Bỏ qua đến nội dung
Võng mạc và dịch kính

Lỗ Hoàng Điểm

Lỗ hoàng điểm (macular hole; MH) là bệnh lý xuất hiện khuyết toàn bộ chiều dày võng mạc tại vùng hoàng điểm. Lỗ không phải là mất mô võng mạc, mà là một vết nứt nhỏ do lực kéo của vỏ dịch kính sau, sau đó giãn rộng thành lỗ. Tự đóng rất hiếm, theo thời gian lỗ to ra và xảy ra thoái hóa tế bào biểu mô sắc tố võng mạc.

Năm 1988, Gass lần đầu tiên mô tả quá trình tiến triển của lỗ hoàng điểm vô căn qua bốn giai đoạn. Năm 1991, Kelly và Wendel báo cáo hiệu quả của phẫu thuật cắt dịch kính, và năm 1995, Brooks báo cáo cải thiện tỷ lệ đóng lỗ khi kết hợp bóc màng giới hạn trong. Hiện nay, cắt dịch kính + bóc ILM + chèn ép khí là phẫu thuật tiêu chuẩn.

Lỗ hoàng điểm được phân loại thành bốn loại dựa trên nguyên nhân.

LoạiLớp ưu thếNguyên nhân chính
Vô cănPhụ nữ ở độ tuổi 60-70Kéo dịch kính-hoàng điểm do tuổi tác
Cận thịPhụ nữ cận thị nặngU bồ đào sau / Tách lớp hoàng điểm
Chấn thươngNam giới trẻ (20-30 tuổi)Chấn thương mắt do vật tù
Thứ phátĐa dạngBong võng mạc / Viêm / Thuốc (ví dụ tamoxifen) 4)

Lỗ hoàng điểm dạng phiến (LMH) không phải là khuyết toàn bộ chiều dày, mà là bệnh gây khuyết một phần ở các lớp trong của võng mạc, trong khi các lớp ngoài được bảo tồn. Tỷ lệ hiện mắc là 1,1–3,6%, thường gặp ở độ tuổi 50–70 12). Đây là tổn thương liên quan quan trọng cần phân biệt.

Lỗ hoàng điểm giả là tình trạng phần trung tâm bị lõm tương đối do màng trên hoàng điểm xung quanh, khác với lỗ hoàng điểm nguyên phát ở chỗ không phải lỗ toàn bộ chiều dày.

Tỷ lệ mắc lỗ hoàng điểm nguyên phát được báo cáo là 3,14–7,8 trên 100.000 dân mỗi năm 2). Trong một nghiên cứu dân số tại Mỹ, tỷ lệ mắc là 7,8 trên 100.000 mỗi năm (8,7 mắt), tỷ lệ nữ:nam là 3,3:1 3). Tuổi khởi phát thường gặp nhất là 60–70 tuổi, với đỉnh ở thập kỷ thứ bảy. 72% bệnh nhân là nữ, hơn 50% xảy ra ở độ tuổi 65–74, và chỉ 3% dưới 55 tuổi 3).

Thường là một mắt, nhưng tần suất ở mắt còn lại là 10–20%. Nguy cơ 5 năm ở mắt còn lại là 10–15%, và lên tới 28% nếu không có bong dịch kính sau hoàn toàn 2). Có báo cáo rằng người châu Á có nguy cơ mắc iFTMH cao hơn 177% so với người da trắng 2). Lỗ hoàng điểm do chấn thương thường gặp ở nam giới trẻ, trái ngược với nguyên phát.

Bong võng mạc do lỗ hoàng điểm thường gặp ở phụ nữ cận thị nặng, chiếm khoảng 5% các ca bong võng mạc ở Nhật Bản, cao hơn so với 0,5–2,0% ở châu Âu và Mỹ.

Q Lỗ hoàng điểm có xảy ra ở cả hai mắt không?
A

Nguy cơ ở mắt còn lại sau khi một mắt khởi phát là trung bình. Ở bệnh nhân không có bong dịch kính sau ở mắt còn lại, nguy cơ lên tới 28% trong 5 năm 2). Nếu có bong dịch kính sau hoàn toàn ở mắt còn lại, nguy cơ thấp. Thời điểm khởi phát không nhất thiết đồng thời, nhưng khoảng 10–20% trường hợp xảy ra ở cả hai mắt.

2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng

Phần tiêu đề “2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”
Ảnh đáy mắt và hình ảnh OCT của lỗ hoàng điểm
Ảnh đáy mắt và hình ảnh OCT của lỗ hoàng điểm
Wu TT, et al. Inverted flap technique versus internal limiting membrane insertion for macular hole in eyes with extremely high myopia. BMC Ophthalmol. 2024. Figure 1. PMCID: PMC11251341. License: CC BY.
OCT trước phẫu thuật cho thấy rõ lỗ toàn bộ chiều dày ở hoàng điểm. OCT sau phẫu thuật cho thấy lỗ đã đóng, giúp dễ hiểu hình ảnh điển hình của lỗ hoàng điểm.

Các triệu chứng chủ quan chính của lỗ hoàng điểm nguyên phát như sau:

  • Giảm thị lực trung tâm: Ban đầu thị lực khoảng 0,4–1,0, giảm xuống khoảng 0,1 khi tiến triển.
  • Rối loạn thị giác (metamorphopsia): Biến dạng thị trường trung tâm. Có biến dạng đặc trưng kiểu co kéo hướng tâm.
  • Ám điểm trung tâm: Nhiều bệnh nhân phàn nàn rằng chữ biến mất tại điểm cố định. Hiếm khi được nhận biết là ám điểm trung tâm.
  • Vi thị: Hiếm khi bệnh nhân phàn nàn về việc nhìn thấy vật thể nhỏ hơn kích thước thực.

Các triệu chứng tiến triển chậm trong vài tuần đến vài tháng, nhưng thường được nhận biết một cách tương đối đột ngột3).

Ở lỗ hoàng điểm toàn bộ chiều dày không được điều trị, tiên lượng thường xấu. Khoảng 40-50% Giai đoạn 1 tiến triển thành lỗ toàn bộ chiều dày, và khoảng 50% tự cải thiện khi bong dịch kính sau3). Khoảng 75% Giai đoạn 2 tiến triển thành Giai đoạn 3-43). Ở lỗ hoàng điểm toàn bộ chiều dày không được điều trị, chỉ 5% duy trì thị lực 20/50 hoặc tốt hơn, 55% đạt 20/100 hoặc kém hơn, và 40% đạt 20/200 hoặc kém hơn3). Tỷ lệ đóng tự nhiên chỉ với theo dõi là 2,5-27% (phụ thuộc vào kích thước và thời gian), và không có trường hợp đóng tự nhiên ở lỗ lớn (>400 μm)2).

