Bỏ qua đến nội dung
U bướu và bệnh lý

U hắc tố màng mạch và thể mi

1. U ác tính màng bồ đào và thể mi là gì?

Phần tiêu đề “1. U ác tính màng bồ đào và thể mi là gì?”

U ác tính màng bồ đào (uveal melanoma, UM) là khối u ác tính phát sinh từ các tế bào hắc tố (melanocyte) của màng bồ đào (mống mắt, thể mi, màng mạch). Đây là khối u nội nhãn nguyên phát phổ biến nhất ở người trưởng thành, trong đó u xuất phát từ màng mạch chiếm hơn 90%, từ thể mi khoảng 7%, và từ mống mắt chiếm 2%. Bài viết này đề cập đến u ác tính màng mạch và thể mi.

Tần suất mắc bệnh ở châu Á thấp hơn khoảng 1/20 so với phương Tây, với tỷ lệ 0,025 ca trên 100.000 dân. Ở người da trắng, tỷ lệ mắc là 2–8 ca trên một triệu dân, nam giới có xu hướng mắc nhiều hơn một chút, và độ tuổi khởi phát cao nhất khoảng 60 tuổi. Dưới 1% tổng số u ác tính màng bồ đào xảy ra ở người dưới 18 tuổi. Trên toàn cầu, khoảng 6 triệu người được chẩn đoán u ác tính mắt mỗi năm 6).

Phương thức di căn hoàn toàn qua đường máu (do màng bồ đào không có mạch bạch huyết), và có ái tính mạnh với gan. Di căn gan gặp ở 70–90% trường hợp, ngoài ra còn di căn đến phổi, xương và da 6). Hơn 62% di căn biểu hiện lâm sàng trong vòng 5 năm sau điều trị khối u nguyên phát, nhưng số còn lại có thể được phát hiện sau hơn 25 năm. Vì di căn có thể xuất hiện sau vài năm đến hơn 10 năm sau điều trị, cần theo dõi di căn lâu dài.

Thời gian sống thêm toàn bộ (OS) trung vị sau di căn trong phân tích gộp (2494 bệnh nhân, 78 bài báo) là 10-13 tháng, ước tính khoảng 2% sống trên 5 năm và 13% sống trên 3 năm 13). Tỷ lệ sống 1 năm được báo cáo là 43-52%. Tỷ lệ tử vong sau 12 năm khoảng 40%, gần như tương đương bất kể lựa chọn điều trị tại chỗ 2). Tỷ lệ sống 5 năm đối với khối u trung bình là 70-80% (không khác biệt giữa điều trị bảo tồn nhãn cầu và cắt bỏ nhãn cầu), cho thấy không có sự khác biệt lớn về tiên lượng sống giữa các phương pháp điều trị.

Đối với bệnh nhân nguy cơ trung bình đến cao, nên tiếp tục chụp hình ảnh gan mỗi 6-12 tháng trong 10 năm 14).

Q U hắc tố màng bồ đào hiếm gặp đến mức nào?
A

Ở phương Tây, tỷ lệ mắc bệnh ở người da trắng là 2-8 trên 1 triệu dân, là khối u nội nhãn nguyên phát phổ biến nhất ở người trưởng thành, nhưng số lượng tuyệt đối nhỏ. Tần suất mắc bệnh ở châu Á khoảng 1/20 so với phương Tây, khoảng 0,025 trên 100.000 dân. Bệnh thường gặp ở người da trắng, và ít gặp hơn ở người châu Á.

2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng

Phần tiêu đề “2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”
Ảnh đáy mắt, siêu âm chế độ B và hình ảnh OCT của u hắc tố màng bồ đào
Fouad YA, et al. Bacillary layer detachment with malignant choroidal tumors: a case series. BMC Ophthalmol. 2023. Figure 1. PMCID: PMC10077734. License: CC BY.
Bảng (A) cho thấy tổn thương dạng nổi không sắc tố và lắng đọng sắc tố ở mắt trái, (B) khối u hình vòm với phản xạ bên trong từ thấp đến trung bình, (C) dịch dưới võng mạc, phù nang dạng nang và bong màng nền (BALAD). Tương ứng với u hắc tố màng bồ đào được đề cập trong phần “2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”.

Khoảng 30% bệnh nhân không có triệu chứng tại thời điểm chẩn đoán ban đầu và được phát hiện tình cờ khi khám sức khỏe hoặc xét nghiệm các bệnh khác. Khi có triệu chứng, tỷ lệ bao gồm: giảm thị lực 38%, chớp sáng 9%, ruồi bay 7%, khiếm khuyết thị trường ngoại vi 6%, đau mắt 2%.

Khi khối u nhỏ và nằm ở vùng ngoại vi đáy mắt, thường không có triệu chứng. Khi khối u phát triển, các triệu chứng sau đây xuất hiện.

  • Chớp sáng và ruồi bay: Xuất hiện tương đối sớm.
  • Khiếm khuyết thị trường: Lan rộng từ ngoại vi vào trung tâm khi khối u phát triển.
  • Biến dạng hình ảnh và giảm thị lực: Trở nên rõ rệt khi khối u lan đến hoàng điểm. Thường kèm theo bong võng mạc thanh dịch, làm bộc lộ rõ rệt các rối loạn thị trường và thị lực.
  • Xuất huyết dịch kính: Có thể gây giảm thị lực đột ngột do chảy máu từ khối u.
  • Đau mắt: Rất hiếm, xảy ra ở dưới 2% bệnh nhân u hắc tố màng bồ đào. Nguyên nhân chính là tăng nhãn áp thứ phát do glôcôm hoặc hoại tử khối u4).

Các triệu chứng của u hắc tố thể mi có những đặc điểm sau do vị trí giải phẫu đặc biệt của nó5).

