Lõm hắc mạc khu trú (FCE) là một thay đổi lõm khu trú của hắc mạc được phát hiện bằng Chụp cắt lớp quang học (OCT). Đặc điểm là không có u bồ đào sau hoặc giãn củng mạc. Lần đầu tiên được báo cáo bởi Jampol vào năm 2006, và được đặt tên bởi Margolis và cộng sự vào năm 2011.
Định nghĩa: Loại không có sự tách rời giữa đoạn ngoài của tế bào cảm thụ ánh sáng và RPE (Biểu mô sắc tố võng mạc).
Đặc điểm: Các tế bào cảm thụ ánh sáng và RPE cùng lún xuống trong lõm, vẫn dính chặt. Thường có diễn tiến tương đối ổn định.
Hình ảnh OCT: Lớp biểu mô sắc tố võng mạc (RPE) và lớp tế bào cảm thụ ánh sáng tại vùng lõm di lệch cùng nhau về phía hắc mạc.
Loại không khớp
Định nghĩa: Loại có khoảng trống (dịch dưới võng mạc hoặc chất phản xạ cao) giữa đoạn ngoài của tế bào cảm thụ ánh sáng và RPE.
Đặc điểm: Nguy cơ cao biến chứng tân mạchhoàng điểm (tân mạch hắc mạc) hoặc bong võng mạc thanh dịch.
Hình ảnh OCT: Tích tụ dịch hoặc chất phản xạ cao giữa RPE và lớp tế bào cảm thụ ánh sáng trong vùng lõm.
Phân loại theo hình dạng (hình nón, hình chén, hỗn hợp) và theo vị trí (trung tâm hoàng điểm, ngoài trung tâm hoàng điểm) cũng được sử dụng.
Capellan và cộng sự đã phân loại ba loại dựa trên nguyên nhân: loại 1 (cận thị), loại 2 (bẩm sinh) và loại 3 (mắc phải/viêm). Ở loại 3, tỷ lệ biến chứng CNV (tân mạch hắc mạc) lên tới 40% 7).
Tỷ lệ hiện mắc ở người dưới 40 tuổi là 0,18% (3 mắt trong 1697 mắt) 1). Tỷ lệ hiện mắc FCE ở bệnh nhân bệnh lý hắc võng mạc trung tâm thanh dịch (CSC) là 2,8–7,8%, cao hơn dân số chung 1). Việc phát hiện đang gia tăng cùng với sự phổ biến của OCT.
Trong những năm gần đây, FCE có xu hướng bị loại trừ khỏi phổ bệnh lý hắc mạc dày (pachychoroid). FCE được coi là một tình trạng độc lập do khiếm khuyết màng Bruch do viêm và mỏng hắc mạc khu trú 8).
QLõm hắc mạc khu trú (FCE) có phải là bệnh hiếm gặp không?
A
Tỷ lệ hiện mắc ở người dưới 40 tuổi thấp 0,18%, nhưng với sự phổ biến của OCT, các trường hợp phát hiện tình cờ đang gia tăng 1). Hầu hết không có triệu chứng và được phát hiện lần đầu khi khám đáy mắt hoặc OCT.
Dấu hiệu đáy mắt: Có thể thấy tổn thương khu trú màu vàng ở điểm vàng hoặc cạnh điểm vàng.
Huỳnh quang tự phát đáy mắt (FAF): Quan sát thấy sự thay đổi huỳnh quang ở vùng tổn thương1)5).
Chụp mạch huỳnh quang (FFA): Quan sát thấy tăng huỳnh quang muộn (chỉ rò rỉ hoặc nhuộm màu)1)5). Trong FCE ngoài điểm vàng, nhuộm huỳnh quang muộn không kèm phù là dấu hiệu đặc trưng5).
OCT: cho thấy lõm hắc mạc khu trú là cơ sở chẩn đoán. Có thể phân biệt loại phù hợp và không phù hợp.
OCTA: Ở vùng FCE, lớp mao mạch hắc mạc có tín hiệu dòng chảy tối (vùng trống) 1). Khi có tân mạchhoàng điểm, các mạch máu mới dạng lưới hoa được hiển thị 2).
QĐiều trị có cần thiết ngay cả khi không có triệu chứng không?