Phân loại giai đoạn do Gass mô tả năm 1995 vẫn được sử dụng rộng rãi như tiêu chuẩn. Với sự tiến bộ của OCT, bệnh sinh của từng giai đoạn được hiểu chi tiết hơn.

Giai đoạn 1 (Sắp xảy ra/Tiềm ẩn)

Giai đoạn 1A (Lỗ sắp xảy ra): Giai đoạn biến dạng hố trung tâm do bong dịch kính sau. Quan sát thấy mất độ lõm hố trung tâm và chấm vàng (100-200 μm)3). Hình thành khoang nang hố trung tâm hoặc bong võng mạc hố trung tâm.

Giai đoạn 1B (Lỗ tiềm ẩn): Quan sát thấy vòng vàng (200-350 μm)3). Xảy ra sự tách lớp tế bào cảm thụ ánh sáng nhưng chưa đến lỗ toàn bộ chiều dày (lỗ ẩn).

Diễn tiến tự nhiên: Khoảng 50% Giai đoạn 1 tự cải thiện.

Giai đoạn 2-4 (Lỗ toàn bộ chiều dày)

Giai đoạn 2: Lỗ toàn bộ chiều dày <400 μm. Có thể lệch tâm và kèm theo nâng lên dạng vạt3). Vỏ dịch kính sau kết nối với hố trung tâm qua vạt.

Giai đoạn 3: Lỗ toàn bộ chiều dày ≥400 μm. Kèm theo nắp giả tự do. Bong dịch kính sau chưa hoàn toàn.

Giai đoạn 4: Giai đoạn bong dịch kính sau hoàn toàn. Trên soi đáy mắt quan sát thấy vòng thần kinh đệm. Quan sát thấy vòng Weiss.

Năm 2013, Nhóm Nghiên cứu Kéo dịch kính hoàng điểm Quốc tế (IVTS) đã xây dựng phân loại dựa trên kết quả OCT. Lỗ hoàng điểm toàn bộ chiều dày được phân loại dựa trên đường kính nhỏ nhất 2).

Phân loạiĐường kính nhỏ nhất
Nhỏ (S)< 250 μm
Trung bình (M)250–400 μm
Lớn (L)> 400 μm

Nhìn chung, lỗ giai đoạn 2 trở lên và kích thước trung bình hoặc lớn là chỉ định phẫu thuật tích cực. Nhóm Nghiên cứu CLOSE đề xuất phân loại nhỏ hơn cho lỗ lớn thành L (>400–≤550 μm), XL (>550–≤800 μm), XXL (>800–≤1000 μm) và Khổng lồ (>1000 μm). Có báo cáo rằng tỷ lệ đóng giảm xuống dưới 90% khi đường kính vượt quá 500 μm 2).

Phân loại OCT lỗ hoàng điểm do chấn thương

Phần tiêu đề “Phân loại OCT lỗ hoàng điểm do chấn thương”

Lỗ hoàng điểm do chấn thương được phân loại dựa trên kết quả OCT thành các loại sau 14).

LoạiKết quả OCTĐặc điểm
Loại IPhù hoàng điểm và biến đổi dạng nangLỗ chưa hình thành
Loại IILỗ dạng phiếnKhuyết một phần lớp
Loại IIILỗ xuyên toàn bộ chiều dày (nhỏ đến vừa)Phân loại IVTS S/M
Loại IVLỗ xuyên toàn bộ chiều dày (lớn)Phân loại IVTS L
Loại VLỗ kèm bong võng mạcChỉ định phẫu thuật cấp cứu

Phân loại lỗ hoàng điểm dạng lớp (LMH)

Phần tiêu đề “Phân loại lỗ hoàng điểm dạng lớp (LMH)”

Lỗ hoàng điểm dạng lớp được phân loại theo Govetto thành hai loại chính: “loại thoái hóa” và “loại kéo” 13). Hubschman và cộng sự sau đó đã định nghĩa lại loại thoái hóa là “LMH” và loại kéo là “bong hoàng điểm do màng trước võng mạc (ERMF)” 12).

Loại thoái hóa đặc trưng bởi sự tạo hốc không tuyến tính ở võng mạc trong, mất mô trung tâm hoàng điểm và tăng sản màng trước võng mạc (LHEP). Loại kéo đặc trưng bởi sự hiện diện của màng trước võng mạc co rút và sự tách rời võng mạc ở mức sợi Henle 13). Loại thoái hóa thường đi kèm với phá hủy vùng ellipsoid (EZ) và có tiên lượng thị lực kém hơn.

Q Lỗ hoàng điểm giai đoạn 1 có cần điều trị không?
A

Giai đoạn 1 là lỗ đe dọa chưa phải lỗ toàn bộ chiều dày, và khoảng 50% tự cải thiện 3). Thường khuyến cáo theo dõi. Tuy nhiên, do nguy cơ tiến triển, việc theo dõi định kỳ bằng OCT là quan trọng.

Cơ chế hình thành lỗ hoàng điểm vô căn

Phần tiêu đề “Cơ chế hình thành lỗ hoàng điểm vô căn”

Nguyên nhân chính của lỗ hoàng điểm vô căn là lực kéo dịch kính-hoàng điểm trong giai đoạn đầu của bong dịch kính sau (PVD) liên quan đến tuổi tác 2).

Trong dịch kính của mắt người, có một khoang hóa lỏng sinh lý phía trước hoàng điểm (túi trước hoàng điểm: túi Kishi). Khi lão hóa, vỏ tạo thành thành sau của túi kéo hoàng điểm và góp phần vào sự hình thành lỗ hoàng điểm.

Quá trình hình thành như sau:

  1. Khi lão hóa, dịch kính hóa lỏng và hình thành khoang hóa lỏng (túi) phía trước vỏ dịch kính sau.
  2. Màng dịch kính sau bong ra khỏi võng mạc xung quanh hoàng điểm (PVD quanh hoàng điểm).
  3. Tại hoàng điểm, sự bám dính của dịch kính mạnh về mặt sinh lý, do đó sự bám dính được duy trì.
  4. Lực kéo theo hướng trước sau tập trung tại hố trung tâm.
  5. Xảy ra sự tách rời giữa hình nón Müller và tế bào cảm thụ ánh sáng, hình thành nang trong võng mạc 2).
  6. Nếu lực kéo tiếp diễn, ILM và ELM bị đứt, dẫn đến lỗ toàn bộ chiều dày 2).