  • Giảm thị lực không đau (mờ mắt): triệu chứng thường gặp nhất.
  • Loạn thị do lệch thể thủy tinh: sự di chuyển ra phía trước của thể thủy tinhmống mắt do khối u.
  • Khiếm khuyết thị trường không đau khi khối u xâm lấn trục thị giác.
  • Giảm thị lực đau đớn do tăng nhãn áp cấp: do glôcôm góc đóng thứ phát.

Tăng nhãn áp thứ phát được ghi nhận ở tối đa 17% bệnh nhân tại thời điểm chẩn đoán u hắc tố thể mi3).

U hắc tố màng mạch

Hình dạng điển hình: xuất hiện một bên dưới dạng khối u màng mạch màu nâu xám hình vòm nhô cao, bờ không đều.

Sắc tố: 55% có nhiều sắc tố, 30% hỗn hợp, 15% không sắc tố, màu sắc đa dạng.

Hình dạng nấm: Khoảng 20% xuyên thủng màng Bruch và có hình dạng nấm (nút màu). Phát triển nhanh sau khi xuyên thủng màng Bruch.

Dịch dưới võng mạc: Thường kèm theo bong võng mạc thanh dịch với tần suất cao.

U hắc tố thể mi

Kích thước khi phát hiện: Do vị trí giải phẫu khuất, thường có kích thước tương đối lớn khi được phát hiện.

Mạch máu canh gác (sentinel vessel): Thường kèm theo các mạch thượng củng mạc giãn và ngoằn ngoèo ngay phía trên khối u.

Thay đổi tiền phòng: Dễ gây di chuyển ra trước của màng ngăn thủy tinh thể-mống mắt, và glôcôm góc đóng thứ phát.

Lan rộng ra ngoài nhãn cầu: Có nguy cơ lan rộng ra ngoài nhãn cầu qua các ống dẫn (emissary canal).

Tiêu chuẩn phân biệt nốt ruồi nguy cơ cao (TFSOM-UHHD)

Phần tiêu đề “Tiêu chuẩn phân biệt nốt ruồi nguy cơ cao (TFSOM-UHHD)”

Để phân biệt giữa nốt ruồi hắc mạc và u hắc tố, đánh giá 8 yếu tố sau:

  • Thickness (Độ dày): > 2 mm
  • Fluid (Dịch): Có dịch dưới võng mạc
  • Symptoms (Triệu chứng): Chớp sáng, ruồi bay
  • Orange pigment (Sắc tố cam): Sắc tố lipofuscin màu cam
  • Margin (Rìa): Trong vòng 3 mm từ gai thị
  • Ultrasound Hollow (Siêu âm rỗng): Phản âm nội thấp trên siêu âm
  • Halo absent: Không có quầng sáng
  • Drusen absent: Không có drusen

Nếu không có yếu tố nguy cơ nào, xác suất phát triển trong vòng 5 năm chỉ là 3%, nhưng nếu có 1 yếu tố thì tăng lên 38%, và nếu có 2 yếu tố trở lên thì vượt quá 50%.

Phân loại kích thước theo quy trình COMS được trình bày dưới đây. Phân loại này được sử dụng để lựa chọn phương pháp điều trị.

Phân loạiChiều cao đỉnhĐường kính đáy lớn nhất
Nhỏ1,0–2,5 mm5,0–16,0 mm
Trung bình2,5–10 mm<16 mm
Lớn>10 mm>16 mm

Dưới đây là các điểm phân biệt chính của các khối u phát sinh ở màng mạch.

U hắc tố ác tínhU máuU di căn
Màu sắcĐen, xám, nâuĐỏ camVàng trắng
Hình dạngCaoHình thoiDạng mảng
Bong võng mạcKhông đến trung bìnhKhông đến nhẹRõ rệt
Tăng trưởngTương đối chậmKhôngNhanh
Q Làm thế nào để phân biệt “nốt ruồi” (nevi) hắc mạc với u hắc tố hắc mạc?
A

Đánh giá dựa trên 8 yếu tố nguy cơ của TFSOM-UHHD. Với 0 yếu tố, xác suất phát triển trong vòng 5 năm chỉ là 3%, nhưng với 2 yếu tố trở lên, xác suất tăng lên trên 50%. Cần theo dõi định kỳ bằng siêu âm và chụp ảnh đáy mắt.

Phần lớn các trường hợp mắc bệnh là lẻ tẻ (sporadic). Nguyên nhân chưa rõ, nhưng được cho là có liên quan đến bất thường của gen ức chế khối u và gen ung thư, cũng như tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Các yếu tố nguy cơ chính được trình bày dưới đây.

  • Màu mống mắt nhạt, da trắng, cơ địa dễ bị cháy nắng: Thường gặp ở người da trắng, người Bắc Âu.
  • Nốt ruồi màng bồ đào: Yếu tố nguy cơ phổ biến nhất. Khoảng 10% phát sinh từ nốt ruồi đã biết. Khoảng 6% người da trắng có nốt ruồi hắc mạc, tần suất ác tính được cho là 1/5000 đến 1/8845.
  • Bệnh nhiễm sắc tố tế bào hắc tố bẩm sinh ở mắt, u tế bào hắc tố, u sợi thần kinh: Yếu tố nguy cơ hiếm gặp.
  • Tiền sử gia đình mắc u hắc tố màng bồ đào: Hiếm gặp nhưng đã được báo cáo.
  • Tia cực tím: Vai trò được cho là không chắc chắn.

Mối tương quan giữa đột biến gen và nguy cơ di căn được trình bày dưới đây.

