Bỏ qua đến nội dung
Giác mạc và mắt ngoài

Viêm kết mạc giác mạc dịch (bệnh đau mắt đỏ)

Viêm kết mạc giác mạc dịch (epidemic keratoconjunctivitis: EKC) là một bệnh viêm kết mạc cấp tính có khả năng lây nhiễm cao do nhiễm adenovirus (AdV) gây ra. Thường được gọi là “đau mắt đỏ” trong dân gian. Tại Nhật Bản, đây là bệnh dịch phổ biến nhất trong lĩnh vực nhãn khoa và cũng là bệnh quan trọng về mặt y tế công cộng ở các nước châu Á 1).

EKC được Fuchs báo cáo lần đầu tiên vào năm 1889 với tên gọi “viêm giác mạc biểu mô chấm”, và đến năm 1938, thuật ngữ “viêm kết giác mạc dịch” mới được sử dụng. Sau đó, vào năm 1955, Jawetz và cộng sự đã xác nhận mối quan hệ căn nguyên trực tiếp với adenovirus 1). Tại Nhật Bản, trong hội nghị chuyên đề của Hội Nhãn khoa Nhật Bản năm 1959, thuật ngữ epidemic keratoconjunctivitis đã được quyết định dịch là “โรคเยื่อบุตาและกระจกตาอักเสบชนิดระบาด” (viêm kết giác mạc dịch) 1).

Ban đầu, EKC điển hình được chẩn đoán lâm sàng khi có ba triệu chứng: viêm kết mạc nang cấp tính, đục dưới biểu mô giác mạc và hạch bạch huyết trước tai, và nguyên nhân chỉ giới hạn ở AdV type 8. Sau đó, EKC do AdV type 19 và 37 thuộc nhóm D cũng được báo cáo, và gần đây, các đợt bùng phát do các type mới AdV 53, 54, 56, 64, 85 đã được xác nhận 1).

Tại Nhật Bản, từ năm 1981, hệ thống giám sát dịch tễ bệnh truyền nhiễm (giám sát bệnh truyền nhiễm) đã được duy trì. EKCbệnh truyền nhiễm loại 5 theo Luật Bệnh truyền nhiễm, được báo cáo từ khoảng 690 cơ sở y tế chuyên khoa mắt trên toàn quốc 1). Viêm kết mạc họng (PCF), cũng là viêm kết mạc do adenovirus, được báo cáo từ khoảng 3.100 cơ sở y tế nhi khoa trên toàn quốc 1).

Theo Hướng dẫn thực hành lâm sàng về viêm kết mạc do virus năm 2025, ước tính khoảng 700.000 đến 1,3 triệu người mắc EKC mỗi năm tại Nhật Bản 1).

Thời gianSố bệnh nhân EKC trên mỗi điểm giám sát (người/năm)Số bệnh nhân PCF trên mỗi điểm giám sát (người/năm)
Trước đại dịch (trung bình 2013-2019)34,8 ± 4,923,3 ± 3,2
Thời kỳ đại dịch (trung bình 2020-2022)11,5 ± 1,6 (giảm khoảng 1/3)11,0 ± 0,17 (giảm khoảng 1/2)
2023 (hậu đại dịch)26,1556,7 (gấp khoảng 2 lần bình thường)

Nhờ các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm chung như vệ sinh tay và đeo khẩu trang trong phòng chống COVID-19, cả EKCPCF đều giảm rõ rệt trong giai đoạn đại dịch 2020–20221,2). Năm 2023, PCF bùng phát trở lại với quy mô gấp khoảng 2 lần bình thường, và EKC cũng đang tiến gần đến mức trước đại dịch1).

Xu hướng tương tự cũng được ghi nhận trong giám sát điểm nhãn khoa tại Hàn Quốc (2013–2022), với tỷ lệ mắc EKC hàng năm đạt đỉnh 22,5 ca trên 1.000 người vào năm 2018, sau đó giảm xuống còn 4,0 ca vào năm 20222). Tỷ lệ mắc tối đa theo tuần giảm từ 49,7 năm 2016 xuống 9,0 năm 2022, nhưng mô hình theo mùa tập trung vào tháng 8–9 vẫn được duy trì2).

Trên toàn thế giới, AdV8 là type nguyên nhân chính gây EKC, nhưng từ năm 1997, việc phát hiện AdV8 đã giảm và thay vào đó, AdV54 trở thành type được phát hiện nhiều nhất trong giai đoạn 2015–20191,18). AdV54 là một huyết thanh hiếm khi được báo cáo trên quốc tế; AdV53, 56, 64 cũng được phát hiện liên tục, và từ năm 2015, AdV85 mới cũng đã được phát hiện và báo cáo1,17).

Theo độ tuổi, nhóm 0–6 tuổi có tỷ lệ cao nhất, giảm dần ở nhóm 7–19 tuổi và 20 tuổi trở lên. Theo Quy định thi hành Luật An toàn Sức khỏe Trường học, bệnh này được xếp vào loại 3 “các bệnh truyền nhiễm khác”, và học sinh phải nghỉ học cho đến khi bác sĩ xác nhận không còn nguy cơ lây nhiễm. Không có quy định cụ thể về số ngày, nhưng thường khoảng 2 tuần được coi là hướng dẫn.

Q “Mắt đỏ” có khả năng lây nhiễm mạnh đến mức nào?
A

Có khả năng lây nhiễm rất cao. Virus adenovirus có thể duy trì khả năng lây nhiễm hơn 10 ngày ngay cả trong môi trường khô ráo, và trở thành nguyên nhân gây nhiễm trùng bệnh viện qua tay nhân viên y tế, đầu đo nhãn áp, hoặc lọ thuốc nhỏ mắt bị nhiễm bẩn. Nhiễm trùng trong gia đình cũng thường gặp, và trong Hướng dẫn thực hành lâm sàng viêm kết mạc do virus năm 2025, tiền sử lây nhiễm trong gia đình được coi là một trong các dấu hiệu hỗ trợ cho tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng. Vì có khả năng lây nhiễm trong khoảng 2 tuần sau khi khởi phát, tức là cho đến khi các dấu hiệu lâm sàng lành hẳn, cần tránh đi học, đi làm cho đến khi hết ghèn mắt và xung huyết.

2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng

Phần tiêu đề “2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”
Thâm nhiễm dưới biểu mô giác mạc trong viêm kết mạc dịch (so sánh trước và sau điều trị)
Karaca EE, Çelik G, İdacı Koç Ş, Evren Kemer Ö. Evaluating the Efficacy of Topical Tacrolimus Alone and in Combination with Prednisolone for Treating Subepithelial Infiltrates in Epidemic Keratoconjunctivitis. Biomedicines. 2025;13(4):895. Figure 5. doi:10.3390/biomedicines13040895. PMCID: PMC12024548. License: CC BY 4.0.
Trước khi bắt đầu điều trị (trái), giác mạc có nhiều thâm nhiễm dưới biểu mô (SEI) rải rác; sau 3 tháng nhỏ tacrolimus đơn độc (phải), các thâm nhiễm này đã thoái lui. Tương ứng với diễn biến tổn thương giác mạc của viêm kết mạc do adenovirus được đề cập trong mục “2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”.

Thời gian ủ bệnh là 7–14 ngày1). Thông thường, bệnh khởi phát đầu tiên ở một mắt, sau vài ngày sẽ lây sang mắt kia và trở thành viêm cả hai mắt. Tỷ lệ khởi phát đồng thời cả hai mắt khoảng 10–20%1).