Mức độ khuyết tật lớp võng mạc ngoài tương quan với phạm vi và cường độ kéo dịch kính-võng mạc; kết dính rộng hơn dẫn đến khuyết tật tế bào cảm thụ ánh sáng rộng hơn 2). Khi các nỗ lực sửa chữa của tế bào thần kinh đệm thất bại, các tế bào thần kinh đệm di chuyển và co lại trên ILM ở rìa lỗ, làm lỗ to ra do lực kéo tiếp tuyến 2).

Cơ chế hình thành lỗ hoàng điểm do chấn thương

Phần tiêu đề “Cơ chế hình thành lỗ hoàng điểm do chấn thương”

Khi chấn thương đụng dập tác động lên mắt, xảy ra đồng thời nén theo hướng trước sau và giãn theo hướng xích đạo. Biến dạng này tập trung lực kéo tiếp tuyến tại hoàng điểm, làm rách mô hố trung tâm và hình thành lỗ. Ở người trẻ, dịch kính bám chặt vào võng mạc (không có bong dịch kính sau), do đó lực bên ngoài dễ dàng truyền trực tiếp đến hoàng điểm qua dịch kính 14). Khoảng 85% trường hợp TMH không có bong dịch kính sau.

Tia laser công suất cao, chẳng hạn như chiếu sai hướng của con trỏ laser, cũng có thể gây ra lỗ hoàng điểm.

  • Tuổi tác: Nguy cơ tăng sau 60 tuổi. Sau 70 tuổi, có sự gia tăng phi tuyến tính 2).
  • Giới tính nữ: Tỷ lệ mắc cao gấp 2–3,3 lần so với nam giới 2).
  • Cận thị nặng: Tăng chiều dài trục là yếu tố nguy cơ. Độ cận thị càng cao, tuổi khởi phát càng thấp 2).
  • Tiền sử sinh con: Số lần sinh có liên quan đến nguy cơ iFTMH (nghiên cứu thuần tập Hàn Quốc) 3).
  • Tiến triển không hoàn toàn của bong dịch kính sau: Dịch kính bám dính khu trú tại hố trung tâm là nguyên nhân.
  • Chấn thương: Biến dạng nhãn cầu và kéo căng võng mạc do chấn thương đụng dập là nguyên nhân. Khác với loại vô căn, thường gặp ở nam giới trẻ.

OCT là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán và quản lý lỗ hoàng điểm 3). Nó có thể đánh giá chi tiết cấu trúc võng mạc tại vùng lỗ hoàng điểm. Các thông tin sau có thể thu được:

  • Xác nhận lỗ toàn bộ chiều dày và đo đường kính tối thiểu (MLD): Chọn lát cắt OCT ở mặt cắt rộng nhất và đo chiều rộng tối thiểu ở phần giữa lỗ. Có độ tái lập tốt và là tiêu chuẩn lâm sàng và nghiên cứu 2).
  • Có hay không có kéo dịch kính hoàng điểm (VMT)
  • Có hay không có màng trước võng mạc (ERM)
  • Đánh giá dịch dưới võng mạc hoặc thay đổi dạng nang
  • Tình trạng vùng ellipsoid (EZ)

Để loại trừ lỗ hoàng điểm giả, cần đảm bảo không có khuyết toàn bộ chiều dày võng mạc ở phần lõm trên OCT. Chụp thể tích cũng quan trọng để kiểm tra liên tục.

Là xét nghiệm cơ bản trong lần khám đầu tiên, ngoài OCT, cần thực hiện thị lực tốt nhất có điều chỉnh (BCVA), đo nhãn áp (IOP), và khám võng mạc ngoại vi (sàng lọc vết rách) 3).

Khám đáy mắt chi tiết dưới giãn đồng tử là cơ bản. Trong lỗ hoàng điểm toàn bộ chiều dày, thấy bờ hoàng điểm xám (phản ánh tích tụ dịch dưới võng mạc), lắng đọng màu vàng ở đáy lỗ, và thay đổi biểu mô sắc tố võng mạc (RPE).

  • Nghiệm pháp Watzke-Allen (dấu hiệu chùm tia khe): Khi chiếu một chùm sáng hẹp vào lỗ hoàng điểm, bệnh nhân cảm thấy chùm sáng bị cong vào trong tại điểm cố định. Nếu chùm sáng bị thắt lại ở giữa hoặc đứt đoạn, khả năng cao là lỗ hoàng điểm; nếu chỉ bị cong, khả năng là lỗ hoàng điểm giả. Dương tính với lỗ toàn bộ chiều dày, âm tính với lỗ giả.
  • Biểu đồ Amsler: Dùng để phát hiện rối loạn thị giác dạng méo hình.
  • Chụp mạch huỳnh quang (FA): Cũng hữu ích để xác nhận biến chứng (bong võng mạc, tổn thương hắc mạc) trong trường hợp chấn thương.
  • Kiểm tra thị trường: Để định lượng phạm vi ám điểm trung tâm.
Phương pháp kiểm traVai trò chínhĐặc điểm
OCTChẩn đoán xác định, phân loại giai đoạn, phân biệtTiêu chuẩn vàng
Kính hiển vi đèn kheChẩn đoán lâm sàngQuan sát trực tiếp lỗ dưới giãn đồng tử
Xét nghiệm Watzke-AllenXác nhận lỗ xuyên toàn bộ chiều dàyHữu ích để phân biệt với lỗ giả
Biểu đồ AmslerPhát hiện dị cảm thị giác (metamorphopsia)Đánh giá định tính triệu chứng chủ quan

Cần phân biệt với các bệnh sau. Tất cả đều được phân biệt với lỗ hoàng điểm toàn bộ chiều dày ở chỗ không có khuyết võng mạc toàn bộ chiều dày trên OCT.

