỗ trong mô khối u, dẫn đến tự miễn dịch và tổn thương hệ thống thị giác võng mạc.
  • Bệnh võng mạc liên quan đến u hắc tố (MAR): Chủ yếu liên quan đến tổn thương tế bào lưỡng cực võng mạc và biểu hiện kiểu hình tương tự như quáng gà bẩm sinh cố định.
  • Bệnh thần kinh thị giác cận u (PON): Nhắm vào thần kinh thị giác và liên quan cổ điển đến kháng thể CRMP-5.
  • Tăng sinh tế bào hắc tố màng bồ đào lan tỏa hai bên (BDUMP): Biểu hiện mất thị lực cấp tính và bong võng mạc.
  • Hội chứng Opsoclonus-Myoclonus (OMS): Đặc trưng bởi rung giật nhãn cầu và giật cơ.
  • Hội chứng Lambert-Eaton nhược cơ (LEMS): Liên quan đến kháng thể kênh canxi phụ thuộc điện thế (VGCCA).

Khối u ác tính chính liên quan đến CAR là ung thư phổi tế bào nhỏ, tiếp theo là ung thư đường tiêu hóa và phụ khoa. Không có khác biệt về giới tính. Nguyên nhân của MAR chỉ là u hắc tố ác tính, và đã có báo cáo tại Nhật Bản. Các PNS khác bao gồm ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư vú, ung thư tử cung, ung thư tuyến giáp và u lympho.

Thời điểm khởi phát khác nhau tùy theo loại ung thư. Trong u lympho và ung thư phổi, bệnh võng mạc phát triển trong vài tuần đến vài tháng, trong khi ở ung thư vú và tuyến tiền liệt, có thể mất nhiều năm.

Q Các triệu chứng về mắt có thể xuất hiện trước khi chẩn đoán ung thư không?
A

Trong khoảng 50% trường hợp CAR, các triệu chứng về mắt xuất hiện trước khi chẩn đoán ung thư. Mất thị lực tiến triển không rõ nguyên nhân có thể dẫn đến kiểm tra và phát hiện khối u ác tính.

2. Các triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng

Phần tiêu đề “2. Các triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”
chuỗi OCT đáy mắt bệnh võng mạc tự miễn cận ung thư
chuỗi OCT đáy mắt bệnh võng mạc tự miễn cận ung thư
Autoantibody profiles and clinical association in Thai patients with autoimmune retinopathy. Sci Rep. 2021 Jul 22; 11:15047. Figure 1. PMCID: PMC8298708. License: CC BY.
Tiến triển bệnh ở bệnh nhân mắc bệnh võng mạc tự miễn (AIR). Ảnh đáy mắt màu lúc ban đầu ở mắt phải (a) và mắt trái (b) cho thấy đĩa thị bình thường, teo tiểu động mạch, teo biểu mô sắc tố võng mạc (RPE) lan tỏa với vùng hoàng điểm được bảo tồn và các đám sắc tố rải rác. Có thể quan sát thấy các mạch mạch lớn nổi rõ xung quanh đĩa thị. Hình ảnh chụp cắt lớp quang học lúc ban đầu cho thấy teo RPE, mất vùng hình elip (EZ) ở ngoại vi, làm phẳng lớp nhân ngoài (ONL) và tạo khoang dạng khe ở lớp nhân trong (INL) ở phía mũi, được đánh dấu bằng mũi tên, ở mắt phải (c) và mắt trái (d). Tiến triển bệnh sau năm năm được đánh dấu bằng teo RPE, mất dần EZ và ONL về phía hố mắt, tạo khoang dạng khe rõ hơn

Các triệu chứng chủ quan chính thường gặp ở CAR, MAR và PON như sau.