A
Nếu không có triệu chứng và không kèm theo tân mạchhoàng điểm hoặc bong võng mạc thanh dịch, việc theo dõi là cơ bản. Tuy nhiên, do có nguy cơ biến chứng tân mạchhoàng điểm, nên theo dõi định kỳ bằng các xét nghiệm OCT và OCTA (xem phần “Phương pháp điều trị tiêu chuẩn” để biết chi tiết).
Cơ chế bệnh sinh của FCE vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn, và một số giả thuyết đã được đề xuất.
Giả thuyết rối loạn phát triển bẩm sinh: FCE được cho là hình thành bẩm sinh do bất thường phát triển hắc mạc trong thời kỳ phôi thai3).
Giả thuyết khuyết tật màng Bruch mắc phải: Sự thoái hóa hoặc khuyết tật ở màng Bruch khiến các mô bên ngoài nhô ra ngoài do áp lực nội nhãn, hình thành FCE4). Đặc điểm là màng giới hạn trong không bị lệch.
Giả thuyết viêm (mới nhất): Viêm gây ra khuyết tật màng Bruch và mỏng hắc mạc khu trú, dẫn đến hình thành FCE8). Dựa trên giả thuyết này, FCE được coi là một thực thể độc lập với phổ pachychoroid.
Bằng chứng trực tiếp liên quan đến ABCA4: Trong bệnh Stargardt (bệnh võng mạc liên quan đến ABCA4), một khuyết tật nhỏ ở màng Bruch xảy ra trước vài tháng trước khi hình thành FCE, được xác nhận qua quan sát OCT liên tục trong 8 năm7).
Jie Guo; Lu Zhong; Chunhui Jiang; Xin Zhou; Gezhi Xu; Wenji Wang; Yuliang Wang. Clinical and optic coherence tomography findings of focal choroidal excavation in Chinese patients. BMC Ophthalmol. 2014 May 6; 14:63. Figure 3. PMCID: PMC4107723. License: CC BY.
Hình ảnh đáy mắt và OCT của một mắt có hõm đơn độc. Những hình ảnh này từ một nam giới 30 tuổi được khám tổng quát định kỳ. (A) Có một số thay đổi sắc tố ở điểm vàng. (B) Một hõm ở trung tâm hoàng điểm hiện diện trên OCT.
OCT là không thể thiếu để chẩn đoán FCE. Chẩn đoán và đánh giá được thực hiện bằng cách kết hợp các xét nghiệm sau.
OCT
Vai trò: Tiêu chuẩn vàng chẩn đoán.
Kết quả: Lõm hắc mạc khu trú. Có thể phân biệt loại phù hợp và không phù hợp. Cũng đo hình dạng (hình nón, hình chén, hỗn hợp) và độ sâu.
OCTA
Vai trò: Phát hiện tân mạchhoàng điểm không xâm lấn. Có thể chẩn đoán mà không cần chất cản quang2).
Kết quả: Vùng tín hiệu dòng chảy tối trong lớp mao mạch hắc mạc ở vùng FCE. Khi có tân mạchhoàng điểm, xuất hiện tân mạch dạng lưới hoa 2).
FA và ICGA
Kết quả FA: Tăng huỳnh quang muộn (rò rỉ / nhuộm màu). Hữu ích để đánh giá CNV và thoái hóa biểu mô sắc tố võng mạc5).
Kết quả ICGA: Đánh giá cấu trúc mạch máu hắc mạc. Hữu ích để đánh giá hắc mạc dày và giãn mạch hắc mạc4).
Các xét nghiệm bổ trợ khác bao gồm FAF (đánh giá sức khỏe biểu mô sắc tố võng mạc) và siêu âm chế độ B (để phân biệt với u bồ đào sau).
Đối với các trường hợp không triệu chứng, không có tân mạchhoàng điểm hoặc bong thanh dịch võng mạc, theo dõi định kỳ là nguyên tắc cơ bản. Khuyến cáo theo dõi OCT và OCTA suốt đời 1).
Trong trường hợp hai mắt FCE kèm CSC, sự kết hợp giữa laser tiêu điểm (kích thước điểm 50 μm, công suất 70 mW, thời gian chiếu 0,1 giây) và SML (Laser xung vi mô dưới ngưỡng) đã được báo cáo làm biến mất bong thanh dịch võng mạc sau 5 tháng 1).