Các triệu chứng chủ quan chính bao gồm:

  • Sưng mí mắt nặng (rõ rệt hơn so với viêm kết mạc do vi khuẩn)
  • Xung huyết kết mạc
  • Chảy nước mắt
  • Dịch tiết mắt dạng huyết thanh-fibrin (loãng, thoạt nhìn giống như “viêm kết mạc ít dịch tiết”)
  • Cảm giác dị vật
  • Sợ ánh sáng, giảm thị lực sau khi xuất hiện MSI

So với viêm kết mạc do vi khuẩn, sưng mí mắt thường nặng hơn. Dịch tiết mắt có dạng huyết thanh-fibrin, do đó là điểm phân biệt với viêm kết mạc do vi khuẩn có dịch tiết nhầy-mủ1). Các triệu chứng lâm sàng nặng nhất vào khoảng ngày thứ 5-8 sau khởi phát, sau đó giảm dần.

Dấu hiệu lâm sàng (dấu hiệu bác sĩ phát hiện khi khám)

Phần tiêu đề “Dấu hiệu lâm sàng (dấu hiệu bác sĩ phát hiện khi khám)”

EKC có 3 đặc điểm chính sau đây 1).

  1. Viêm kết mạc dạng nang: hình thành các nang ở kết mạc mi dưới và vùng cùng đồ
  2. Thâm nhiễm dưới biểu mô giác mạc đa ổ (MSI) xuất hiện khoảng 1 tuần sau khi khởi phát
  3. Sưng và đau hạch bạch huyết trước tai

Tuy nhiên, không phải lúc nào cả ba dấu hiệu này cũng xuất hiện đồng thời. Thường thì viêm kết mạc dạng nang với tình trạng viêm tương đối nặng khiến nghi ngờ viêm kết mạc do AdV, và trong quá trình diễn tiến, các dấu hiệu điển hình sẽ xuất hiện đầy đủ, dẫn đến chẩn đoán EKC 1).

Kết mạc mi và kết mạc nhãn cầu có hiện tượng xung huyết mạnh. Nang kết mạc mi là dấu hiệu quan trọng nhất để chẩn đoán “viêm kết mạc dạng nang”, nhưng nếu xung huyết và đục kết mạc nặng, có thể khó thấy rõ nang 1). Ở giai đoạn đầu, có thể thấy chấm xuất huyết (điểm xuất huyết nhỏ) trên kết mạc mi trên, có giá trị chẩn đoán cao 1).

Viêm kết mạc giả mạc và diễn biến nặng

Phần tiêu đề “Viêm kết mạc giả mạc và diễn biến nặng”

Trong các trường hợp nặng, sau vài ngày khởi phát, có thể hình thành giả mạc trên kết mạc mi, gọi là viêm kết mạc giả mạc 1). Khi có giả mạc, dịch tiết mắt có dạng gần như nhầy mủ. Về mặt mô học, đó là sản phẩm viêm chứa fibrin, bạch cầu trung tính, đại thực bào, tế bào lympho và tế bào tua 1).

Viêm kết mạc thường tự khỏi trong 2–3 tuần, nhưng ở các trường hợp có giả mạc, tình trạng sưng mí, xung huyết kết mạc và phù nề có thể kéo dài; sau khi viêm thoái lui, có thể để lại sẹo nông trên kết mạc, hoặc trong trường hợp nặng, hình thành mộng kết mạc 1).

Thâm nhiễm dưới biểu mô giác mạc đa ổ (MSI) và phân loại giai đoạn

Phần tiêu đề “Thâm nhiễm dưới biểu mô giác mạc đa ổ (MSI) và phân loại giai đoạn”

Sau 4–5 ngày kể từ khi phát bệnh, xuất hiện viêm giác mạc biểu mô dạng chấm bắt màu fluorescein, kèm theo thâm nhiễm nhẹ trong biểu mô xung quanh, dần dần tiến triển thành thâm nhiễm dưới biểu mô dạng chấm đến hình tròn nhỏ1). Đây là MSI. Nếu không được điều trị steroid thích hợp, MSI sẽ tồn tại dưới dạng đục dưới biểu mô hình tròn nhỏ đến dạng mảng trong nhiều năm, gây suy giảm thị lực (loạn thị không đều, sợ ánh sáng)1).

Hướng dẫn thực hành lâm sàng viêm kết mạc do virus năm 2025 đưa ra phân loại giai đoạn sau đây về sự tiến triển của MSI1).

Giai đoạn MSI 0–II (giai đoạn cấp)

Giai đoạn 0 (ngày thứ 2 sau khởi phát): Mụn nước biểu mô nhỏ, kích thước 25–30 μm. Chỉ có thể quan sát được dưới kính hiển vi đèn khe.

Giai đoạn I (khoảng ngày thứ 4–5): Viêm giác mạc chấm biểu mô (lớp nông biểu mô). Tổn thương dạng chấm nổi, khi nhuộm fluorescein được quan sát dưới dạng các đốm tối nhỏ trong màng nước mắt màu xanh lục.

Giai đoạn II (ngày 6–9): Viêm giác mạc chấm biểu mô (lớp sâu biểu mô). Các tổn thương giai đoạn I hợp nhất và lan đến lớp sâu biểu mô. Nhuộm fluorescein dạng viêm giác mạc chấm nông lớn hơn

Giai đoạn MSI III–V (bán cấp đến mạn tính)

Giai đoạn III (ngày 7 đến tuần 2): Thâm nhiễm dưới biểu mô. Ngoài tổn thương giai đoạn II, có độ mờ nhẹ dưới biểu mô

Giai đoạn IV (tuần 3 đến vài tháng): Đục dưới biểu mô hình tròn nhỏ. Không bắt màu fluorescein

Giai đoạn V (vài tuần đến vài tháng): Đục dưới biểu mô dạng hạt, hình tròn nhỏ. Không bắt màu fluorescein. Gây suy giảm thị lực

Giai đoạn III trở đi tương ứng với các dấu hiệu của MSI (thâm nhiễm dưới biểu mô giác mạc đa ổ) 1).

Hình ảnh lâm sàng khác nhau tùy theo type AdV gây bệnh 1).

  • AdV8 (type cổ điển): Từng được coi là type chính gây EKC trên toàn thế giới, nhưng từ năm 1997 trở đi, tỷ lệ phát hiện giảm dần. Thường có màng giả.
  • AdV54: Viêm kết mạc giai đoạn đầu ở mức độ trung bình, tỷ lệ có màng giả thấp, nhưng tỷ lệ kết hợp MSI cao tới 70–80%, nhiều trường hợp để lại đục dưới biểu mô sau khi lành. Khoảng 50% có kèm sưng hạch bạch huyết trước tai 1,18).
  • AdV85: Viêm kết mạc nặng, sưng mi mắt, xuất huyết dưới kết mạc và nổi hạch trước tai gặp với tần suất cao khoảng 70%. Thường có biến chứng giác mạc như viêm giác mạc biểu mô chấm và MSI1,17)
  • AdV4 (EKC nhẹ): Biểu hiện viêm kết mạc nhẹ, tần suất viêm giác mạc kèm theo thấp khoảng 30%1)
  • Thể trẻ nhỏ: Do mô lympho chưa phát triển đầy đủ nên ít hình thành nang, chủ yếu là xung huyết mạnh, phù nề và màng giả. Ít khi nổi hạch trước tai. Hơn một nửa số ca có triệu chứng toàn thân như sốt, viêm họng, viêm phế quản, viêm tai giữa, tiêu chảy, nôn mửa. Có thể gây viêm giác mạc biểu mô nặng hoặc trợt giác mạc, và bội nhiễm vi khuẩn có thể dẫn đến loét giác mạc1)
  • Viêm kết mạc nhú mạn tính: Thể bệnh nhân vẫn cảm thấy dị vật và chảy nước mắt sau hơn một tháng kể từ khi khởi phát viêm kết mạc do AdV. Kết mạc mi có xung huyết nhẹ và tăng sản nhú, đôi khi có dạng nhung. Nguyên nhân do AdV3, 5, 7, 8, 19, v.v.1)
  • Thể kết hợp viêm niệu đạo do AdV: AdV37, 53, 56 cũng có thể gây viêm niệu đạo ở nam giới. Có báo cáo cho thấy khoảng một nửa số bệnh nhân viêm niệu đạo do AdV đồng thời bị viêm kết mạc, và đường lây truyền qua quan hệ tình dục cũng được chỉ ra1)
Q Thâm nhiễm dưới biểu mô giác mạc (MSI) xuất hiện vào khoảng thời gian nào?
A