  • Lỗ hoàng điểm giả: Lõm hình trụ ở trung tâm hoàng điểm do co kéo màng trước võng mạc. Thị lực tương đối tốt, xét nghiệm Watzke-Allen âm tính. Nếu thị lực tốt và không có triệu chứng chủ quan, thường không phẫu thuật mà chỉ theo dõi.
  • Lỗ hoàng điểm phân lớp (LMH): Khuyết một phần các lớp võng mạc bên trong. Các lớp võng mạc bên ngoài được bảo tồn.
  • Phù hoàng điểm dạng nang: Các thay đổi dạng nang trong võng mạc.
  • Hội chứng kéo dịch kính-hoàng điểm: Phù hoàng điểm do kéo dịch kính theo hướng trước-sau 5). Không có lỗ toàn bộ chiều dày.
  • Tách lớp trung tâm hoàng điểm liên quan ERM (ERMF): Tách lớp ở mức sợi Henle do ERM co rút. Khái niệm mới cần phân biệt với lỗ hoàng điểm giả và LMH 12).
Q Làm thế nào để phân biệt lỗ hoàng điểm giả và lỗ hoàng điểm toàn bộ chiều dày?
A

Có thể phân biệt dễ dàng bằng OCT. Trong lỗ hoàng điểm giả, không có khuyết võng mạc toàn bộ chiều dày, mà có lõm trung tâm hoàng điểm do màng trước võng mạc. Xét nghiệm Watzke-Allen âm tính ở lỗ giả và dương tính ở lỗ toàn bộ chiều dày. Điều quan trọng là xác nhận không có khuyết võng mạc toàn bộ chiều dày ở vùng lõm bằng OCT và kiểm tra liên tục bằng chụp thể tích.

Phẫu thuật điều trị lỗ hoàng điểm nguyên phát

Phần tiêu đề “Phẫu thuật điều trị lỗ hoàng điểm nguyên phát”

Điều trị lỗ hoàng điểm là cắt dịch kính. Không có điều trị nội khoa. Nếu bệnh nhân từ 50 tuổi trở lên, thường phẫu thuật đục thủy tinh thể đồng thời.

Phẫu thuật tiêu chuẩn: Cắt dịch kính + Bóc màng giới hạn trong + Đặt gas nội nhãn

Phần tiêu đề “Phẫu thuật tiêu chuẩn: Cắt dịch kính + Bóc màng giới hạn trong + Đặt gas nội nhãn”
  1. Cắt dịch kính: Thực hiện cắt dịch kính qua pars plana (PPV).
  2. Bóc màng giới hạn trong (ILM): ILM được hiện hình bằng Brilliant Blue G (BBG) hoặc triamcinolone, sau đó bóc bằng kẹp. BBG là hỗn hợp 0,025% BBG và 4% polyethylen glycol, có tỷ trọng cao, lắng xuống khi tiêm từ lọ và nhuộm bề mặt ILM3). ICG (Indocyanine Green) cũng được sử dụng nhưng tránh nồng độ cao và tiếp xúc lâu3).
  3. Trao đổi dịch-khí: Thay thế dịch nội nhãn bằng không khí.
  4. Đặt gas nội nhãn: Sử dụng không khí (tồn tại vài ngày), SF₆ (2-3 tuần), C₂F₆ (4-5 tuần), C₃F₈ (6-8 tuần), dầu silicone (cần loại bỏ)3). Khảo sát tại Anh (2018) cho thấy gas được sử dụng nhiều nhất là C₂F₆ (47%), tiếp theo là SF₆ (33%), C₃F₈ (19%) và không khí (1%)2).
  5. Tư thế sau phẫu thuật: Duy trì tư thế nằm sấp khoảng 3 ngày để gas tiếp xúc với lỗ.

Phân tích tổng hợp 5.480 trường hợp (Rahimy 2016) cho thấy tỷ lệ đóng lỗ là 98,82% ở nhóm bóc ILM so với 92,88% ở nhóm không bóc (P<0,0001), và tỷ lệ tái phát giảm đáng kể (25% → 0%)3). Phân tích tổng hợp 4 RCT (317 trường hợp, Giai đoạn 2-4) cũng cho thấy bóc ILM làm giảm nhu cầu phẫu thuật bổ sung, và có báo cáo rằng vùng bóc rộng hơn làm giảm rối loạn thị giác (metamorphopsia)3). Bóc ILM có hiệu quả chi phí, và phân tích hiệu quả chi phí dựa trên RCT cho thấy bóc ILM tốt hơn không bóc trong 6 tháng3).

Tỷ lệ đóng lỗ phẫu thuật và tiên lượng thị lực

Phần tiêu đề “Tỷ lệ đóng lỗ phẫu thuật và tiên lượng thị lực”

Tỷ lệ đóng lỗ bằng phẫu thuật tiêu chuẩn là 91-98%3). Trong phân tích tổng hợp của RCOphth, nhóm phẫu thuật có thị lực tốt hơn 0,16 logMAR (KTC 95% −0,23 đến −0,09) so với nhóm theo dõi, và tỷ số chênh đóng lỗ là 31,4 (KTC 95% 14,9-66,3), cho thấy rõ hiệu quả của phẫu thuật2). Dữ liệu thực hành lâm sàng tại Anh (1.483 mắt) cho thấy tỷ lệ đóng lỗ là 95,7%, cải thiện thị lực từ 0,78 xuống 0,42 logMAR (cải thiện khoảng 4 dòng), và 64,2% cải thiện ≥0,3 logMAR2).

Trung vị thị lực sau phẫu thuật khoảng 20/40 (0,5), và cải thiện thị lực kéo dài đến 3 năm sau phẫu thuật, duy trì trong 5–10 năm 3). Mỗi tháng tăng thêm của thời gian triệu chứng làm BCVA xấu đi 0,008 logMAR (≈ giảm 1 chữ ETDRS mỗi 2 tháng), do đó can thiệp phẫu thuật sớm rất quan trọng 3) (phân tích gộp IPD từ 12 RCT, 940 mắt). Khi thời gian bệnh vượt quá 2–3 năm, tỷ lệ đóng giảm xuống 63% và tiên lượng thị lực xấu 3). Thời gian bệnh càng ngắn và lỗ càng nhỏ thì tỷ lệ đóng càng cao và tiên lượng thị lực càng tốt.

Trong một đánh giá Cochrane của 8 RCT với 709 mắt, không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ đóng lỗ giữa nhóm nằm sấp và nhóm không nằm sấp. Ngay cả ở lỗ lớn (≥400 μm), tỷ lệ đóng là 94% ở nhóm nằm sấp so với 84% ở nhóm không nằm sấp, và ở lỗ nhỏ là 100% so với 96%. Phân tích gộp (251 ca, 5 RCT) cho thấy nằm sấp không cần thiết cho lỗ <400 μm, nhưng có lợi cho lỗ ≥400 μm 3). Một khảo sát tại Anh (2018) cho thấy 82% bác sĩ vẫn chỉ định hạn chế tư thế, với thời gian đa dạng: 1 ngày (19%), 2–4 ngày (30%), 5–6 ngày (23%) và ≥1 tuần (9%) 2).