Liệu pháp kháng VEGF cho các trường hợp có tân mạch hoàng điểm
Liệu pháp kháng VEGF là lựa chọn đầu tiên cho các trường hợp có tân mạchhoàng điểm. Kết quả điều trị chính được trình bày dưới đây.
Báo cáo
Thuốc
Kết quả điều trị
Duke 20252)
Bevacizumab 1,25 mg/0,05 mL
Sau 3 liều: 20/40 → 20/20
Sato 20214)
Aflibercept 1 lần/tháng trong 3 tháng
CNV biến mất + FCE biến mất, không tái phát trong 12 tháng
Tổng hợp tài liệu4)
Kháng VEGF nói chung
54/76 mắt (71%) đáp ứng giải phẫu tốt
Duke RCT và cộng sự (2025) báo cáo một phụ nữ 30 tuổi mắc FCE kèm tân mạch hắc mạc dưới hoàng điểm được tiêm Bevacizumab 3 lần, và trên OCTA thấy tân mạch hắc mạc dạng hoa thoái triển, BCVA cải thiện từ 20/40 lên 20/202).
Sato và cộng sự (2021) báo cáo một trường hợp CNV biến mất và bản thân FCE cũng biến mất sau 3 tháng điều trị Aflibercept hàng tháng4). Theo dõi 12 tháng không thấy tái phát CNV hay FCE. Sự biến mất của FCE được cho là do sẹo xơ mạch sau kháng VEGF bắc cầu qua khiếm khuyết màng Bruch.
Quang đông Laser Tại chỗ: Được xem xét cho dịch rỉ khu trú ngoài hoàng điểm.
Đông lạnh: Đôi khi được sử dụng hỗ trợ cho các tổn thương ngoại vi.
QTân mạch hắc mạc kết hợp có thể chữa khỏi bằng điều trị không?
A
Liệu pháp kháng VEGF có hiệu quả, với báo cáo đáp ứng giải phẫu tốt ở 54/76 mắt (71%) 4). Trong một số trường hợp, bản thân FCE có thể biến mất 4). Tuy nhiên, do nguy cơ tái phát, cần theo dõi liên tục ngay cả sau điều trị.
Giả thuyết được ủng hộ nhiều nhất hiện nay là giả thuyết khiếm khuyết màng Bruch. Tại các vùng màng Bruch yếu hoặc có khiếm khuyết, lớp ngoài của phức hợp biểu mô sắc tố võng mạc-màng Bruch nhô ra ngoài do tác động của nhãn áp. Trong khi đó, màng giới hạn trong không bị lệch. Điều này phù hợp với các đặc điểm hình thái của FCE quan sát được trên OCT4).
Theo dõi liên tục trên bệnh võng mạc liên quan đến ABCA4
Trong phân tích OCTA, quan sát thấy vùng trống tín hiệu dòng chảy tối ở lớp mao mạch hắc mạc tại vùng FCE1). Điều này gợi ý giảm lưu lượng máu mao mạch hắc mạc tại vị trí FCE, và thiếu máu cục bộ có thể dẫn đến viêm, yếu màng Bruch và hình thành tân mạchhoàng điểm2).
Con đường được ước tính: lõm hắc mạc → mỏng hắc mạc cục bộ → thiếu máu cục bộ và viêm mạn tính → yếu màng Bruch → tân mạchhoàng điểm2). Ở FCE type 3, tỷ lệ biến chứng CNV lên tới 40% 7), do đó phân loại type FCE rất quan trọng trong đánh giá nguy cơ lâm sàng.
Hội chứng Alagille (AGS) là bệnh đa cơ quan do đột biến gen JAG1 (>97%). Đã có báo cáo về sự kết hợp của FCE và lỗ hoàng điểm trên nền teo hắc võng mạc do bất thường đường tín hiệu Notch 6).
7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai (Báo cáo giai đoạn nghiên cứu)
Trước đây, FCE đôi khi được xếp vào phổ bệnh pachychoroid, nhưng các đánh giá quy mô lớn gần đây đang phân loại lại. Cheung và cộng sự (2024) đề xuất loại trừ FCE khỏi phổ bệnh pachychoroid và coi nó là một tình trạng bệnh lý độc lập do khiếm khuyết màng Bruch do viêm và mỏng màng mạch cục bộ 8).