Vào ngày thứ 4-5 sau khi phát bệnh, viêm giác mạc biểu mô dạng chấm xuất hiện ở lớp nông của giác mạc, tiến triển thành viêm giác mạc dạng chấm sâu bắt màu fluorescein vào ngày thứ 6-9, và hình thành thâm nhiễm dưới biểu mô từ ngày thứ 7 đến tuần thứ 2. Sau tuần thứ 3, trở thành đục dưới biểu mô dạng hình tròn nhỏ đến dạng hạt. MSI được cho là phản ứng quá mẫn muộn với kháng nguyên adenovirus, đáp ứng tốt với thuốc nhỏ mắt steroid, nhưng nếu ngừng sớm có thể tái phát, cần giảm dần hoặc chuyển sang steroid yếu hơn. Giảm thị lực hoặc sợ ánh sáng có thể kéo dài vài tháng đến vài năm.

Họ Adenoviridae là virus DNA sợi kép, không có vỏ bọc, có cấu trúc hình khối 20 mặt (đường kính 70–90 nm). Được phân loại thành 7 loài từ A đến G. Trước đây được phân loại theo huyết thanh dựa trên phản ứng trung hòa, nhưng từ type AdV52 trở đi, chúng được đánh số dựa trên kiểu gen (genotype) dựa trên trình tự gen1). Hiện nay, type được xác định bằng trình tự của các vùng biến đổi trong bộ gen AdV: penton, hexon và fiber1).

LoàiType chínhBệnh chính
A12, 31Viêm dạ dày ruột nhiễm trùng
B13, 7Nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính, sốt hầu họng kết mạc
B211Viêm bàng quang xuất huyết
C1, 2, 5, 6Nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính
D8, 37, 53, 54, 56, 64, 85Viêm kết mạc dịch
E4Nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính, viêm kết mạc (EKC nhẹ)
F40, 41Viêm dạ dày ruột nhiễm trùng
G52Viêm dạ dày ruột nhiễm trùng

EKC chủ yếu do loại D gây ra1). Mối quan hệ giữa type và thụ thể quyết định sự khác biệt về biểu hiện lâm sàng1).

Năm 2012, Zhou và cộng sự đã làm rõ rằng chủng chuẩn của AdV19 không gây ra EKC, mà chính là biến thể của AdV19 mới gây ra EKC12). Biến thể này là dạng khảm với vùng penton thuộc AdV22 và vùng fiber thuộc AdV37, và được định nghĩa lại là AdV641,12).

Từ năm 2015 trở đi, AdV mới được xác định từ bệnh nhân EKC tại Nhật Bản đã được báo cáo là AdV8517). AdV85 được phân loại vào loại tái tổ hợp mới của human mastadenovirus D, và cũng được phát hiện từ các ca EKC ở nước ngoài1,17).

Đường lây truyền quan trọng nhất là lây nhiễm qua tiếp xúc qua tay1). Adenovirus có đặc tính sinh học rất mạnh và có nhiều đường lây truyền khác nhau.

  • Bàn tay nhân viên y tế: Nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn bệnh viện qua thăm khám và thủ thuật
  • Đầu đo nhãn áp: Nguy cơ nhiễm trùng cao do tiếp xúc trực tiếp với nhãn cầu
  • Lọ thuốc nhỏ mắt bị nhiễm bẩn: Thuốc nhỏ mắt dùng trong thủ thuật được sử dụng cho nhiều bệnh nhân, có thể trở thành nguồn lây nhiễm nếu sử dụng không đúng cách
  • Bề mặt môi trường: Tay nắm cửa, bàn, ghế, v.v. Dung dịch chứa adenovirus có thể duy trì khả năng lây nhiễm trên 10 ngày ngay cả khi khô tự nhiên

Lây nhiễm trong gia đình cũng phổ biến; Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm kết mạc do virus phiên bản 2025 đã sử dụng tiền sử lây nhiễm trong gia đình như một dấu hiệu hỗ trợ cho tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng1).

Viêm kết mạc do AdV có khả năng lây nhiễm mạnh, gây ra lây nhiễm trong bệnh viện, do đó cần chẩn đoán nhanh chóng và chính xác1). Nhân viên lễ tân, kỹ thuật viên thị lực và y tá cần hỏi bệnh nhân về các triệu chứng như sung huyết kết mạc, khó chịu, và nếu nghi ngờ nhiễm trùng, cần nhanh chóng thử nghiệm bằng bộ chẩn đoán nhanh để xác định chẩn đoán1). Nếu có từ hai bệnh nhân trở lên trong cùng một khoa, cần xác định là lây nhiễm trong bệnh viện và thực hiện các biện pháp như hạn chế nhập viện mới hoặc đóng cửa khoa trong ít nhất một tuần1).

Chẩn đoán viêm kết mạc do AdV dựa trên sự kết hợp giữa các dấu hiệu viêm kết mạc nang cấp tính và xét nghiệm virus học, hoặc các dấu hiệu lâm sàng đặc trưng1).

Phân loạiMục
A. Xét nghiệm vi sinhA-1. Dương tính kháng nguyên AdV bằng kit phát hiện nhanh kháng nguyên AdV
A-2. Phát hiện gen AdV bằng phương pháp PCR
B. Dấu hiệu khách quanB-1. Viêm kết mạc nang cấp tính
B-2. Chấm xuất huyết kết mạc
B-3. Màng giả kết mạc
B-4. Viêm giác mạc biểu mô lan tỏa hoặc thâm nhiễm dưới biểu mô giác mạc đa ổ
C. Dấu hiệu hạch bạch huyết trước taiSưng hoặc đau khi ấn
D. Dấu hiệu toàn thânCó ít nhất một trong các triệu chứng: sốt, đau họng, viêm phế quản
E. Lây nhiễm trong gia đình
  • Chẩn đoán xác định: Đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí A và có B-1
  • Chẩn đoán lâm sàng: Có cả B-1 và B-2, đồng thời có ít nhất một trong các tiêu chí B-3, B-4, C, D, E dương tính

Do có những cơ sở không thể thực hiện xét nghiệm vi sinh hoặc xét nghiệm vi sinh âm tính nhưng vẫn nghi ngờ mạnh EKC, nên tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng kết hợp các dấu hiệu lâm sàng tương quan cao với xét nghiệm virus là chấm xuất huyết kết mạc, màng giả kết mạc, lây nhiễm trong gia đình đã được thiết lập1).

Phương pháp sắc ký miễn dịch (Bộ kit phát hiện kháng nguyên nhanh)

Phần tiêu đề “Phương pháp sắc ký miễn dịch (Bộ kit phát hiện kháng nguyên nhanh)”

Bộ kit phát hiện nhanh kháng nguyên AdV sử dụng phương pháp sắc ký miễn dịch (IC), được gọi là bộ kit phát hiện kháng nguyên, là phương pháp xét nghiệm duy nhất có thể xác định kháng nguyên AdV một cách nhanh chóng và thuận tiện1). Đây là xét nghiệm thiết yếu không thể thiếu trong chẩn đoán viêm kết mạc do AdV tại lâm sàng, và nên được trang bị thường xuyên tại phòng khám mắt.