Gen đột biếnTần suất đột biếnNguy cơ di căn / Đặc điểm
GNAQ/GNA1183–89%Đột biến khởi đầu loại trừ lẫn nhau. Không liên quan trực tiếp đến nguy cơ di căn
BAP145%Nguy cơ di căn cao nhất (đỉnh lớn 3,5 năm), lớp 2
SF3B123%Nguy cơ trung bình. Đặc trưng bởi di căn muộn (đỉnh lớn 7 năm)
EIF1AX17%Nguy cơ di căn thấp nhất

Đột biến GNAQ/GNA11 được cho là sự kiện sớm trong quá trình hình thành khối u, và bản thân các đột biến này không liên quan đáng kể đến kích thước khối u hay nguy cơ di căn. Có sự không đồng nhất trong khối u, và các vùng có hình thái khác nhau có thể có hồ sơ gen khác nhau (ví dụ, mất nhiễm sắc thể 3 thường gặp ở tất cả các vùng, trong khi mất 6q chỉ giới hạn ở vùng sắc tố) 2).

Đột biến BAP1 liên quan đến nguy cơ di căn cao nhất 1), trong khi đột biến EIF1AX liên quan đến nguy cơ thấp nhất 1).

Về mặt mô học, u được phân loại thành loại tế bào hình thoi và loại tế bào biểu mô. Các trường hợp có tỷ lệ tế bào biểu mô cao hơn được cho là có tiên lượng sống kém hơn. Cũng có thể gặp loại hỗn hợp.

Q Đột biến gen của u hắc tố màng bồ đào ảnh hưởng đến tiên lượng như thế nào?
A

Đột biến BAP1 có nguy cơ di căn cao nhất (đỉnh chính 3,5 năm), đột biến SF3B1 đặc trưng bởi di căn muộn (đỉnh chính 7 năm), và đột biến EIF1AX cho thấy nguy cơ thấp nhất. Ngoài ra, nếu phát hiện mất đoạn nhiễm sắc thể số 3 (monosomy 3) thì tỷ lệ di căn cao và tiên lượng xấu. Thông tin về các đột biến này thu được qua sinh thiết kim nhỏ và được sử dụng để cá nhân hóa kế hoạch giám sát di căn.

Chụp ảnh đáy mắt và tự huỳnh quang đáy mắt

Phần tiêu đề “Chụp ảnh đáy mắt và tự huỳnh quang đáy mắt”

Chụp ảnh đáy mắt liên tiếp rất quan trọng để ghi lại sự phát triển của khối u, và việc sử dụng chụp ảnh đáy mắt góc rộng (như Optos) cũng hữu ích. Tự huỳnh quang đáy mắt sử dụng đặc tính tự huỳnh quang của lipofuscin để xác định huỳnh quang màu cam sáng hơn drusen (sắc tố cam).

Siêu âm là trung tâm của chẩn đoán u hắc tố màng bồ đào. U hắc tố ác tính cho thấy sự suy giảm đặc trưng.

  • A-scan: Phản xạ bên trong trung bình đến thấp (88%), kiểu giảm dần (góc kappa dương), xác nhận dòng máu trong khối u.
  • Siêu âm B-scan: Khối u nhô cao hình vòm (phổ biến nhất) hoặc hình nấm, vùng trống âm trong khối u, lõm hắc mạc, dịch dưới võng mạc.
  • Siêu âm A-scan của u hắc tố thể mi: Đặc trưng bởi đỉnh cao (tall spike) và phản xạ bên trong từ thấp đến trung bình 5).
  • Kính hiển vi siêu âm sinh học: Hữu ích để mô tả chi tiết hơn u hắc tố thể mi.
  • Siêu âm Doppler màu: Phát hiện dòng chảy mạch đập ở nền khối u (không có ở nốt ruồi hắc mạc).
  • FA: Giai đoạn đầu đến giữa thuốc cản quang: thấy mạch máu trong khối u và nhiều điểm, mảng tăng huỳnh quang; giai đoạn muộn: tăng huỳnh quang lan tỏa và thoát thuốc. Có sự pha trộn giữa giảm huỳnh quang do chặn bởi sắc tố và tăng huỳnh quang do lắng đọng lipofuscin ở lớp biểu mô sắc tố võng mạc (RPE).
  • ICGA: Mạch máu trong khối u được hiển thị rõ nét hơn (dạng tuần hoàn kép). Ưu thế trong việc đánh giá mạch máu trong khối u.

SD-OCT giúp hình dung những thay đổi của võng mạc thần kinh cảm giác và biểu mô sắc tố võng mạc (RPE). Các dấu hiệu đặc trưng trên EDI-OCT (từ nghiên cứu trên 37 mắt) như sau:

  • Bóng mờ mạch mạc quang học (100%)
  • Chèn ép và mỏng mao mạch mạch mạc (100%)
  • Dịch dưới võng mạc (92%)
  • Lắng đọng lipofuscin dưới võng mạc (95%)
  • Tế bào cảm quang tua tủa (49%): Hữu ích trong phân biệt u hắc tố nhỏ với nốt ruồi
  • Mất vùng ellipsoid, chất tăng âm dưới võng mạc (SRHM), bong lớp tế bào que và nón (BALAD)

Trên hình ảnh T1-weighted, khối u có tín hiệu cao; trên T2-weighted, có tín hiệu thấp. Phương pháp này cũng được sử dụng để theo dõi kích thước khối u sau khi chiếu xạ bằng I-125 plaque 7).

Trong xét nghiệm SPECT sử dụng chất đánh dấu 123I-IMP (iode amphetamine), 24 giờ sau khi tiêm tĩnh mạch, hình ảnh tích tụ bất thường tương ứng với mắt bị bệnh được ghi nhận, đây là phương pháp có độ nhạy và độ đặc hiệu cao. FDG-PET cũng có thể được sử dụng để chẩn đoán.