Theo dõi 8 năm trên bệnh võng mạc liên quan đến ABCA4
Benson và cộng sự đã theo dõi FCE trên bệnh võng mạc liên quan đến ABCA4 bằng OCT nối tiếp trong 8 năm, và lần đầu tiên trên thế giới ghi nhận diễn tiến tự nhiên từ FCE dạng phù hợp sang không phù hợp và cuối cùng thành lỗ hoàng điểm7). Quan sát này rất quan trọng để hiểu sự tiến triển của FCE.
Chẩn đoán tân mạch hoàng điểm không xâm lấn bằng OCTA+SD-OCT
Đã có báo cáo rằng sự kết hợp giữa OCTA (chụp mạch cắt lớp quang học) và SD-OCT (OCT miền phổ) có thể chẩn đoán tân mạch hắc mạc kèm FCE mà không cần dùng chất tương phản (fluorescein, ICGA) 2). Điều này có thể làm giảm sự phụ thuộc vào các xét nghiệm tương phản xâm lấn.
Sato và cộng sự (2021) đã báo cáo trường hợp đầu tiên về sự biến mất của chính FCE sau khi dùng Aflibercept4). Cầu nối khiếm khuyết màng Bruch do sẹo xơ mạch được cho là cơ chế biến mất FCE, cho thấy liệu pháp kháng VEGF cũng có thể ảnh hưởng đến các thay đổi hình thái của FCE.
Phân loại 3 thể của Capellan và cộng sự (thể 1: cận thị, thể 2: bẩm sinh, thể 3: mắc phải/viêm) được chú ý như một khung hữu ích để đánh giá nguy cơ và xác định kế hoạch điều trị 7). Việc xác nhận thông qua các nghiên cứu tiến cứu quy mô lớn trong tương lai được kỳ vọng.
QFCE có trở nên tồi tệ hơn trong tương lai không?
A
Phần lớn các trường hợp FCE có diễn tiến ổn định, nhưng tỷ lệ biến chứng tân mạchhoàng điểm được báo cáo khoảng 16% khi theo dõi dài hạn 2). Ở những bệnh nhân có nền thoái hóa võng mạc tiến triển như bệnh võng mạc liên quan đến ABCA4, đã có báo cáo về sự tiến triển dần dần từ dạng phù hợp sang không phù hợp, dẫn đến lỗ hoàng điểm7). Khuyến cáo theo dõi suốt đời 1).
Bai J, Wang Y, Cao N, et al. Bilateral focal choroidal excavation and central serous chorioretinopathy coexisting in a male patient. Case Rep Ophthalmol Med. 2024;2024:5519361.
Duke RCT, Anshumali S, Crosson JN. Optical coherence tomography angiography in macular neovascularization secondary to focal choroidal excavation. J Vitreoret Dis. 2025;9(2):228-231.
Belenje A, Takkar B, Narayanan R, Jalali S. Unilateral focal choroidal excavation in cone dystrophy. BMJ Case Rep. 2021;14:e240665.
Sato T, Yasukawa T, Hayashi K. Focal choroidal excavation disappearing after successful treatment of type 2 choroidal neovascularization with intravitreal aflibercept. Am J Ophthalmol Case Rep. 2021;22:101078.
Dhodapkar RM, Spadaro JZ, Adelman RA. A case of extrafoveal focal choroidal excavation. Am J Ophthalmol Case Rep. 2022;27:101682.
Misawa M, Tampo H, Makino S. Atypical focal choroidal excavation with macular hole in a patient with Alagille syndrome. Case Rep Ophthalmol Med. 2022;2022:8136115.
Benson MD, Feldman CB, Zein WM. Evolution of focal choroidal excavation in ABCA4-related retinopathy. Am J Ophthalmol Case Rep. 2022;28:101740.
Cheung CMG, Lai TYY, Ruamviboonsuk P, et al. Pachychoroid disease. Eye. 2024;38:797-808.
Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.
Đã sao chép bài viết vào clipboard
Mở một trợ lý AI bên dưới và dán nội dung đã sao chép vào ô chat.