Phương pháp xét nghiệmĐộ nhạyĐộ đặc hiệuThời gian đọc kết quảĐặc điểm
Phương pháp sắc ký miễn dịch (ngoáy kết mạc)Khoảng 70–80%Gần như 100%5–15 phútDương tính là xác định. Cần ngoáy kết mạc bằng tăm bông.
Phương pháp sắc ký miễn dịch (lấy nước mắt)Khoảng 70–80%Gần như 100%5–15 phútĐặt giấy lọc 5×5 mm lên mi dưới, ít xâm lấn, hữu ích cho trẻ em3)
Phương pháp IC tự động khuếch đại bạcTăngGần 100%Khoảng 15 phútMở rộng hạt vàng keo đánh dấu bằng bạc khoảng 100 lần, hiện có độ nhạy cao nhất 4)
Phương pháp PCRĐộ nhạy caoCaoTrong ngày đến ngày hôm sauCó thể xác định type, không được bảo hiểm chi trả
Nuôi cấy phân lập virusPhương pháp tiêu chuẩnPhương pháp tiêu chuẩnVài tuầnTiêu chuẩn vàng nhưng tốn thời gian

Đối với mẫu phết kết mạc, cần gây tê nhỏ mắt rồi dùng tăm bông chà mạnh lên kết mạc mi vài lần. Lượng mẫu ít là một nguyên nhân làm giảm độ nhạy phát hiện, do đó cần chà xát đủ mạnh1). Tăm bông sau khi lấy mẫu được khuấy trong ống dung dịch chiết, cọ xát kỹ vào thành trong ống để giải phóng virus từ tăm bông vào dung dịch chiết1).

Lấy mẫu nước mắt là phương pháp được giới thiệu từ năm 2018, dùng giấy lọc kèm theo đặt vào mi dưới để thu nước mắt có chứa dịch tiết kết mạc1,3). Phương pháp này ít xâm lấn vì không cần chà xát kết mạc, hữu ích cho cả trẻ em. Tính đến tháng 4 năm 2024, có ba bộ kit phát hiện kháng nguyên hỗ trợ lấy mẫu nước mắt: “QuickChaser® Adeno Eye”, “QuickChaser® Auto Adeno Eye” và “Fuji Dri-Chem IMMUNO AG Cartridge Adeno OPH”1).

Giải thích thực tế về độ nhạy phát hiện

Phần tiêu đề “Giải thích thực tế về độ nhạy phát hiện”

Độ đặc hiệu gần như 100%, do đó kết quả dương tính xác định nhiễm AdV. Tuy nhiên, độ nhạy phát hiện khoảng 70–80%, nên kết quả âm tính không hoàn toàn loại trừ nhiễm AdV1).

Ngay cả khi mẫu bệnh phẩm được lấy bởi bác sĩ nhãn khoa có kinh nghiệm trong điều trị viêm kết mạc nhiễm trùng, chỉ có khoảng một nửa số mẫu phát hiện được DNA của AdV bằng phương pháp PCR 1). Hơn nữa, vì độ nhạy phát hiện chỉ khoảng 80%, không phải tất cả các mẫu PCR dương tính đều cho kết quả dương tính với phương pháp IC. Trên thực tế lâm sàng, chỉ khoảng 10–20% mẫu cho kết quả dương tính với bộ kit phát hiện kháng nguyên, phần lớn là âm tính 1). Tuy nhiên, nếu kết quả dương tính thì có thể xác định chắc chắn nhiễm AdV, do đó việc thực hiện xét nghiệm có ý nghĩa lớn.

PCR là phương pháp xét nghiệm di truyền sử dụng mồi đặc hiệu trình tự và DNA polymerase để khuếch đại vùng DNA đích lên hàng triệu lần, có thể xác định AdV với độ nhạy cao hơn so với bộ kit phát hiện kháng nguyên 1). Phương pháp này không được bảo hiểm chi trả, cần gửi đến phòng xét nghiệm bên ngoài hoặc các cơ quan chuyên môn như viện vệ sinh dịch tễ địa phương.

Có thể xác định huyết thanh học từ trình tự nucleotide của vùng hexon, và kiểu hình được xác định dựa trên trình tự của các vùng penton, hexon và fiber 1). Trong thực hành lâm sàng, chính sách kiểm soát nhiễm trùng không thay đổi đáng kể theo kiểu hình, nhưng vì mức độ nghiêm trọng của viêm kết mạc và tần suất biến chứng giác mạc khác nhau tùy theo kiểu hình, nên biết kiểu hình có ích cho việc điều trị và theo dõi 1).

Nhuộm Giemsa phết dịch mắt của bệnh nhân nghi ngờ viêm kết mạc do AdV, nếu thấy ưu thế tế bào đơn nhân (lympho bào) thì nghi ngờ nhiễm virus, đây là phương pháp chẩn đoán hỗ trợ gợi ý viêm kết mạc do virus bao gồm AdV 1).

Cần phân biệt với các bệnh truyền nhiễm gây viêm kết mạc nang cấp tính. Hướng dẫn thực hành lâm sàng viêm kết mạc do virus phiên bản 2025 có sơ đồ chẩn đoán phân biệt viêm kết mạc, dựa trên sự hiện diện của nang hoặc nhú ở kết mạc mi, tính chất dịch mắt, các dấu hiệu kèm theo ở giác mạc và mi mắt, cũng như triệu chứng toàn thân để chẩn đoán 1).

BệnhThể lâm sàngDử mắtDấu hiệu giác mạcHạch trước taiTriệu chứng toàn thân
Viêm kết mạc do AdV (EKC)NangHuyết thanh - fibrinViêm giác mạc biểu mô - MSISưng - đau khi ấnPCF: đau họng - sốt
Viêm kết mạc do vi khuẩnTính catarrhalNiêm dịch mủBiểu môKhôngKhông
Enterovirus (AHC)Dạng nangHuyết thanh - fibrinBiểu mô - xuất huyết dưới kết mạcĐôi khi +Không
Viêm kết mạc HSVDạng nangNhầy mủHình nhánh cây hoặc bản đồĐôi khi +Sốt trong lần nhiễm đầu
Viêm kết mạc do Chlamydia (người lớn)Dạng nangNiêm dịch mủThâm nhiễm điểmSưng, đauViêm niệu đạo
Viêm kết mạc dị ứng · Viêm kết mạc mùa xuânDạng nhúDạng nhầyPhù rìa · Loét shieldKhôngViêm da dị ứng

Đặc biệt khó phân biệt với viêm kết mạc do HSV. Viêm kết mạc do HSV thường một bên mắt và tự khỏi trong thời gian tương đối ngắn khoảng 7 ngày, nhưng hiếm khi có hình ảnh điển hình như viêm giác mạc hình cành cây, và được cho là bao gồm một số trường hợp âm tính với bộ kit phát hiện nhanh kháng nguyên AdV1). Có thể kèm tổn thương ở mi mắt và da, do đó cần chú ý đến các dấu hiệu trên da.

Viêm kết mạc do Chlamydia thường một bên mắt, kéo dài trên 2 tuần, và tiền sử viêm niệu đạo/viêm cổ tử cung có thể gợi ý. Viêm kết mạc xuất huyết cấp tính (AHC) do enterovirus đặc trưng bởi khởi phát cấp tính hai mắt cùng lúc và xuất huyết dưới kết mạc1).

Báo cáo và xử trí theo quy định pháp luật

Phần tiêu đề “Báo cáo và xử trí theo quy định pháp luật”

EKCbệnh truyền nhiễm loại 5 theo Luật Bệnh truyền nhiễm, các cơ sở y tế nhãn khoa chỉ định phải báo cáo hàng tuần. Theo Quy chế thi hành Luật An toàn sức khỏe trường học, EKC được xếp vào loại 3 “Các bệnh truyền nhiễm khác”, và học sinh phải nghỉ học cho đến khi bác sĩ xác nhận không còn nguy cơ lây nhiễm. Không có quy định cụ thể về số ngày, nhưng dựa trên diễn biến lâm sàng, thường khoảng 2 tuần được coi là hướng dẫn.