  • Giảm thị lực tiến triển không đau: Thường ở cả hai mắt, nhưng có thể không đối xứng.
  • Giảm thị lực ban đêm: Đặc biệt rõ ở MAR, tương tự như quáng gà bẩm sinh ổn định.
  • Ảo giác thị giác và nhạy cảm ánh sáng: Cảm giác chớp sáng (photopsias) hoặc chói mắt dưới ánh sáng thường.
  • Suy giảm phân biệt màu sắc: Khó phân biệt màu sắc.
  • Bất thường thị trường: Trong CAR, có ám điểm hình vòng, ám điểm trung tâm và thu hẹp thị trường.
  • Mất thị trường ngoại vi: Dấu hiệu tương đối nổi bật trong MAR.

Dấu hiệu lâm sàng (Dấu hiệu bác sĩ xác nhận khi khám)

Phần tiêu đề “Dấu hiệu lâm sàng (Dấu hiệu bác sĩ xác nhận khi khám)”

Kết quả khám đáy mắt và xét nghiệm đặc trưng khác nhau tùy theo loại bệnh.

CAR

Đĩa thị nhạt màu: Nhạt màu phản ánh teo thị thần kinh.

Hẹp động mạch võng mạc: Quan sát thấy hẹp mạch máu.

Rạn biểu mô sắc tố: Những thay đổi không đều của RPE.

Lắng đọng sắc tố dạng thân xương: Dấu hiệu tương tự viêm võng mạc sắc tố.

Thâm nhiễm tế bào nhẹ trong dịch kính: Sự hiện diện của tế bào viêm nhẹ.

MAR

Ưu thế quáng gà: Rối loạn chức năng tế bào que nổi bật.

Ảo giác thị giác: Thường phàn nàn về cảm giác chớp sáng liên tục.

Đáy mắt gần như bình thường ở giai đoạn đầu: Ngay cả khi tiến triển, thay đổi đáy mắt có thể tương đối ít.

Điện võng mạc âm tính: Sóng a gần như bình thường, sóng b giảm rõ rệt (phản ánh rối loạn tế bào lưỡng cực).

PON

Phù gai thị: Đặc trưng liên quan đến kháng thể CRMP-5.

Teo thị thần kinh: Xảy ra như di chứng của phù.

Viêm võng mạc và tế bào viêm dịch kính: Trong các trường hợp liên quan đến CRMP-5, có viêm võng mạc và tế bào viêm trong dịch kính2).

BDUMP

Mất thị lực đột ngột: Đặc trưng bởi diễn tiến nhanh.

Đáy mắt đỏ dạng đốm: Thay đổi lan tỏa ở đáy mắt.

Bong võng mạc dịch tiết: Biểu hiện bong hai bên.

Cơ chế bệnh sinh của PNS là cơ chế tự miễn, trong đó các kháng nguyên thần kinh biểu hiện lạc chỗ trong mô khối u được hệ thống miễn dịch nhận diện. Các tự kháng thể chống lại kháng nguyên liên quan đến khối u được sản xuất, tấn công các mô thần kinh và võng mạc bình thường có cùng kháng nguyên.

Các khối u ác tính nguyên nhân chính và các dạng liên quan như sau:

  • Ung thư phổi tế bào nhỏ: Nguyên nhân phổ biến nhất của CAR, PON và hội chứng liên quan kháng thể anti-Hu.
  • U hắc tố ác tính: Nguyên nhân duy nhất của MAR.
  • Ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư vú, ung thư tử cung, ung thư tuyến giáp: Liên quan đến CAR và các PNS khác.
  • U nguyên bào thần kinh (trẻ em): Nguyên nhân điển hình của rung giật nhãn cầu cận u.
  • Khác: Ung thư biểu mô tế bào thận trong, u lympho, u tủy, ung thư đại tràng, ung thư tuyến tiền liệt, v.v.