Kỹ thuật phẫu thuật cho lỗ hoàng điểm kháng trị

Phần tiêu đề “Kỹ thuật phẫu thuật cho lỗ hoàng điểm kháng trị”

Lỗ hoàng điểm lớn (>400 μm), trường hợp kéo dài, và lỗ thứ phát liên quan đến cận thị nặng, chấn thương hoặc viêm được coi là kháng trị.

Kỹ thuật vạt ILM đảo ngược (inverted ILM flap): Áp dụng cho lỗ lớn có đường kính ≥1/3 đĩa thị hoặc trường hợp không đóng lần đầu. ILM được bóc đến mép lỗ, sau đó đảo ngược và đặt lên trên lỗ, hoặc nhét vào lỗ. Trong phẫu thuật lại, có thể nhét một vạt ILM tự do bóc từ bên ngoài hoàng điểm để thúc đẩy đóng lỗ. Trong một tổng quan hệ thống của 4 RCT nhỏ, kỹ thuật này có thể cải thiện BCVA tốt hơn so với bóc ILM thông thường (bằng chứng thấp), và tỷ lệ đóng cao hơn với bằng chứng trung bình 3).

Vạt ILM + phẫu thuật không khí gas (Szeto 2025): Sử dụng vạt ILM thái dương (92,9% trường hợp) và kỹ thuật không khí gas với dung dịch PFCL để trải và ổn định vạt 16).

Szeto và cộng sự (2025) báo cáo phẫu thuật không khí gas cho lỗ lớn (bao gồm >30% với cận thị nặng) có đường kính lỗ tối thiểu ≥500 μm 16). Tỷ lệ đóng tương tự giữa nhóm không khí gas (94,1%) và nhóm thông thường (95,2%) (P=0,812). Thị lực sớm sau phẫu thuật tốt hơn đáng kể ở nhóm không khí gas (1 tuần và 1 tháng sau phẫu thuật). Tỷ lệ gliosis điểm vàng thấp hơn ở nhóm không khí gas (4,9% so với 20,0%, P=0,043). Có thể đánh giá OCT vào ngày hôm sau phẫu thuật và bệnh nhân không phải chịu gánh nặng hạn chế tư thế 16).

Kỹ thuật sử dụng vật liệu sinh học khác (Romano 2025)1):

  • Màng ối người (hAM): Được sử dụng làm giàn đỡ. Phân tích tổng hợp cho thấy có lợi cho MH kháng trị. Tỷ lệ đóng 57-100%.
  • Huyết tương giàu yếu tố tăng trưởng (PRGF): Cung cấp yếu tố tăng trưởng, tỷ lệ đóng 57-91%.
  • Vạt bao thể thủy tinh: Sử dụng bao thừa trong phẫu thuật đục thủy tinh thể. Tỷ lệ đóng 75-100%.
  • Ghép võng mạc tự thân toàn bộ chiều dày (ART): Ghép võng mạc ngoại vi. Phân tích tổng hợp của Hanai 2024 cho thấy tỷ lệ đóng 94%. Dùng cho lỗ tái phát hoặc lớn.
  • Tế bào gốc trung mô (MSC): Đóng ở 6/7 ca.
  • Yếu tố tăng trưởng thần kinh (NGF): Tỷ lệ đóng MH 100%, phục hồi EZ/ELM cũng tốt hơn ở nhóm NGF.

Song và cộng sự (2024) báo cáo kết quả phẫu thuật trên 8 mắt có lỗ hoàng điểm kết hợp với viêm võng mạc sắc tố6). Đóng lỗ đạt được ở tất cả các mắt được bóc màng giới hạn trong, và ghép vạt màng giới hạn trong tự do được sử dụng cho lỗ lớn. Thị lực sau phẫu thuật cải thiện ở 1 mắt và ổn định ở 7 mắt.

Trong diễn tiến tự nhiên, thị lực giảm xuống 0,1 hoặc thấp hơn ở hầu hết các trường hợp. Phẫu thuật giúp đóng lỗ ở hơn 90% trường hợp và cải thiện thị lực. Tuy nhiên, dị cảm thị giác thường tồn tại. Nếu không đóng ở lần phẫu thuật đầu, cân nhắc mở rộng vùng bóc màng giới hạn trong hoặc tái phẫu thuật với ghép màng giới hạn trong tự thân.

Điều trị lỗ hoàng điểm do chấn thương

Phần tiêu đề “Điều trị lỗ hoàng điểm do chấn thương”

Do khả năng tự đóng (10-67%), theo dõi trong một thời gian sau chấn thương là chiến lược ban đầu. Tự đóng được cho là xảy ra nhờ các tế bào thần kinh đệm bắc cầu qua khuyết hổng. Vì bệnh nhân trẻ hơn có khả năng tăng sinh tế bào thần kinh đệm cao hơn, tỷ lệ tự đóng tương đối cao hơn.

Nếu không tự đóng, cắt dịch kính (PPV) kết hợp bóc màng giới hạn trong (ILM) là tiêu chuẩn vàng14). Tỷ lệ đóng được báo cáo là 82-96%14). Hiệu quả của bóc màng giới hạn trong còn chưa rõ ràng ở một số khía cạnh, nhưng kỹ thuật tương tự như lỗ vô căn được thực hiện. Sau phẫu thuật, chèn ép bằng khí (SF₆ hoặc C₃F₈) được thực hiện và cần tư thế nằm sấp. Đối với các trường hợp lớn hoặc khó đóng, kỹ thuật vạt ILM hoặc ghép màng ối là các lựa chọn14).

Phân tích tổng hợp của Zhou và cộng sự (2021) cho thấy tỷ lệ đóng lỗ bằng PPV cao hơn đáng kể so với tỷ lệ tự đóng 15). Chờ đợi lâu có thể làm giảm tỷ lệ đóng lỗ, và ngay cả khi đóng, sự phục hồi thị lực có thể không đầy đủ.