Q Nếu xét nghiệm nhanh âm tính thì có thể nói không phải viêm kết mạc dịch hay không?
A

Không thể nói chắc chắn. Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm kết mạc do virus năm 2025, độ nhạy của bộ xét nghiệm phát hiện kháng nguyên nhanh là khoảng 70–80%, do đó kết quả âm tính cũng không thể loại trừ hoàn toàn nhiễm AdV. Ngay cả khi mẫu được lấy bởi bác sĩ nhãn khoa giàu kinh nghiệm trong điều trị viêm kết mạc nhiễm trùng, chỉ khoảng một nửa số mẫu phát hiện được AdV-DNA bằng PCR, và không phải tất cả mẫu PCR dương tính đều cho kết quả dương tính với phương pháp IC. Nếu kết quả âm tính nhưng lâm sàng và diễn tiến mạnh mẽ nghi ngờ EKC, chẩn đoán được thực hiện bằng cách kết hợp các tiêu chí chẩn đoán lâm sàng như chấm xuất huyết kết mạc, màng giả và lây nhiễm trong gia đình.

Hiện tại không có thuốc kháng virus đặc hiệu cho adenovirus và không thể điều trị triệt để EKC1). Mục tiêu điều trị là giảm viêm trong giai đoạn cấp và điều trị MSI; việc sử dụng thuốc nhỏ mắt steroid, chế phẩm iốt và thuốc nhỏ mắt ức chế miễn dịch đều cần được cân nhắc cẩn thận tùy theo giai đoạn bệnh và mức độ nghiêm trọng1).

Tổng quan về quy trình điều trị (GL 2025, Hình 32)

Phần tiêu đề “Tổng quan về quy trình điều trị (GL 2025, Hình 32)”

Quy trình điều trị được trình bày trong Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm kết mạc do virus năm 20251) được tóm tắt dưới đây.

  1. Giai đoạn cấp tính (khởi phát đến 7 ngày)
    • Hướng dẫn phòng ngừa nhiễm trùng (quan trọng nhất)
    • Nếu tổn thương biểu mô nặng: nhỏ kháng sinh ngắn hạn để phòng ngừa nhiễm trùng thứ phát
    • Nếu viêm nặng (giả mạc, viêm giác mạc dạng sợi, khuyết biểu mô giác mạc): nhỏ corticosteroid để chống viêm
    • Có thể kết hợp nhỏ iod (thuốc OTC) trong 3 ngày đến 1 tuần như một lựa chọn
  2. Tại lần tái khám (khoảng 7 ngày sau khởi phát)
    • Xuất hiện MSI: bắt đầu nhỏ steroid (trường hợp nặng có thể cân nhắc phối hợp iod)
  3. Giai đoạn mạn tính (khi MSI kéo dài)
    • Trường hợp tái phát khi giảm dần steroid, MSI kháng steroid, tăng nhãn áp do steroid: cân nhắc thuốc nhỏ ức chế miễn dịch (thuốc OTC)

Thuốc nhỏ mắt kháng sinh vốn không có tác dụng đối với viêm kết mạc do virus, chỉ sử dụng khi có tổn thương biểu mô giác mạc nặng ở giai đoạn đầu bệnh 1). Trong EKC nặng như nhóm D, nhiễm trùng do vi khuẩn thường gặp, do đó có thể cần dùng thuốc nhỏ mắt kháng sinh.

Trước tình trạng gia tăng nhanh vi khuẩn Corynebacterium kháng quinolon tại Nhật Bản, lựa chọn đầu tiên nên là thuốc nhỏ mắt cefmenoxime 1). Thuốc nhỏ mắt nhóm aminoglycosid dễ gây tổn thương biểu mô giác mạc, cần tránh sử dụng 1). Bất kỳ loại kháng sinh nào cũng nên dùng trong thời gian ngắn với tinh thần sử dụng hợp lý.

Thuốc nhỏ mắt steroid không bắt buộc trong trường hợp nhẹ, nhưng hữu ích khi có viêm nặng kèm hình thành màng giả, viêm giác mạc dạng sợi, hoặc khuyết biểu mô giác mạc, cũng như để giảm triệu chứng sớm 1).

Tuy nhiên, ngoài tác dụng phụ gây glôcôm và đục thủy tinh thể, thuốc nhỏ mắt steroid còn được ghi nhận làm chậm thanh thải virus 1). Do đó, trong giai đoạn cấp tính virus nhân lên mạnh, nên kết hợp thuốc nhỏ mắt steroid với chế phẩm iốt 1).

Nhỏ mắt steroid khi xuất hiện MSI có hiệu quả đối với sự thâm nhiễm tế bào do phản ứng quá mẫn muộn với kháng nguyên AdV. Ví dụ đơn thuốc điển hình, sử dụng steroid mạnh như betamethasone natri phosphat 0,1% (Sanbetazone®) có thể làm giảm hoặc biến mất ngay cả những đục khá nặng. Nếu ngừng nhỏ mắt sớm, độ đục có thể tăng trở lại, cần có các biện pháp như giảm dần số lần nhỏ hoặc chuyển dần sang steroid yếu hơn. Khi sử dụng lâu dài, bắt buộc phải theo dõi nhãn áp.

Ở trẻ em dưới 3 tuổi khó nhỏ mắt trong trường hợp viêm nặng, có thể cân nhắc dùng steroid đường uống1,9).

Chế phẩm iod có tác dụng diệt khuẩn nhờ iod tự do oxy hóa biến tính protein bề mặt vi sinh vật1). Povidon-iod (PVP-I) có hiệu quả trong 1-5 phút đối với nhiều type AdV trong nghiên cứu in vitro, và đã được xác nhận hiệu quả đối với AdV-1, -2, -3, -4, -5, -6, -7, -8, -11, -37, -53, -54, -56, -64, -81, -851).

Tuy nhiên, PVP-I về nguyên tắc không được khuyến cáo sử dụng trên niêm mạc mắt, và tại Nhật Bản, dung dịch pha loãng của Iod-Polyvinyl Alcohol (PVA-I) có tác dụng bất hoạt tương tự được sử dụng 1).

  • Dung dịch nhỏ mắt và rửa mắt PA-Iod: Pha loãng 4-8 lần với nước muối sinh lý trước khi sử dụng. Đã được chứng nhận về độ an toàn và hiệu quả trên bề mặt nhãn cầu trong chỉ định điều trị herpes giác mạc và sát khuẩn rửa mắt.
  • Dung dịch nhỏ mắt Saniod®: Thuốc OTC được đưa ra thị trường vào năm 2022. Không thuộc diện bảo hiểm y tế, bệnh nhân tự chi trả toàn bộ, chỉ sử dụng trong vòng 3 ngày sau khi mở nắp, có cảm giác kích ứng.

Trong một nghiên cứu trên các bệnh nhân EKC trong vòng 1 tuần sau khởi phát, việc kết hợp PVA-I pha loãng 6 lần với nhỏ mắt fluorometholone 0,1% (Flumetholon® 0,1%) cho thấy hiệu quả ức chế sự phát triển của MSI so với kết hợp levofloxacin hydrat và nhỏ mắt fluorometholone 0,1% 6). Cũng có báo cáo cho rằng chỉ cần một liều duy nhất tại thời điểm đến khám cũng có hiệu quả trong việc kiểm soát triệu chứng ban đầu 5).

Thuốc nhỏ mắt ức chế miễn dịch (không thuộc diện bảo hiểm y tế)

Phần tiêu đề “Thuốc nhỏ mắt ức chế miễn dịch (không thuộc diện bảo hiểm y tế)”

Là thuốc ức chế miễn dịch không steroid, cyclosporin và tacrolimus được sử dụng. Cả hai đều ức chế calcineurin, làm giảm sản xuất IL-2 cần thiết cho sự tăng sinh tế bào T 1).