Các loại tự kháng thể và dạng bệnh liên quan như sau:

  • Kháng thể kháng recoverin: Tự kháng thể điển hình nhất của CAR.
  • Kháng thể α-enolase: Liên quan đến CAR. Gây tổn thương tế bào hạch võng mạc và tế bào lưỡng cực qua apoptosis.
  • hsc70 (protein sốc nhiệt): Liên quan đến CAR.
  • TRPM1: Được báo cáo là kháng nguyên ứng cử viên cho MAR, nhưng còn nhiều điểm chưa rõ.
  • CRMP-5 (CV2): Liên quan đến PON và biểu hiện kiểu hình thần kinh rộng.

Cơ sở chẩn đoán là sự kết hợp giữa triệu chứng lâm sàng, dấu hiệu nhãn khoa và xác định tự kháng thể nguyên nhân. Vì triệu chứng mắt xuất hiện trước chẩn đoán ung thư trong khoảng 50% trường hợp CAR, nhận biết nhanh bệnh này cũng có thể dẫn đến phát hiện sớm ung thư.

Các phát hiện sau đây gợi ý nghi ngờ bệnh này.

  • Bệnh nhân từ 50 tuổi trở lên, không có tiền sử gia đình, nhưng có hình ảnh đáy mắt và thu hẹp thị trường giống viêm võng mạc sắc tố.
  • viêm màng bồ đào nhẹ nhưng kèm thu hẹp thị trường và giảm độ nhạy thị giác rõ rệt.

Phân biệt giữa CAR và MAR dựa trên mẫu điện võng mạc đồ là rất quan trọng.

BệnhSóng aSóng bMẫu
CARGiảmGiảmLàm phẳng toàn bộ
MARGần như bình thườngGiảm rõ rệtĐiện võng mạc âm tính

Trên thị trường kế Goldmann, có thể quan sát thấy ám điểm hình vòng, ám điểm trung tâm và thu hẹp thị trường trung tâm.

Xét nghiệm kháng thể tự miễn trong huyết thanh

Phần tiêu đề “Xét nghiệm kháng thể tự miễn trong huyết thanh”

Phát hiện kháng thể bằng xét nghiệm nhuộm hóa mô miễn dịch, Western blot và ELISA là cần thiết để chẩn đoán xác định. Sự hiện diện của kháng thể kháng recoverin là bằng chứng mạnh mẽ cho CAR. Để chẩn đoán xác định MAR, cần chứng minh sự hiện diện của kháng thể kháng tế bào lưỡng cực võng mạc trong huyết thanh.

Kháng thể có thể không được phát hiện trong lần xét nghiệm đầu tiên. Cần đo lặp lại ít nhất ba lần.

Chẩn đoán hình ảnh và các xét nghiệm khác

Phần tiêu đề “Chẩn đoán hình ảnh và các xét nghiệm khác”
  • SD-OCT (Chụp cắt lớp quang học kết hợp độ phân giải cao): Đánh giá không xâm lấn các thay đổi ở các lớp võng mạc.
  • FAF (Huỳnh quang tự phát đáy mắt) và Chụp mạch huỳnh quang Fluorescein: Để đánh giá những thay đổi của biểu mô sắc tố võng mạc và viêm mạch.
  • CT, MRI, PET: Được sử dụng để tìm kiếm khối u nguyên phát.
  • Phân tích dịch não tủy (CSF): Để đánh giá sự liên quan của hệ thần kinh.
  • Xét nghiệm huyết thanh kháng thể cận u: Tìm kiếm toàn diện các kháng thể liên quan như anti-Ri, anti-Hu, anti-Yo, anti-Ma2.

Vì các triệu chứng về mắt xuất hiện trước khối u nguyên phát, nếu nghi ngờ bệnh này, cần phải thăm khám toàn thân kỹ lưỡng các hệ hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu và phụ khoa.

Các bệnh cần chẩn đoán phân biệt chính bao gồm:

Q Làm thế nào để phân biệt CAR và MAR?
A

Điểm phân biệt quan trọng nhất là dạng điện võng mạc. Trong CAR, có sự dẹt tổng thể với giảm cả sóng a và sóng b, trong khi ở MAR, sóng a gần như bình thường với giảm đáng kể sóng b, đặc trưng của điện võng mạc âm tính. Điều này phản ánh tổn thương tế bào lưỡng cực.