Tình huốngHướng xử trí
Ngay sau chấn thương / kích thước nhỏTheo dõi trước
Không tự đóngPPV + bóc màng giới hạn trong (ILM)
Lớn / khó đóngVạt ILM / ghép màng ối

Tỷ lệ đóng lỗ hoàng điểm do chấn thương cùn bằng phẫu thuật cắt dịch kính được báo cáo là trên 90%. Cải thiện thị lực phụ thuộc vào việc lỗ có đóng hay không và các tổn thương khác ở hoàng điểm cũng như vị trí tổn thương.

Điều trị bong võng mạc do lỗ hoàng điểm (cận thị nặng)

Phần tiêu đề “Điều trị bong võng mạc do lỗ hoàng điểm (cận thị nặng)”

Trong cận thị nặng, lỗ hoàng điểm có thể tiến triển thành bong võng mạc. Quy trình tiêu chuẩn là cắt dịch kính + bóc màng giới hạn trong + chèn dầu khí (silicone). Ngay cả khi có vẻ bong dịch kính sau, vỏ dịch kính vẫn bám dính rộng rãi trên võng mạc. Phần vỏ dịch kính còn lại được loại bỏ dưới hướng dẫn của triamcinolone, và màng giới hạn trong được bóc khoảng 2-3 đường kính đĩa thị bằng thuốc nhuộm sinh học. Tỷ lệ tái áp khoảng 70%, thấp hơn so với bong võng mạc do rách thông thường (>90%).

Điều trị lỗ hoàng điểm dạng phiến (LMH)

Phần tiêu đề “Điều trị lỗ hoàng điểm dạng phiến (LMH)”

Theo dõi: Nhiều LMH ổn định theo thời gian, và các trường hợp vô căn không triệu chứng không có chỉ định điều trị. Theo dõi các thay đổi cấu trúc bằng OCT định kỳ.

Phẫu thuật bảo tồn LHEP: Phẫu thuật được xem xét trong các trường hợp giảm thị lực có triệu chứng, rối loạn thị giác tiến triển hoặc xấu đi của cấu trúc trung tâm hoàng điểm. Gần đây, các kỹ thuật bảo tồn hoặc cấy ghép LHEP mà không bóc tách đang được chú ý.

Trong phân tích tổng hợp (8 nghiên cứu) của Yu và cộng sự (2025), mức cải thiện BCVA sau phẫu thuật ở nhóm bảo tồn LHEP là −0,25 logMAR (KTC 95% −0,30 đến −0,21, P<0,00001) có ý nghĩa thống kê11). So với bóc tách thông thường, chênh lệch cải thiện BCVA là −0,19 logMAR (P<0,0001) nghiêng về nhóm bảo tồn. Tỷ lệ bệnh nhân có phục hồi EZ sau phẫu thuật cũng cao hơn đáng kể ở nhóm bảo tồn (OR 2,55; KTC 95% 1,48 đến 4,38)11). Không có báo cáo về hình thành FTMH sau phẫu thuật ở nhóm bảo tồn LHEP11).

Nếu thị lực tốt và không có triệu chứng chủ quan, thường không phẫu thuật mà theo dõi. Nếu có triệu chứng chủ quan như giảm thị lực hoặc méo mó nhiều, cân nhắc cắt dịch kính tương tự điều trị màng trước võng mạc. Trong cắt dịch kính, bóc màng trước võng mạcmàng giới hạn trong.

Có thể xảy ra các biến chứng chung của cắt dịch kính.

  • Rách võng mạc: Xảy ra trong hoặc sau phẫu thuật với tỷ lệ 3–17%. Thường ở phía dưới3).
  • Bong võng mạc: 1–5% sau phẫu thuật. Thường do rách nhỏ phía dưới. Hầu hết có thể sửa chữa mà không cần mở lại lỗ3).
  • Đục thủy tinh thể: Hơn 80% mắt còn thể thủy tinh phát triển đục thủy tinh thể trong vài năm sau phẫu thuật. Trung vị 14 tháng cần phẫu thuật đục thủy tinh thể, và 98% cần phẫu thuật trong thời gian theo dõi trung bình 91 tháng3). Sau phẫu thuật đục thủy tinh thể, 11% lỗ đã đóng mở lại, và nguy cơ mở lại tăng gấp 7 lần khi có CME3).
  • DONFL (lớp sợi thần kinh thị giác phân ly): Các dấu hiệu giống khuyết dọc theo bó sợi thần kinh có thể xuất hiện vài tháng sau khi bóc ILM. Không phải dấu hiệu gợi ý khiếm khuyết thị trường.
  • Mở lại: Tới 10% lỗ đã đóng thành công có thể mở lại, nhưng bóc ILM làm giảm nguy cơ3).
  • Khiếm khuyết thị trường: Trước đây xảy ra ở 20%, nhưng đã giảm với việc sử dụng gauge nhỏ và tưới áp lực thấp3).
  • Viêm nội nhãn sau phẫu thuật: Dưới 0,05%3). Hiếm gặp nhưng nghiêm trọng.
Q Sau phẫu thuật bao lâu thì thị lực hồi phục?
A

Thị lực trước phẫu thuật, kích thước lỗ và thời gian mắc bệnh ảnh hưởng đến tiên lượng thị lực. Trung vị thị lực sau phẫu thuật khoảng 20/40 (0,5), cải thiện thị lực kéo dài đến 3 năm sau phẫu thuật và duy trì trong 5-10 năm 3). Rối loạn thị giác (metamorphopsia) thường tồn tại. Thời gian mắc bệnh càng dài, tiên lượng càng xấu; nếu vượt quá 2-3 năm, tỷ lệ đóng giảm xuống 63% 3). Trong trường hợp chấn thương, các tổn thương kèm theo khác cũng ảnh hưởng đến tiên lượng thị lực.

6. Sinh lý bệnh và cơ chế phát sinh chi tiết

Phần tiêu đề “6. Sinh lý bệnh và cơ chế phát sinh chi tiết”

Bong dịch kính sau và lực kéo dịch kính-hoàng điểm

Phần tiêu đề “Bong dịch kính sau và lực kéo dịch kính-hoàng điểm”

Cơ chế bệnh sinh của lỗ hoàng điểm vô căn liên quan chặt chẽ đến giai đoạn đầu của bong dịch kính sau (PVD) 2). Trong quá trình lão hóa bình thường, PVD bắt đầu từ vùng quanh trung tâm và tiến triển qua 4 giai đoạn. Ở Giai đoạn 1, dịch kính bong ra ở vùng quanh trung tâm nhưng vẫn bám dính tại trung tâm, và cuối cùng ở Giai đoạn 4, bong ra khỏi đĩa thị giác để hoàn thành 2).