  • Thuốc nhỏ mắt cyclosporin 0,05% / 0,5% / 1% / 2%: Có báo cáo về hiệu quả trong phòng ngừa và cải thiện giai đoạn cấp của MSI, cũng như làm giảm kéo dài giai đoạn mạn tính 1,7). Ưu điểm là ít tái phát hơn sau khi ngừng so với steroid 1). Trên mô hình động vật, thuốc ức chế MSI nhưng làm tăng hiệu giá virus 1)
  • Thuốc nhỏ mắt tacrolimus 0,03%: Đối với các trường hợp MSI kéo dài ở giai đoạn mạn tính, làm giảm kích thước và số lượng MSI, cải thiện tiên lượng thị lực 1,8). Có hiệu quả ngay cả với MSI kháng steroid và có thể giúp giảm dần steroid. Tác dụng phụ là 17,8% (chủ yếu là cảm giác nóng rát, đỏ, dị vật), và không gây tăng nhãn áp là một lợi thế lớn 1)

Các thuốc này được xem xét sử dụng cho các trường hợp MSI kháng steroid hoặc tái phát khi giảm dần steroid, cũng như các trường hợp tăng nhãn áp do thuốc nhỏ mắt steroid 1).

Về mặt mô học, màng giả được chứng minh là sản phẩm viêm bao gồm fibrin, bạch cầu trung tính, đại thực bào, tế bào lympho và tế bào đuôi gai, cần được loại bỏ sớm để ngăn ngừa dính và sẹo do xơ hóa và sừng hóa kết mạc 1). Khi bóc tách, cần chú ý đầy đủ đến các biện pháp kiểm soát nhiễm trùng và tránh bóc tách quá mạnh.

Để ngăn ngừa tổn thương giác mạc-kết mạc nặng hơn và lây truyền vi-rút do viêm kết mạc AdV, hướng dẫn ngừng đeo kính áp tròng. Cân nhắc thời gian thải vi-rút, ngừng đeo khoảng 2 tuần sau khi khởi phát, tức là cho đến khi lành bệnh trên lâm sàng 1). Sau đó, quyết định dựa trên sự hiện diện của MSI kéo dài.

Các biện pháp kiểm soát nhiễm trùng bệnh viện (GL 2025, Chương VI)

Phần tiêu đề “Các biện pháp kiểm soát nhiễm trùng bệnh viện (GL 2025, Chương VI)”

Vì đường lây nhiễm chủ yếu qua bàn tay, việc rửa tay và đeo găng tay là rất quan trọng1).

  • Bàn tay nhân viên y tế: Sau khi loại bỏ virus bằng nước chảy, thoa cồn sát khuẩn ethanol hoặc dung dịch sát khuẩn tay nhanh khô lên tay và để khô. Sử dụng găng tay dùng một lần cho bệnh nhân nghi nhiễm virus
  • Dụng cụ khám mắt (kính hiển vi đèn khe, kính soi đáy mắt gián tiếp, kính tiếp xúc không, khung thử kính, kính thử): Lau bằng cồn 80% sau khi sử dụng
  • Dụng cụ tiếp xúc hoàn toàn với nhãn cầu (kính tiếp xúc, dụng cụ mở mi, đầu đo nhãn áp): Rửa kỹ bằng nước, sau đó ngâm trong cồn 80% trong 5 phút
  • Bề mặt môi trường (tay nắm cửa, bàn, ghế, quầy tiếp tân): Lau bằng cồn 80%
  • Chất khử trùng mạnh nhất: Natri hypochlorite 0,1% (nhưng có thể gây tổn thương da và ăn mòn kim loại, không dùng cho tay và dụng cụ y tế)
  • Chất khử trùng đa năng (MPD): Rubista® (Virkon®) có thể dùng thay thế cho lau bằng cồn 80%, có hiệu quả cao trong việc bất hoạt các loại virus và vi khuẩn1)

Nếu có từ 2 bệnh nhân trở lên trong cùng một khu vực nội trú, được coi là nhiễm khuẩn bệnh viện và sẽ áp dụng biện pháp hạn chế nhập viện mới và đóng cửa khu vực trong ít nhất 1 tuần1).

Phân loại thuốcThuốc/Nồng độCách dùngVai trò
Thuốc kháng sinhCefmenoxime nhỏ mắtNgắn hạnDự phòng nhiễm trùng thứ phát khi tổn thương biểu mô nặng (lựa chọn đầu tay)
CorticosteroidFlumetholon® 0.1% (Fluorometholone)4-5 lần/ngàyTrường hợp viêm nặng giai đoạn cấp có màng giả
SteroidSanbetazon® (Betamethason 0,1%)5 lần/ngàyĐiều trị MSI (steroid mạnh)
Chế phẩm iodThuốc nhỏ mắt PA·Iod (PVA-I)Pha loãng 4-8 lần với nước muối sinh lýXem xét để bất hoạt virus giai đoạn cấp
Chế phẩm iốtThuốc nhỏ mắt Sanyodo® (OTC)Trong vòng 3 ngày sau khi mở nắpĐược xem xét để bất hoạt virus giai đoạn cấp
Thuốc ức chế miễn dịchThuốc nhỏ mắt cyclosporin 0,05–2%Vài lần mỗi ngàyĐược xem xét trong MSI kháng steroid (không được bảo hiểm chi trả)
Thuốc ức chế miễn dịchTacrolimus nhỏ mắt 0,03%2 lần/ngàyXem xét trong trường hợp MSI mạn tính kéo dài (không thuộc bảo hiểm)
Q Khi nào dùng thuốc nhỏ mắt steroid?
A

Thuốc nhỏ mắt steroid không được sử dụng cho tất cả các trường hợp, mà được xem xét khi có viêm nặng, giả mạc, viêm giác mạc dạng sợi, khuyết tật biểu mô giác mạc, hoặc xuất hiện thâm nhiễm dưới biểu mô giác mạc đa ổ (MSI). Khi sử dụng trong giai đoạn cấp tính, việc thanh thải virus bị chậm lại, do đó nên kết hợp với chế phẩm iod. Steroid mạnh như betamethasone 0,1% có hiệu quả đối với MSI, nhưng ngừng sớm có thể gây tái phát, vì vậy cần giảm dần hoặc chuyển dần sang steroid yếu hơn; khi sử dụng lâu dài, bắt buộc phải theo dõi nhãn áp. Trong trường hợp kháng steroid hoặc tăng nhãn áp, có thể cân nhắc thuốc nhỏ mắt cyclosporine hoặc tacrolimus, lưu ý rằng các thuốc này không được bảo hiểm chi trả.

6. Sinh lý bệnh học và cơ chế bệnh sinh chi tiết

Phần tiêu đề “6. Sinh lý bệnh học và cơ chế bệnh sinh chi tiết”

Cấu trúc của adenovirus và cơ chế lây nhiễm

Phần tiêu đề “Cấu trúc của adenovirus và cơ chế lây nhiễm”

Họ Adenoviridae là virus DNA sợi kép, không có vỏ bọc, có cấu trúc hình khối 20 mặt đều (đường kính 70–90 nm), trọng lượng phân tử 20–25×10⁶. Sợi (fiber) của adenovirus có ái lực với thụ thể trên tế bào biểu mô kết mạc, bám dính và bắt đầu nhiễm trùng. Thụ thể khác nhau tùy theo type, và sự khác biệt lâm sàng giữa type EKC (viêm kết mạc nặng) và type PCF (triệu chứng toàn thân nổi bật) được quy định bởi mối quan hệ giữa thụ thể và sợi virus.