  • Siêu âm gan: Được sử dụng để sàng lọc và giám sát. Di căn thường có dạng hồi âm kém (67%). Độ nhạy cao 95–100%, không có bức xạ, phù hợp cho giám sát định kỳ 13).
  • MRI gan: Khả năng phát hiện di căn gan tốt hơn CT. Độ nhạy 83–100%, không có bức xạ 13). Được khuyến nghị là phương pháp chẩn đoán hình ảnh không ion hóa 14).
  • CT: Cần thiết cho phân giai đoạn di căn phổi và ngoài gan. Có bức xạ nhưng bắt buộc cho đánh giá phân giai đoạn ban đầu 14).
  • PET-CT: Các ổ di căn melanoma có tính tích tụ FDG. Độ nhạy 94,2%, độ đặc hiệu 83,3% (CT: 55,3% và 84,4%) 6).
  • Xét nghiệm dấu ấn sinh học dựa trên máu, ngoài xét nghiệm chức năng gan, thường không được chấp nhận rộng rãi13).

Đối với bệnh nhân nguy cơ trung bình đến cao, nên theo dõi di căn mỗi 6–12 tháng trong 10 năm14).

Xét nghiệm phân tử và phân tầng tiên lượng

Phần tiêu đề “Xét nghiệm phân tử và phân tầng tiên lượng”

Xét nghiệm phân tử từ mô khối u hoặc tế bào thu được qua sinh thiết kim rất quan trọng để phân tầng nguy cơ di căn.

  • Monosomy 3 (mất nhiễm sắc thể 3): Nếu phát hiện, nguy cơ di căn cao và tiên lượng xấu. Tỷ lệ sống 5 năm giảm từ khoảng 100% xuống còn khoảng 50%14).
  • Tăng nhiễm sắc thể 8q và mất 1p: Liên quan đến giảm tỷ lệ sống14).
  • Tăng nhiễm sắc thể 6p: Yếu tố tiên lượng tốt (có thể có tác dụng bảo vệ)14).
  • Hóa mô miễn dịch biểu hiện nhân BAP1: Quan trọng trong phân tầng tiên lượng. Mất biểu hiện nhân BAP1 gợi ý đột biến BAP1 và liên quan đến nguy cơ di căn cao14).
  • LUMPO (Liverpool Uveal Melanoma Prognosticator Online): Công cụ dự đoán tiên lượng đã được xác thực bên ngoài14).

Được thực hiện trong các trường hợp chẩn đoán lâm sàng không chắc chắn. Thường được thực hiện đồng thời khi đặt liệu pháp áp sát mảng phóng xạ. Có tranh luận do nguy cơ gieo rắc khối u, nhưng ngày càng được thực hiện để phân tầng tiên lượng thông qua thu thập hồ sơ gen. Cần lấy mẫu từ nhiều vị trí có hình thái khác nhau để xem xét tính không đồng nhất trong khối u2).

Dương tính với S-100, HMB-45, MART-1 (MelanA) và vimentin. Để xác nhận, nên sử dụng ít nhất hai loại kháng thể tế bào hắc tố kết hợp với cytokeratin (dấu ấn biểu mô). Đánh giá bán định lượng chỉ số tăng sinh bằng Ki-67 cũng được thực hiện. U hắc tố thể mi đã được xác nhận dương tính mạnh với HMB-455). Nhuộm nhân BAP1 đóng vai trò hỗ trợ quan trọng trong phân loại tiên lượng2).

  • Phân biệt với u hắc tố màng mạch: Nốt ruồi màng mạch, phì đại bẩm sinh của biểu mô sắc tố võng mạc, xuất huyết màng mạch.
  • Phân biệt với u hắc tố thể mi: U tế bào hắc tố (melanocytoma), u tuyến từ biểu mô sắc tố. Theo dõi định kỳ bằng kính hiển vi sinh học siêu âm là quan trọng.

Mục tiêu điều trị bao gồm: ① duy trì thị lực hữu ích của mắt bị bệnh, ② phá hủy khối u, ③ ngăn ngừa di căn và tái phát.

Trong thời gian chưa phân biệt rõ với u hắc tố màng bồ đào lành tính, cần theo dõi chặt chẽ bằng chụp ảnh đáy mắtsiêu âm B-mode. U hắc tố màng bồ đào lành tính (dày dưới 2mm, không triệu chứng) được kiểm tra lại sau 3 tháng kể từ lần khám đầu, sau đó theo dõi mỗi 6 tháng. Đối với tổn thương dày dưới 3mm, thực hiện chụp ảnh đáy mắt, FA và siêu âm A/B-mode ban đầu, kiểm tra lại sau 3-4 tháng, sau đó chụp ảnh đáy mắt mỗi 6-12 tháng suốt đời. Các khối u nhỏ có từ 3 yếu tố nguy cơ trở lên cần được điều trị ngay mà không chờ ghi nhận sự phát triển.

Xạ trị áp sát

Xạ trị áp sát bằng Ruthenium-106: Khâu một mảng chứa Ruthenium-106 (nguồn bức xạ beta) lên củng mạc tại vị trí khối u. Do bức xạ beta có khoảng chiếu xạ mô ngắn, phương pháp này phù hợp với các khối u nhỏ đến trung bình. Các cơ sở có thể thực hiện còn hạn chế.

Mảng I-125: Khâu mảng COMS chứa Iodine-125 lên củng mạc tại vị trí khối u. Liều xạ trị theo toa tại đỉnh khối u là 90 Gy. Phương pháp này chủ yếu được sử dụng ở Bắc Mỹ.

Chỉ định: Lựa chọn đầu tay cho khối u nhỏ đến trung bình.

Tác dụng phụ: Bệnh hoàng điểm do xạ trị, bệnh võng mạc do xạ trị, đục thủy tinh thể, glôcôm tân mạch, bệnh thần kinh thị giác, hoại tử củng mạc. Hầu hết xảy ra trong vòng 5 năm sau điều trị.