Lỗ hoàng điểm xảy ra như một tình trạng bệnh lý của PVD Giai đoạn 1. Còn tồn tại sự bám dính dịch kính bất thường tại trung tâm, và với lực kéo động học liên quan đến chuyển động mắt, xảy ra sự tách rời giữa hình nón tế bào Müller và tế bào cảm thụ ánh sáng 2). Trên OCT, quá trình này được quan sát dưới dạng nang trong võng mạc.

Nếu lực kéo trước-sau tiếp diễn, màng giới hạn trong (ILM) và màng giới hạn ngoài (ELM) bị phá vỡ, gây ra sự tách rời võng mạc (dehiscence) và dẫn đến lỗ toàn bộ chiều dày 2).

Cơ chế mà bóc tách ILM và chèn ép khí trong phẫu thuật dịch kính đóng lỗ vẫn chưa được hiểu đầy đủ. Sau bóc tách ILM giai đoạn đầu hậu phẫu, người ta biết rằng hoàng điểm dịch chuyển nhẹ về phía mũi và trung tâm dọc theo các bó sợi thần kinh. Sự di chuyển võng mạc này được cho là góp phần làm gần các mép lỗ.

Quá trình hình thành lỗ hoàng điểm phân lớp (LMH)

Phần tiêu đề “Quá trình hình thành lỗ hoàng điểm phân lớp (LMH)”

Các nghiên cứu OCT gần đây nhất quán xác định sự tham gia của lực kéo trong hình thành LMH. Trong nghiên cứu của Hsia và cộng sự (2023) trên 50 mắt cận thị nặng, lực kéo được xác định trong tất cả các quá trình hình thành LMH 9). Bốn quá trình hình thành liên quan đến lực kéo đã được xác định.

  • Loại 1: Bong (avulsion) mô trung tâm do lực kéo dịch kính-hoàng điểm. Tương ứng với dạng hình thành FTMH thất bại 9).
  • Loại 2: Vỡ thành trong của nang cạnh trung tâm do màng trước võng mạc hoặc bong võng mạc. Thường gặp nhất (64%) 9).
  • Loại 3: Mở nắp nang trung tâm do màng trước võng mạc hoặc lực kéo dịch kính 9).
  • Loại 4: Mỏng dần trung tâm do lực kéo liên tục của màng trước võng mạc mà không hình thành nang. Tất cả các trường hợp đều tiến triển thành FTMH và có tiên lượng xấu nhất 9).

Một số LMH được báo cáo có thể tự đóng. Catania và cộng sự (2024) báo cáo tự đóng ở 11/187 trường hợp loại thoái hóa (5,9%) và 10/200 trường hợp loại hỗn hợp (5,0%) 10). Thời gian đóng trung bình là 4 năm 10).

Ở nhóm đóng, tần suất xuất hiện bờ trong tăng phản âm (HIB) và đường tăng phản âm ở lớp đám rối ngoài (LHOP) cao hơn đáng kể so với nhóm ổn định 10). Những dấu hiệu này có thể phản ánh sự hoạt hóa phối hợp của vi đệm và tế bào Müller 10).

Sinh lý bệnh của lỗ hoàng điểm thứ phát

Phần tiêu đề “Sinh lý bệnh của lỗ hoàng điểm thứ phát”
  • Cận thị: Lực kéo ra ngoài do khối u màng bồ đào sau và bong hoàng điểm tham gia 1). Chỉ cắt dịch kính có thể không đủ, và kết hợp với đai hoàng điểm được xem xét.
  • Chấn thương: Biến dạng nhãn cầu và giãn võng mạc do chấn thương, cùng với sự bám dính chặt của dịch kính vào võng mạc ở người trẻ tuổi tham gia 14).
  • Do thuốc: Lỗ hoàng điểm do tamoxifen được cho là liên quan đến thoái hóa thần kinh của tế bào Müller 4). Đặc trưng bởi khuyết lớp ngoài, trong khi lớp trong thường được bảo tồn.
  • Hội chứng Alport: Xảy ra mất hoàn toàn màng giới hạn trong do đột biến collagen loại IV 7). Mất hoàn toàn màng giới hạn trong là yếu tố gây khó khăn cho phẫu thuật lỗ hoàng điểm.
  • Không do chấn thương ở trẻ em: Lực kéo do tăng sinh trước võng mạc có thể là nguyên nhân. Đã báo cáo một bé gái 9 tuổi đóng lỗ trong 1 tháng sau khi bóc màng giới hạn trong và chèn khí C₃F₈, thị lực cải thiện lên 20/40 sau 1 năm 8).

7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai (báo cáo giai đoạn nghiên cứu)

Phần tiêu đề “7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai (báo cáo giai đoạn nghiên cứu)”

Ocriplasmin (ocriplasmin) là một serine protease 27 kDa, có tác dụng phân hủy enzym sự kết dính giữa dịch kínhvõng mạc 1). Liều dùng là một mũi tiêm nội nhãn duy nhất 0,125 mcg/0,1 mL 2). Chỉ định giới hạn ở các trường hợp “VMT dai dẳng + iFTMH <400 μm + không có ERM2).

Trong thử nghiệm MIVI-TRUST, 28 ngày sau tiêm, giải phóng kết dính dịch kính-hoàng điểm xảy ra ở 26,5% nhóm ocriplasmin (so với 10,1% nhóm giả dược), và tỷ lệ đóng lỗ là 40,6% ở nhóm ocriplasmin (so với 10,6% nhóm giả dược). Trong phân tích gộp IPD của RCOphth (1.067 ca), tỷ lệ đóng iFTMH là 36,8% (nhóm chứng 9,3%, OR 6,1), cải thiện thị lực +5,97 chữ cái (nhóm chứng +3,33 chữ cái, chênh lệch +2,32 chữ cái) 2).

Tác dụng phụ bao gồm thay đổi điện võng mạc (giảm biên độ 40%, 81,3% hồi phục trong quá trình theo dõi), rối loạn sắc giác (4,5% so với nhóm chứng 0,6%), và bán trật thể thủy tinh 2). Trên thực tế lâm sàng, hiệu quả có xu hướng thấp hơn so với thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, và tỷ lệ áp dụng đang giảm 2).