Sự thay đổi phân loại type và các type lưu hành tại Nhật Bản

Phần tiêu đề “Sự thay đổi phân loại type và các type lưu hành tại Nhật Bản”

Trước đây, type của AdV được xác định là huyết thanh type (serotype) dựa trên phản ứng trung hòa sử dụng virus nuôi cấy1). Tuy nhiên, do số lượng kháng huyết thanh trung hòa có sẵn bị hạn chế, việc xác định tất cả các type gặp khó khăn.

Sau đó, nhờ sự tiến bộ của phương pháp xét nghiệm di truyền, việc xác định huyết thanh type dựa trên trình tự nucleotide của vùng hexon (gen trung hòa) đã trở nên khả thi. Hơn nữa, cấu trúc bộ gen của AdV đã được làm sáng tỏ, và sự tồn tại của virus tái tổ hợp giữa các type đã được phát hiện 1). AdV1–51 là các huyết thanh type dựa trên phương pháp trung hòa, nhưng từ AdV52 trở đi, chúng được đánh số là kiểu gen (genotype) dựa trên trình tự nucleotide 1). Hiện nay, type được xác định dựa trên trình tự của các vùng penton, hexon và fiber.

Năm 2012, Zhou và cộng sự đã chứng minh rằng chủng chuẩn của AdV19 không gây ra EKC, và tác nhân gây EKC thực sự là một chủng đột biến AdV19 dạng khảm với vùng penton type 22 và vùng fiber type 37, và được định nghĩa lại là AdV64 12).

Một nghiên cứu về các biểu hiện lâm sàng của viêm kết mạc do AdV tại Nam Kyushu, Nhật Bản, từ năm 2011 đến 2014, báo cáo rằng AdV8, 37 và 54 gây ra biến chứng giác mạc với tần suất cao hơn đáng kể và thời gian nhiễm trùng kéo dài hơn so với AdV53 và 56 16). Điều này cho thấy việc xác định chính xác type có ý nghĩa quan trọng về mặt lâm sàng và dịch tễ học.

Kaneko và cộng sự, từ nghiên cứu dịch tễ học phân tử của AdV54, đã chỉ ra rằng AdV54 có quan hệ tiến hóa gần với AdV8, và tại Nhật Bản từ năm 1997 trở đi, AdV54 đã trở nên phổ biến thay thế khi sự phát hiện AdV8 giảm dần18). AdV54 hầu như không được báo cáo từ nước ngoài và là một chủng lưu hành đặc thù của Nhật Bản1,18).

Cơ chế bệnh sinh của MSI (phản ứng quá mẫn muộn)

Phần tiêu đề “Cơ chế bệnh sinh của MSI (phản ứng quá mẫn muộn)”

MSI là sự thâm nhiễm tế bào xảy ra do phản ứng quá mẫn muộn đối với kháng nguyên AdV ở lớp nông nhất của nhu mô giác mạc, và được cho là không phải do sự nhân lên của virus1). Khái niệm này đã được thiết lập từ nghiên cứu kinh điển của Sugiura Seiji vào năm 1959. Tuy nhiên, khả năng adenovirus tồn tại dưới dạng nhiễm trùng tiềm ẩn vẫn chưa được loại trừ hoàn toàn.

Đáp ứng miễn dịch và kháng thể trung hòa

Phần tiêu đề “Đáp ứng miễn dịch và kháng thể trung hòa”

Khoảng 10 ngày sau khi khởi phát, hiệu giá kháng thể trung hòa đặc hiệu type tăng lên, tương ứng với sự cải thiện triệu chứng lâm sàng. Kháng thể trung hòa có tính đặc hiệu type, ví dụ nhiễm AdV8 không có kháng thể trung hòa AdV3, do đó có thể tái nhiễm lâm sàng. Mặt khác, vì có phản ứng chéo trong cùng một loài, nên bệnh nhân có tiền sử AdV37 ít bị nhiễm AdV8 hơn.

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng kháng thể trung hòa có thể không được duy trì suốt đời, và không thể loại trừ khả năng bệnh nhân mắc bệnh ở thời thơ ấu có thể tái nhiễm cùng một type sau tuổi trung niên.

Arici và cộng sự (2022) đã nghiên cứu 66 mắt của 33 bệnh nhân mắc SEI (thâm nhiễm dưới biểu mô giác mạc) và báo cáo rằng độ dày giác mạc trung tâm (CCT) của mắt bị ảnh hưởng đầu tiên là 526,1±28,1 μm, mỏng hơn đáng kể so với nhóm đối chứng (557,0±38,1 μm) (p=0,003)13). Thị lực tốt nhất có điều chỉnh (logMAR) của mắt bị ảnh hưởng đầu tiên là 0,20±0,29, giảm đáng kể so với nhóm đối chứng (−0,01±0,05), và có mối tương quan nghịch giữa mật độ SEI với IOPg và IOPcc (r=−0,479, p=0,006)13). Cần lưu ý rằng độ dày giác mạc trung tâm giảm ở mắt bị SEI có thể dẫn đến đánh giá thấp giá trị đo nhãn áp trong quá trình điều trị bằng steroid.

7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai

Phần tiêu đề “7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai”

Sự trở lại của dịch bệnh sau đại dịch

Phần tiêu đề “Sự trở lại của dịch bệnh sau đại dịch”

Theo Hướng dẫn thực hành lâm sàng viêm kết mạc do virus năm 2025, nhờ các biện pháp kiểm soát COVID-19, số ca EKC được báo cáo trên mỗi điểm giám sát trong thời kỳ đại dịch đã giảm xuống còn khoảng một phần ba so với trước đại dịch, nhưng đến năm 2023 đã phục hồi gần như về mức bình thường 1). PCF đã tái bùng phát với quy mô gấp đôi bình thường vào năm 2023, và cần lưu ý rằng EKC cũng có thể bùng phát vượt mức trước đại dịch trong tương lai 1,2).

Đặc biệt, việc giám sát xu hướng ở các nhóm tuổi từng có tỷ lệ mắc cao như nhà trẻ, mẫu giáo và trường học là rất quan trọng 2).

Việc phát triển thuốc kháng virus đặc hiệu đang được tiến hành. Gel ganciclovirpovidone-iodine đã được báo cáo là rút ngắn thời gian EKC cấp tính và giảm nguy cơ xuất hiện thâm nhiễm dưới biểu mô, nhưng nồng độ và liều lượng tối ưu vẫn chưa được thiết lập 5,10,11). Trong tổng quan Cochrane (Liu 2022), kết luận rằng hiện tại bằng chứng về can thiệp dược lý tại chỗ cho EKC còn hạn chế và không có thuốc nào cho thấy lợi ích lâm sàng chắc chắn so với nhóm đối chứng 15).

CyclosporineTacrolimus dạng nhỏ mắt được xem là có triển vọng trong điều trị MSI, đặc biệt được xem xét ở các trường hợp kháng steroid hoặc tái phát khi giảm liều steroid 1,7,8).

Trong số các thuốc kháng virus đang được thử nghiệm, Cidofovir nhỏ mắt ức chế DNA polymerase của virus trong tế bào, nhưng các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng không cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa về diễn biến lâm sàng, và cũng có báo cáo về tác dụng phụ như hẹp ống lệ và viêm kết mạc. Trifluridine nhỏ mắt cho thấy giảm tải lượng virus in vitro đối với AdV8, 19, 13, nhưng không ghi nhận rút ngắn thời gian điều trị trong thử nghiệm lâm sàng trên người. Famciclovir đường uống là thuốc ức chế mạnh AdV và đang là ứng cử viên cho thử nghiệm giai đoạn II.