Điều trị khối u ác tính tiềm ẩn là ưu tiên hàng đầu. Không có liệu pháp dứt điểm cho CAR và MAR, và không có nghiên cứu trên người có nhóm đối chứng nào cho thấy cải thiện triệu chứng thị giác.

  • Corticosteroid: Có báo cáo về cải thiện nhẹ đến trung bình chức năng thị giác. Tuy nhiên, sự cải thiện chưa được xác lập.
  • IVIG (Immunoglobulin tĩnh mạch): Kết quả hỗn hợp được báo cáo ở CAR, MAR, PON và OMS; một số cải thiện, một số không.
  • Lọc huyết tương: Có báo cáo ca bệnh hiệu quả, nhưng không phải liệu pháp đã được thiết lập.
  • Thuốc ức chế miễn dịch khác: Azathioprine, cyclosporine, mycophenolate mofetil đôi khi được sử dụng.
  • Thuốc sinh học: Rituximab và Alemtuzumab có thể được thử dùng.

Không có chỉ định phẫu thuật mắt cho PNS. Cắt bỏ khối u ác tính cơ bản là điều trị bệnh nền. Trong PNS liên quan đến u tuyến ức, có bằng chứng cải thiện triệu chứng sau cắt bỏ tuyến ức.

Q Có phương pháp điều trị nào đã được thiết lập cho các triệu chứng mắt của hội chứng cận ung thư không?
A

Không có phương pháp điều trị chuẩn. Ưu tiên hàng đầu là điều trị khối u ác tính nguyên phát. Các liệu pháp ức chế miễn dịch, IVIG và trao đổi huyết tương đã được thử nghiệm, nhưng chỉ là các báo cáo ca thành công, không có nghiên cứu có nhóm đối chứng. Cần thông báo cho bệnh nhân rằng tiên lượng thị lực nhìn chung là xấu.

Khối u ác tính biểu hiện lạc chỗ các protein đặc hiệu của hệ thần kinh (như recoverin). Hệ miễn dịch nhận ra đây là kháng nguyên khối u và sản xuất kháng thể đặc hiệu. Kháng thể này phản ứng chéo với cùng kháng nguyên trên tế bào cảm thụ ánh sáng võng mạc, gây thoái hóa và chết tế bào cảm thụ ánh sáng.

Các tự kháng thể chính được báo cáo trong CAR và mục tiêu của chúng như sau:

Tự kháng thểTế bào đích chínhUng thư liên quan chính
Kháng recoverinTế bào que và tế bào nónUng thư phổi tế bào nhỏ
Alpha-enolaseTế bào hạch võng mạc và tế bào lưỡng cựcUng thư phổi tế bào nhỏ
Kháng hsc70Tế bào cảm thụ ánh sángNhiều loại ung thư

Kháng thể α-enolase gây chết tế bào hạch võng mạc và tế bào lưỡng cực thông qua quá trình apoptosis.

Cơ chế của Bệnh thần kinh thị giác liên quan đến CRMP-5 (PON)

Phần tiêu đề “Cơ chế của Bệnh thần kinh thị giác liên quan đến CRMP-5 (PON)”

Kháng thể CRMP-5 (CV2)-IgG biểu hiện các kiểu hình rộng ở hệ thần kinh ngoại biên và trung ương, thường là cận ung thư, với ung thư phổi tế bào nhỏ là phổ biến nhất 1). Viêm thần kinh thị giác liên quan đến CRMP-5 đặc trưng bởi phù gai thị hai bên, kèm theo viêm võng mạc và tế bào viêm trong dịch kính 2). Cơ chế phổ biến nhất của viêm thần kinh thị giácapoptosis tế bào cảm thụ ánh sáng thông qua con đường phụ thuộc dòng thác bao gồm dòng canxi nội bào.