Tiêm khí nội nhãn (Tiêu dịch kính bằng khí)

Phần tiêu đề “Tiêm khí nội nhãn (Tiêu dịch kính bằng khí)”

Trong thử nghiệm DRCR Retina Network Protocol AH, tiêm nội nhãn 0,3 mL C₃F₈ 100% được thực hiện trên các lỗ hoàng điểm nhỏ (trung vị 79 μm). Tỷ lệ đóng là 29% (KTC 95% 16-45%), nhưng rách và bong võng mạc xảy ra ở 12% (7/59 mắt, KTC 95% 6-23%), dẫn đến ngừng thử nghiệm 2). Chống chỉ định ở bệnh nhân có võng mạc ngoại vi yếu 2).

Đối với lỗ hoàng điểm khó điều trị hoặc tái phát, các ứng dụng vật liệu sinh học mới đang được thử nghiệm 1).

  • Màng ối người (human amniotic membrane): Được đặt như một giàn giáo bên trong lỗ để thúc đẩy sự di chuyển và tăng sinh của tế bào thần kinh đệm 1).
  • Ghép võng mạc tự thân toàn bộ chiều dày (ART): Ghép võng mạc từ vùng ngoại vi. Trong phân tích gộp của Hanai 2024, tỷ lệ đóng là 94% 1).
  • Tế bào gốc trung mô (MSC): Báo cáo đóng lỗ ở 6/7 trường hợp 1).
  • Yếu tố tăng trưởng thần kinh (NGF): Tỷ lệ đóng lỗ hoàng điểm 100%, phục hồi EZ/ELM cũng tốt hơn ở nhóm NGF 1).

Phát triển kỹ thuật bảo tồn và cấy ghép LHEP

Phần tiêu đề “Phát triển kỹ thuật bảo tồn và cấy ghép LHEP”

Phẫu thuật bảo tồn LHEP đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây. Kỹ thuật đặt vạt kép gồm ILM bóc tách và LHEP vào trong lỗ cũng đã được báo cáo 11). Cần có các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng tiến cứu trong tương lai 11).

Dấu ấn sinh học của đóng tự nhiên LMH

Phần tiêu đề “Dấu ấn sinh học của đóng tự nhiên LMH”

HIB và LHOP được phát hiện qua xử lý hình ảnh có thể là yếu tố dự báo đóng tự nhiên của LMH 10). Việc xác nhận các dấu ấn này trong các nghiên cứu tiến cứu được kỳ vọng trong tương lai.

Liệu pháp tái tạo võng mạc sử dụng tế bào gốc vẫn đang ở giai đoạn thử nghiệm 1). Ứng dụng của nó trong tái tạo tế bào cảm quang và phục hồi chức năng sau khi đóng lỗ hoàng điểm đang được kỳ vọng.


  1. Grieco G, Carla MM, Di Stefano G, Scampoli A, Governatori L, Tombolini B, et al. Updates on surgical and nonsurgical innovations for macular hole treatment. Surv Ophthalmol. 2025 Nov 12:S0039-6257(25)00215-2. doi:10.1016/j.survophthal.2025.11.008.
  2. Macular Hole Guidelines Group, The Royal College of Ophthalmologists. Idiopathic Full Thickness Macular Holes: Clinical Guideline. London: Royal College of Ophthalmologists; 2025. https://www.rcophth.ac.uk/resources-listing/idiopathic-full-thickness-macular-holes/
  3. Kim SJ, Lim JI, Bailey ST, Kovach JL, Vemulakonda GA, Ying GS, et al; American Academy of Ophthalmology Preferred Practice Pattern Retina/Vitreous Committee. Idiopathic Macular Hole Preferred Practice Pattern. Ophthalmology. 2025 Feb 7:S0161-6420(24)00785-1. PMID:39918525. doi:10.1016/j.ophtha.2024.12.021.
  4. Sohn A, Sanchez G, Mantopoulos D. Partial thickness subfoveal hole in a patient treated with tamoxifen: a case report and review of the literature. J Med Case Rep. 2022;16:471.
  5. American Academy of Ophthalmology. Idiopathic epiretinal membrane and vitreomacular traction preferred practice pattern. 2024.
  6. Song Y, Zhang Y, Si Y, et al. Pre- and postoperative OCT features and surgical outcomes of advanced retinitis pigmentosa with macular hole: case series and literature review. BMC Ophthalmol. 2024;24:370.
  7. Chaudhry SG, Liew G, Fung AT. Missing internal limiting membrane during macular hole repair in Alport syndrome. Case Rep Ophthalmol. 2021;12:320-323.
  8. Bou Said R, Kraker JA, Trejo-Lopez J, et al. Pediatric macular hole associated with vitreoretinal traction on epiretinal lesions: a case report and literature review. Retinal Cases Brief Reports. 2025;19:730-735.
  9. Hsia Y, Lee CY, Ho TC, Yang CH, Yang CM. The development and evolution of lamellar macular hole in highly myopic eyes. Eye (Lond). 2023;37:1170-1177.
  10. Catania F, Romano MR, Crincoli E, et al. Phenomenology of spontaneous closure in degenerative and mixed type lamellar macular hole. Eye (Lond). 2024;38:315-320.
  11. Yu Y, Wang YY, Tian M, Yu XH. Surgical outcomes of lamellar macular hole eyes with or without preservation of lamellar hole-associated epiretinal proliferation technique: a meta-analysis. Retina. 2025;45:1996-2002.
  12. Hubschman JP, Govetto A, Spaide RF, et al. Optical coherence tomography-based consensus definition for lamellar macular hole. Br J Ophthalmol. 2020;104:1741-1747.
  13. Govetto A, Dacquay Y, Farajzadeh M, et al. Lamellar macular hole: two distinct clinical entities? Am J Ophthalmol. 2016;164:99-109.
  14. Liu W, Grzybowski A. Current management of traumatic macular holes. J Ophthalmol. 2017;2017:1748135. PMID:28250720. PMCID:PMC5292388. doi:10.1155/2017/1748135.
  15. Zhou Q, Feng H, Lv H, et al. Vitrectomy vs. Spontaneous Closure for Traumatic Macular Hole: A Systematic Review and Meta-Analysis. Front Med. 2021;8:735968.
  16. Szeto SKH, Lam JTW, Yu AHY, et al. Macular hole closure by internal limiting membrane flap without gas tamponade versus conventional surgery: a comparative study. Ophthalmol Retina. 2025 (in press).

Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.