Các bộ kit chẩn đoán nhanh xâm lấn tối thiểu và độ nhạy cao như phương pháp sắc ký miễn dịch từ mẫu nước mắt và phương pháp IC tự động khuếch đại bạc đã được đưa vào sử dụng 1,3,4). Các phương pháp này được kỳ vọng sẽ giảm gánh nặng cho bệnh nhân nhi và cải thiện tỷ lệ phát hiện ở các trường hợp trước đây có độ nhạy thấp như mắt bị ảnh hưởng thứ phát.

Viêm tuyến lệ cấp tính liên quan đến EKC

Phần tiêu đề “Viêm tuyến lệ cấp tính liên quan đến EKC”

Viêm tuyến lệ cấp tính thứ phát sau EKC là một biến chứng cực kỳ hiếm gặp ở người lớn. Takahashi và cộng sự (2022) đã báo cáo một trường hợp viêm tuyến lệ cấp tính ở người lớn liên quan đến EKC, với xét nghiệm huyết thanh cho thấy IgM dương tính với adenovirus type 3 14). Cơ chế được cho là do xâm nhập trực tiếp vào tuyến lệ hoặc lây lan thứ phát từ tổn thương giác mạc-kết mạc, và chỉ có 4-5 trường hợp người lớn được báo cáo 14).

Từ năm 2015, virus mới AdV85 đã được xác định tại Nhật Bản, với các báo cáo bao gồm 5 ca tại tỉnh Fukushima 17). AdV85 là một human mastadenovirus D tái tổ hợp, biểu hiện lâm sàng điển hình của EKC (viêm kết mạc nặng, xuất huyết dạng chấm, sưng hạch bạch huyết trước tai, MSI) 1,17). Cần chú ý đến xu hướng dịch tễ trong tương lai.

  1. ウイルス性結膜炎診療ガイドライン作成委員会. ウイルス性結膜炎診療ガイドライン(2025年版). 日眼会誌. 2025;129(12):1145-1186.
  2. Seo Y, Kim I, Cha J, Kang S, Gwack J. [Ophthalmologic Sentinel Surveillance Results, 2013-2022]. Public Health Wkly Rep. 2023;16(29):992-1004. doi:10.56786/PHWR.2023.16.29.2. PMID:41333894; PMCID:PMC12551754.
  3. Migita H, Ueno T, Tsukahara-Kawamura T, Saeki Y, Hanaoka N, Fujimoto T, et al. Evaluation of adenovirus amplified detection of immunochromatographic test using tears including conjunctival exudate in patients with adenoviral keratoconjunctivitis. Graefe’s archive for clinical and experimental ophthalmology = Albrecht von Graefes Archiv fur klinische und experimentelle Ophthalmologie. 2019;257(4):815-820. doi:10.1007/s00417-019-04281-7. PMID:30826875.
  4. Fujimoto T, Hanaoka N, Konagaya M, Kobayashi M, Nakagawa H, Hatano H, et al. Evaluation of a silver-amplified immunochromatography kit for adenoviral conjunctivitis. Journal of medical virology. 2019;91(6):1030-1035. doi:10.1002/jmv.25404. PMID:30659635.
  5. Than T, Morettin CE, Harthan JS, Hartwick ATE, Huecker JB, Johnson SD, et al. Efficacy of a Single Administration of 5% Povidone-Iodine in the Treatment of Adenoviral Conjunctivitis. American journal of ophthalmology. 2021;231:28-38. doi:10.1016/j.ajo.2021.05.018. PMID:34102153; PMCID:PMC11460794.
  6. Matsuura K, Terasaka Y, Miyazaki D, Shimizu Y, Inoue Y. Comparative study of topical regimen for adenoviral kearoconjunctivitis by 0.1% fluorometholone with and without polyvinyl alcohol iodine. Jpn J Ophthalmol. 2021;65(1):107-114. doi:10.1007/s10384-020-00788-3. PMID:33241466.
  7. Gouider D, Khallouli A, Maalej A, Yousfi MA, Ksiaa I, Bouguerra C, et al. Corticosteroids Versus Cyclosporine for Subepithelial Infiltrates Secondary to Epidemic Keratoconjunctivitis: A Prospective Randomized Double-Blind Study. Cornea. 2021;40(6):726-732. doi:10.1097/ICO.0000000000002589. PMID:33201059.
  8. Arici C, Mergen B. Late-term topical tacrolimus for subepithelial infiltrates resistant to topical steroids and ciclosporin secondary to adenoviral keratoconjunctivitis. The British journal of ophthalmology. 2021;105(5):614-618. doi:10.1136/bjophthalmol-2020-316196. PMID:32563992.
  9. Kim SY, Chang YK, Lee YC, Kim SY. Oral steroid therapy as an adjuvant treatment for severe epidemic keratoconjunctivitis in patients younger than 3 years. Cornea. 2015;34(2):182-187. doi:10.1097/ico.0000000000000332.
  10. Huang J, Kadonosono K, Uchio E. Antiadenoviral effects of ganciclovir in types inducing keratoconjunctivitis by quantitative polymerase chain reaction methods. Clinical ophthalmology (Auckland, N.Z.). 2014;8:315-20. doi:10.2147/OPTH.S55284. PMID:24511226; PMCID:PMC3915018.
  11. Ozen S, Ozer MA. Ganciclovir ophthalmic gel treatment shortens the recovery time and prevents complications in the adenoviral eye infection. International ophthalmology. 2017;37(1):245-249. doi:10.1007/s10792-016-0260-1. PMID:27221265.
  12. Zhou X, Robinson CM, Rajaiya J, Dehghan S, Seto D, Jones MS, et al. Analysis of human adenovirus type 19 associated with epidemic keratoconjunctivitis and its reclassification as adenovirus type 64. Invest Ophthalmol Vis Sci. 2012;53(6):2804-2811. doi:10.1167/iovs.12-9656.
  13. Arici C, Sultan P, Mergen B. Evaluation of the impact of subepithelial corneal infiltrates on corneal biomechanics after epidemic keratoconjunctivitis. Arquivos brasileiros de oftalmologia. 2022;85(5):478-484. doi:10.5935/0004-2749.20220061. PMID:34852057; PMCID:PMC11826794.
  14. Takahashi Y, Vaidya A, Kono S, Yokoyama T, Kakizaki H. Epidemic Keratoconjunctivitis-Associated Acute Dacryoadenitis in an Adult. Cureus. 2022;14(7):e27003. doi:10.7759/cureus.27003. PMID:35989856; PMCID:PMC9386646.
  15. Liu SH, Hawkins BS, Ren M, Ng SM, Leslie L, Han G, et al. Topical Pharmacologic Interventions Versus Active Control, Placebo, or No Treatment for Epidemic Keratoconjunctivitis: Findings From a Cochrane Systematic Review. American journal of ophthalmology. 2022;240:265-275. doi:10.1016/j.ajo.2022.03.018. PMID:35331686; PMCID:PMC9808666.
  16. Aoki K, Gonzalez G, Hinokuma R, Yawata N, Tsutsumi M, Ohno S, et al. Assessment of clinical signs associated with adenoviral epidemic keratoconjunctivitis cases in southern Japan between 2011 and 2014. Diagn Microbiol Infect Dis. 2019;95(4):114885.
  17. Hashimoto S, Gonzalez G, Harada S, Oosako H, Hanaoka N, Hinokuma R, et al. Recombinant type Human mastadenovirus D85 associated with epidemic keratoconjunctivitis since 2015 in Japan. J Med Virol. 2018;90(5):881-889. doi:10.1002/jmv.25041. PMID:29396992.
  18. Kaneko H, Suzutani T, Aoki K, Kitaichi N, Ishida S, Ishiko H, et al. Epidemiological and virological features of epidemic keratoconjunctivitis due to new human adenovirus type 54 in Japan. The British journal of ophthalmology. 2011;95(1):32-6. doi:10.1136/bjo.2009.178772. PMID:20530657.

Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.