Tái phát: 80% tái phát tại chỗ xảy ra trong vòng 3 năm. 98% có thể phát hiện qua ảnh màu đáy mắt.

Tiên lượng thị lực: Theo dữ liệu 3 năm của COMS, 43–49% bệnh nhân có thị lực từ 20/200 (tương đương 0,1) trở xuống. Nguyên nhân chính là bệnh võng mạc do xạ trị 10).

Xạ trị proton

Đặc điểm: Liệu pháp hạt tập trung liều vào khối u nhờ hiệu ứng đỉnh Bragg. Phương pháp bảo tồn nhãn cầu.

Chỉ định: Lựa chọn bảo tồn nhãn cầu cho khối u nhỏ đến trung bình.

Hiệu quả điều trị: Đã có báo cáo về các trường hợp khối u thoái triển hoàn toàn sau 6 tháng điều trị bằng xạ trị proton.

Lợi ích: Liều bức xạ đến các mô lành xung quanh thấp.

Chỉ định xạ trị ngoài như xạ trị ion nặng và CyberKnife đang được mở rộng. Có thể bảo tồn nhãn cầu, nhưng thị lực thường bị mất do các biến chứng như bệnh thần kinh thị giácglôcôm tân mạch. Các cơ sở có thể thực hiện còn hạn chế, nhưng đây được coi là một lựa chọn.

Điều trị laser (quang đông nhiệt qua đồng tử)

Phần tiêu đề “Điều trị laser (quang đông nhiệt qua đồng tử)”

Đối với u hắc tố màng mạch nhỏ (độ dày ≤3 mm), chỉ định quang đông nhiệt qua đồng tử (transpupillary thermotherapy, TTT). Các thông số chính được trình bày dưới đây9).

Thông sốGiá trị cài đặt
Bước sóng810 nm (cận hồng ngoại)
Công suất400–1.000 mW
Đường kính điểm chiếu3.000 μm
Thời gian chiếu1–3 phút mỗi điểm
Độ sâu thâm nhập3–4 mm

Phương pháp “sandwich” kết hợp liệu pháp nhiệt qua đồng tử và xạ trị áp sát (mảng) cho thấy tỷ lệ tái phát 5 năm là 3% với I-125 và 10% với Ru-1069).

Khi khối u tương đối nhỏ, đặc biệt khu trú ở phía trước, đôi khi có thể thực hiện phẫu thuật cắt bỏ tại chỗ, chỉ loại bỏ một phần củng mạc và khối u.

Chỉ định cho các khối u lớn (phân loại COMS lớn: chiều cao đỉnh >10 mm, đường kính đáy lớn nhất >16 mm) khi khó bảo tồn nhãn cầu. Ngày nay vẫn được coi là một lựa chọn. Đối với tái phát hốc mắt sau cắt bỏ nhãn cầu, cần hội chẩn đa chuyên khoa để xem xét phẫu thuật và xạ trị. Xạ trị được khuyến nghị với liều 2 Gy/lần, tổng 45-50 Gy/20 lần.

Điều trị toàn thân cho u hắc tố màng bồ đào di căn có rất ít lựa chọn so với u hắc tố da.

  • Tebentafusp: Protein dung hợp đặc hiệu kép thụ thể tế bào T dành cho bệnh nhân HLA-A*02:01 dương tính. Thử nghiệm pha III cho thấy cải thiện OS có ý nghĩa (kéo dài trung vị 6 tháng so với nhóm đối chứng do bác sĩ lựa chọn), là thuốc hiệu quả đầu tiên cho u hắc tố màng bồ đào di căn14). Phác đồ tiêm tĩnh mạch 1 lần/tuần (tăng dần 20→30→68 mg)7).
  • Thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch: Tỷ lệ đáp ứng đơn trị khoảng 5%, kết hợp nivolumab + ipilimumab đạt 12–18%. Hiệu quả hạn chế hơn so với u hắc tố da14).
  • Thuốc ức chế MEK: Hoạt tính thấp cả khi dùng đơn trị và phối hợp14).
  • Liệu pháp tại chỗ vùng gan: Cắt gan (khi có thể R0), tưới máu hóa chất qua gan qua da (PHP), xạ trị trong chọn lọc (SIRT), nút mạch hóa chất động mạch gan (TACE) là các lựa chọn. PHP và SIRT cho thấy thời gian sống thêm toàn bộ dài nhất14).
  • Thời gian sống thêm toàn bộ trung bình sau di căn: phân tích gộp cho thấy 10–13 tháng, 13% sống trên 3 năm13).

Theo dõi mắt bị ảnh hưởng sau điều trị: mỗi 6 tháng trong 2–5 năm, sau đó mỗi năm một lần. Các trường hợp thoái triển hoàn toàn khối u có thể chuyển sang bác sĩ đo thị lực địa phương; các trường hợp cắt bỏ nhãn cầu + cắt bỏ R0 có thể chuyển sang chuyên viên làm mắt giả sau khi lành vết thương.

Đối với giám sát di căn, khuyến cáo chụp MRI gan hoặc siêu âm mỗi 6 tháng cho bệnh nhân nguy cơ cao, và chụp hình ảnh gan mỗi 12 tháng cho bệnh nhân nguy cơ thấp14). Hình ảnh không ion hóa (MRI, siêu âm) được khuyến cáo để tránh phơi nhiễm bức xạ. Ở bệnh nhân nguy cơ di căn cao có phát hiện monosomy 3, cần tăng cường theo dõi di căn.