Cũng có báo cáo ca bệnh viêm thần kinh thị giác liên quan đến kháng thể kháng recoverin 3).

  • Kháng thể kháng Hu: Ảnh hưởng đến thân não, tiểu não và thùy thái dương, gây đồng tử trương lực và liệt cơ mắt. Ung thư phổi tế bào nhỏ là điển hình.
  • Kháng thể kháng Yo: Chủ yếu ảnh hưởng đến tiểu não, gây các dấu hiệu liên quan đến OMS (rung giật nhãn cầu, dao động thị giác).
  • Kháng thể kháng AChR và cơ vân: Liên quan đến u tuyến ức, gây triệu chứng giống nhược cơ (MG) như song thị và sụp mi.
  • VGCCA: Liên quan đến LEMS, gây khô mắt nhẹ và bất thường vận động mắt.
Q Những tự kháng thể nào gây ra triệu chứng mắt?
A

Kháng thể kháng recoverin, alpha-enolase và hsc70 liên quan đến CAR, trong khi CRMP-5 là kháng thể nguyên nhân điển hình của PON. Ngoài ra, kháng thể kháng Hu, kháng Yo, kháng AChR và kháng VGCCA tương ứng với từng loại bệnh. Mô hình triệu chứng và ung thư liên quan khác nhau tùy theo loại tự kháng thể (xem chi tiết tại phần “Phương pháp chẩn đoán và xét nghiệm”).


7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai (Báo cáo giai đoạn nghiên cứu)

Phần tiêu đề “7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai (Báo cáo giai đoạn nghiên cứu)”

Điều trị viêm thần kinh thị giác dương tính với recoverin

Phần tiêu đề “Điều trị viêm thần kinh thị giác dương tính với recoverin”

Kaushik và cộng sự (2024) đã báo cáo một trường hợp viêm thần kinh thị giác dương tính với kháng thể kháng recoverin đáp ứng với sự kết hợp của hóa trị, steroid và trao đổi huyết tương3). Mặc dù chưa phải là liệu pháp tiêu chuẩn đã được thiết lập, trường hợp này được chú ý như một ví dụ về khả năng hiệu quả của phương pháp điều trị đa diện.

Trên mô hình chuột CAR, thuốc chẹn kênh canxi được cho là có thể có hiệu quả. Những phát hiện này cho thấy sự tham gia của dòng canxi nội bào vào quá trình chết theo chương trình của tế bào cảm quang và có thể là cơ sở cho sự phát triển điều trị trong tương lai.

Mối quan hệ giữa miễn dịch khối u và tiên lượng thị giác

Phần tiêu đề “Mối quan hệ giữa miễn dịch khối u và tiên lượng thị giác”

Các khối u có PNS được cho là có tiên lượng tốt hơn các khối u không có PNS. Đáp ứng tự miễn có thể đồng thời hoạt động như miễn dịch chống khối u, gợi ý mối liên quan với phát hiện sớm ung thư. Mặt khác, tiên lượng thị giác nói chung là xấu, và diễn biến khó dự đoán ngay cả với nhiều liệu pháp khác nhau vẫn là một thách thức.


  1. Wang S, Hou H, Tang Y, et al. An overview on CV2/CRMP5 antibody-associated paraneoplastic neurological syndromes. Neural Regen Res. 2023;18:2357-64.
  2. Cross SA, Salomao DR, Parisi JE, et al. Paraneoplastic autoimmune optic neuritis with retinitis defined by CRMP-5-IgG. Ann Neurol. 2003;54:38-50.
  3. Kaushik M, Virdee J, Giridharan S, et al. Response of Recoverin-Positive Optic Neuritis to Chemotherapy, Steroid, and Plasma Exchange. J Neuro-Ophthalmol. 2024;44:e79-e81.

Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.