Q Có phương pháp điều trị nào bảo tồn được nhãn cầu không?
A

Đối với khối u nhỏ đến trung bình, có các lựa chọn như xạ trị áp sát (ví dụ: liệu pháp gắn 106Ru vào củng mạc), xạ trị proton, xạ trị ion nặng và CyberKnife, thường có thể bảo tồn nhãn cầu. Đối với khối u lớn, có thể cần phải cắt bỏ nhãn cầu, nhưng việc lựa chọn phương pháp điều trị không ảnh hưởng đến tỷ lệ di căn và tỷ lệ sống toàn bộ; cần ưu tiên tiên lượng sống và xem xét khả năng bảo tồn chức năng thị giác.

Q Các lựa chọn điều trị khi phát hiện di căn là gì?
A

Nếu HLA-A*02:01 dương tính, tebentafusp là lựa chọn đầu tiên. Đây là thuốc đầu tiên cho thấy cải thiện có ý nghĩa về OS trong thử nghiệm pha III. Đối với di căn khu trú ở gan, nếu có thể cắt bỏ R0 thì xem xét cắt gan. Các liệu pháp tại gan (PHP, SIRT, TACE, v.v.) cũng là lựa chọn. Hiệu quả của thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch còn hạn chế so với u hắc tố da (tỷ lệ đáp ứng đơn trị khoảng 5%), và cần tổ chức hội chẩn đa chuyên khoa tại cơ sở chuyên khoa trước khi bắt đầu điều trị.

6. Sinh lý bệnh học và cơ chế bệnh sinh chi tiết

Phần tiêu đề “6. Sinh lý bệnh học và cơ chế bệnh sinh chi tiết”

Cơ chế bệnh sinh của u hắc tố màng bồ đào khác với u hắc tố da, theo một con đường phân tử riêng biệt.

Đột biến Q209 của GNAQ/GNA11 là phổ biến nhất, và các đột biến R183 và G48L cũng đã được xác định1). Các đột biến này làm suy yếu hoạt tính GTPase, dẫn đến trạng thái hoạt hóa liên tục gắn GTP1). Đột biến GNAQ/GNA11 kích hoạt dai dẳng nhiều con đường tín hiệu, bao gồm con đường MAPK (Ras/RAF/MEK/ERK)1). Đột biến GNAQ/GNA11 là sự kiện sớm trong quá trình hình thành khối u và không liên quan đáng kể đến kích thước khối u hay nguy cơ di căn.

Các đột biến driver thứ cấp (BAP1, SF3B1, EIF1AX) xảy ra gần như hoàn toàn loại trừ lẫn nhau và có ý nghĩa quan trọng trong phân tầng nguy cơ di căn. Đột biến BAP1 được xếp vào lớp 2 (nguy cơ di căn cao), trong khi thời gian sống thêm toàn bộ trung vị sau di căn của người mang đột biến SF3B1 là 3,9 năm (KTC 95%: 2,3–6,2) và tỷ lệ sống thêm toàn bộ 12 tháng là 94%, cho thấy tiến triển tương đối thuận lợi. Trong các ổ di căn, GNAQ (57%) và GNA11 (36%) cũng được phát hiện một cách loại trừ lẫn nhau.

Các đột biến khởi đầu hiếm gặp như CYSLTR2 và PLCB4 được phát hiện ở hầu hết các u hắc tố màng bồ đào còn lại.

Do màng bồ đào không có mạch bạch huyết, tất cả các di căn đều xảy ra qua đường máu6). Giai đoạn đầu, tổn thương nhỏ và phẳng, nhưng khi chiều cao tăng lên, nó xuyên thủng màng Bruch và phát triển nhanh chóng. Có thể gây bong võng mạc thanh dịch xung quanh.

Tế bào khối u tuần hoàn được phát hiện ở 10–88% bệnh nhân. Tính hướng đích đáng chú ý đến gan được giải thích bằng thuyết hạt giống và đất. Di căn vi mô có thể xảy ra sớm từ giai đoạn không triệu chứng của khối u nguyên phát. Thể đơn nhiễm sắc thể 3 ở ổ di căn gặp ở 70–100%, đột biến BAP1 gặp ở 60–80%. Các trường hợp di căn đến vị trí hiếm như tuyến giáp cũng đã được báo cáo11).

Hai kiểu phát triển của di căn gan được biết đến: kiểu thâm nhiễm xoang (sinusoidal infiltrative) và kiểu nốt quanh tĩnh mạch cửa (periportal nodular). Ở kiểu thâm nhiễm, sự hình thành khoang giả xoang do sản xuất collagen là cơ chế chính; ở kiểu nốt, sự tạo mạch do VEGF cảm ứng là cơ chế chính13).

Nồng độ VEGF trong khối u cao hơn đáng kể so với mắt khỏe mạnh và tương quan thuận với đường kính đáy và chiều cao khối u3). Dùng toàn thân thuốc kháng VEGF (bevacizumab) cho thấy hiệu quả ức chế di căn trên mô hình chuột, nhưng tiêm nội nhãn lại được báo cáo làm tăng tốc độ phát triển khối u, một kết quả mâu thuẫn3).

Một trường hợp u hắc tố thể mi tăng nhanh sau tiêm bevacizumab nội nhãn (đường kính đáy từ 2,51 lên 18,0 mm, chiều cao từ 6,23 lên 11,0 mm trong 7 tuần) đã được báo cáo3). Thời gian nhân đôi trung bình của u hắc tố màng bồ đào thông thường là 154–511 ngày, vì vậy sự tăng nhanh này là bất thường.

Tính không đồng nhất trong khối u và vi môi trường miễn dịch

Phần tiêu đề “Tính không đồng nhất trong khối u và vi môi trường miễn dịch”

Tính không đồng nhất trong khối u tồn tại ở cả hai khía cạnh hình thái và di truyền, ảnh hưởng đến độ chính xác tiên lượng của sinh thiết2). Đây cũng là lý do khuyến cáo lấy mẫu từ nhiều vị trí2).

Dấu hiệu gen liên quan đến autophagy 9 (9-ARG: IKBKE, BNIP1, ITGA6, FKBP1A, DLC1, PRKCD, GABARAPL1, LMCD1, TUSC1) đã được chứng minh hữu ích trong tiên lượng u hắc tố màng bồ đào (được xác thực trên 80 mẫu TCGA + 150 mẫu GEO)8). Ở nhóm nguy cơ cao, con đường IL6-JAK-STAT3, tân sinh mạch và con đường gốc oxy hoạt tính được tập trung, và sự xâm nhập tế bào miễn dịch (tế bào T CD8, tế bào T CD4 nhớ hoạt hóa) tăng lên, nhưng lại có kiểu hình ức chế miễn dịch và liên quan đến tiên lượng xấu – một phát hiện nghịch lý đã được báo cáo8). Điều này được cho là có liên quan đến việc mắt là cơ quan có đặc quyền miễn dịch.


7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai (báo cáo giai đoạn nghiên cứu)

Phần tiêu đề “7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai (báo cáo giai đoạn nghiên cứu)”

Tebentafusp là một protein dung hợp đặc hiệu kép thụ thể tế bào T được thiết kế cho bệnh nhân dương tính với HLA-A02:017). Nó nhận diện kháng nguyên liên quan đến khối u gp100 trên phức hợp HLA-A02:01 và kích hoạt tế bào T, từ đó phát huy tác dụng chống khối u.

Trong thử nghiệm giai đoạn III, ở bệnh nhân u hắc tố màng bồ đào di căn dương tính với HLA-A*02:01, đã cho thấy sự cải thiện đáng kể về thời gian sống thêm toàn bộ (kéo dài trung bình 6 tháng so với nhóm đối chứng do bác sĩ lựa chọn)14).

Trong báo cáo ca bệnh của Krohn và cộng sự (2025), một bệnh nhân u hắc tố màng bồ đào di căn được điều trị bằng tebentafusp (tiêm tĩnh mạch mỗi tuần một lần: tăng dần liều 20→30→68 mg) dựa trên thử nghiệm pha III, đã ghi nhận diễn biến tốt với di căn gan ổn định và không có tổn thương mới sau 26 tháng điều trị7). Ở bệnh nhân này, độ dày hắc mạc trung tâm mắt phải giảm 49% từ 241 μm xuống 123 μm, và quan sát thấy mất sắc tố đáy mắt, bạc lông mày lông mi, và các mảng mất sắc tố da.

gp100 cũng được biểu hiện trên các tế bào hắc tố hắc mạc bình thường, và được cho là có liên quan đến cơ chế làm mỏng hắc mạc7). Các tác dụng phụ ở mắt có thể không hồi phục, do đó cần theo dõi nhãn khoa định kỳ trong quá trình điều trị.

Tình trạng hiện tại của liệu pháp bổ trợ

Phần tiêu đề “Tình trạng hiện tại của liệu pháp bổ trợ”

Hiện tại, bằng chứng về liệu pháp toàn thân bổ trợ còn chưa đầy đủ và không khuyến cáo sử dụng ngoài khuôn khổ các thử nghiệm lâm sàng14). Các gia đình có đột biến dòng mầm BAP1 (hội chứng yếu tố BAP1) có liên quan đến tăng nguy cơ mắc nhiều loại ung thư (ung thư biểu mô tế bào thận, u trung biểu mô, u hắc tố da, v.v.) và là đối tượng cần tư vấn di truyền14).

Hình ảnh lâm sàng hiếm gặp của thể hoại tử u

Phần tiêu đề “Hình ảnh lâm sàng hiếm gặp của thể hoại tử u”

Wagle và cộng sự (2022) đã báo cáo một trường hợp u hắc tố màng bồ đào bị hoại tử sau khi tiêm vắc-xin COVID-1912). U hắc tố màng bồ đào thể hoại tử chiếm 3–6% tổng số và có thể gây khó khăn trong chẩn đoán bệnh lý.

Sự kết hợp giữa thuốc ức chế Gαq (YM-254890) và thuốc ức chế MEK (trametinib/binimetinib) cho thấy hiệu quả chống khối u hiệp đồng trong in vitro và in vivo1). Khi chỉ ức chế Gαq, tín hiệu MAPK phục hồi sau 24 giờ, nhưng khi kết hợp với thuốc ức chế MEK, sự phục hồi tín hiệu MAPK bị ức chế1).

  • Selumetinib: Thử nghiệm pha II cho thấy cải thiện PFS (so với dacarbazine/temozolomide), nhưng thử nghiệm pha III (SUMIT) của selumetinib + dacarbazine không ghi nhận cải thiện PFS1). Thuốc ức chế MEK, dùng đơn trị hay kết hợp, đều có tỷ lệ hoạt động thấp14).
  • Cơ chế kháng thuốc: Tăng tín hiệu RTK của IGF1R và ROR1/2, tăng cường tín hiệu AKT, và tăng biểu hiện GPCR (thụ thể endothelin B) đã được xác định; có khả năng khắc phục bằng thuốc ức chế pan-HDAC1).
  • Thuốc ức chế PKC, decitabine (thuốc ức chế DNA methyltransferase) và chloroquine (thuốc ức chế autophagy) cũng đang được nghiên cứu như các ứng cử viên kết hợp với thuốc ức chế MEK1).

Thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch

Phần tiêu đề “Thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch”

Trong u hắc tố màng bồ đào, hiệu quả của thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch còn hạn chế so với u hắc tố da. Tỷ lệ đáp ứng đơn trị khoảng 5%, và kết hợp nivolumab + ipilimumab đạt 12–18% theo báo cáo14).

Trong trường hợp di căn tim của Madani và cộng sự (2022), bệnh nhân được điều trị bằng nivolumab 1 mg/kg + ipilimumab 3 mg/kg (mỗi 3 tuần × 4 chu kỳ) sau đó duy trì nivolumab, nhưng bệnh tiến triển 6). Sau đó, phác đồ được chuyển sang nab-paclitaxel và temozolomide, nhưng cuối cùng kết cục xấu.

Các phương pháp tiếp cận tại chỗ cho tổn thương di căn bao gồm cắt gan, đốt sóng cao tần, thuyên tắc động mạch gan, tưới máu gan qua da bằng melphalan (PHP), xạ trị áp sát vi cầu yttrium-90 (SIRT) và liệu pháp nhiệt cảm ứng laser dưới hướng dẫn MR đang được nghiên cứu. PHP và SIRT cho thấy thời gian sống thêm toàn bộ dài nhất 14).

Vi môi trường miễn dịch và dấu ấn sinh học tiên lượng

Phần tiêu đề “Vi môi trường miễn dịch và dấu ấn sinh học tiên lượng”

Dấu hiệu tiên lượng 9-ARG có thể gợi ý cho việc cá nhân hóa liệu pháp miễn dịch 8). Phát hiện đột biến soma gây bệnh MBD4 được cho là có thể dự đoán đáp ứng với thuốc ức chế điểm kiểm soát.

Q Tebentafusp là loại thuốc gì?
A

Đây là protein dung hợp đặc hiệu kép thụ thể tế bào T dành cho bệnh nhân u hắc tố màng bồ đào di căn có HLA-A*02:01 dương tính. Nó nhắm vào kháng nguyên liên quan đến khối u gp100 và là thuốc đầu tiên trong thử nghiệm pha III cải thiện đáng kể thời gian sống thêm toàn bộ ở u hắc tố màng bồ đào di căn. Trong quá trình dùng thuốc, cần chú ý đến các tác dụng phụ ở mắt như mỏng màng mạch và mất sắc tố đáy mắt.


  1. Sriramareddy SN, Smalley KSM. MEK-ing the most of it: strategies to co-target Gαq and MAPK in uveal melanoma. Clin Cancer Res. 2021;27(5):1217-1219. doi:10.1158/1078-0432.CCR-20-4530. PMID:33355300; PMCID:PMC7925419.
  2. Cristina Fonseca, Rita Pinto-Proença, Sabrina Bergeron, Luís Miguel Pires, Júlia Fernandes, Isabel Marques Carreira, et al. Intratumoral Heterogeneity in Uveal Melanoma. Ocul Oncol Pathol. 2020;7(1):17-25. doi:10.1159/000508517.
  3. Ma J, Roelofs KA, Russell L, Weis E, Chen SH. Rapid growth of primary uveal melanoma following intravitreal bevacizumab injection: a case report and review of the literature. Digital journal of ophthalmology : DJO. 2021;26(3):27-30. doi:10.5693/djo.02.2020.06.001. PMID:33867879; PMCID:PMC8031910.
  4. Jain S, Phoong KY.. Unusual presentation of a choroidal melanoma. BMJ Case Rep. 2021;14(5):e240983. doi:10.1136/bcr-2020-240983. PMID:34045197; PMCID:PMC8162134.
  5. Tigari B, Saini M, Manchanda S, Vankdoth S. Large ciliary body melanoma. BMJ case reports. 2021;14(11). doi:10.1136/bcr-2021-246386. PMID:34764100; PMCID:PMC8587378.
  6. Madani A, Omar NE, Mustafa G, Petkar M, Mohamed S, Al Kuwari M, Karim SA, Mohsen R.. Cardiac Metastases from Choroidal Melanoma. Clin Case Rep. 2022;10(7):e6080. doi:10.1002/ccr3.6080. PMID:35865765; PMCID:PMC9290777.
  7. Krohn J, Vinnem LIH, Jansson RW, Straume O. Fundus hypopigmentation and choroidal thinning associated with tebentafusp therapy: report of a case and literature review. BMC ophthalmology. 2025;25(1):464. doi:10.1186/s12886-025-04274-7. PMID:40817046; PMCID:PMC12357441.
  8. Chuah S, Chew V. Immune implication of an autophagy-related prognostic signature in uveal melanoma. Bioscience reports. 2021;41(8). doi:10.1042/BSR20211098. PMID:34374416; PMCID:PMC8380919.
  9. Finger PT. Laser treatment for choroidal melanoma. Surv Ophthalmol. 2023;68(2):211-224.
  10. Binkley EM, Lozano LP, Riker MJ, Pennington EC, Tucker BA, Stone EM, Boldt HC, Mullins RF.. Vascular Findings in the Choriocapillaris in a Case of Radiation Retinopathy Secondary to Choroidal Melanoma. Case Rep Ophthalmol. 2022;13(2):589-598. doi:10.1159/000525568. PMID:36160486; PMCID:PMC9459633.
  11. Thanadar RR, Siddiqui UM, Bai S, Hou R.. Uveal Melanoma Metastasis to the Thyroid. Case Rep Endocrinol. 2023;2023:2118672. doi:10.1155/2023/2118672. PMID:37621445; PMCID:PMC10447162.
  12. Wagle AM, Wu BC, Gopal L, Sundar G.. Necrosis of uveal melanoma post-COVID-19 vaccination. Indian J Ophthalmol. 2022;70(5):1837-1840. doi:10.4103/ijo.ijo_3040_21. PMID:35502089; PMCID:PMC9333048.
  13. Rantala ES, Hernberg MM, Piperno-Neumann S, Grossniklaus HE, Kivelä TT.. Metastatic uveal melanoma: The final frontier. Prog Retin Eye Res. 2022;90:101041. doi:10.1016/j.preteyeres.2022.101041. PMID:34999237.
  14. Carter TJ, Broadfoot J, Coupland SE, et al. Uveal melanoma UK national guidelines: 2023 update. Eur J Cancer. 2023;188:37-51.

Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.