Vỡ hắc mạc (choroidal rupture) là một bệnh trong đó xảy ra đứt ở lớp mao mạch hắc mạc, màng Bruch và biểu mô sắc tố võng mạc (RPE) do chấn thương cùn không xuyên thủng (kín) ở mắt. Củng mạc chịu được lực kéo, nhưng màng Bruch thiếu đàn hồi bị đứt.
Trong một nghiên cứu hồi cứu trên 101 người, tuổi trung bình của bệnh nhân là 36 tuổi, 76% là nam giới. Chấn thương mắt kín phổ biến gấp ba lần chấn thương hở.
Phân bố vị trí vỡ được báo cáo: hoàng điểm trung tâm 30%, hoàng điểm ngoài trung tâm 45%, ngoài hoàng điểm 25%.
QVỡ hắc mạc có thể xảy ra mà không có chấn thương không?
A
Thông thường là do chấn thương cùn ở mắt. Tuy nhiên, nếu có các bệnh toàn thân làm tăng tính dễ vỡ của màng Bruch (như giả u vàng đàn hồi, hội chứng Ehlers-Danlos, vân mạch võng mạc), vỡ có thể xảy ra ngay cả với chấn thương nhẹ.
Barth T, et al. Intravitreal anti-VEGF treatment for choroidal neovascularization secondary to traumatic choroidal rupture. BMC Ophthalmol. 2019. Figure 1. PMCID: PMC6878647. License: CC BY.
Mắt trái của nam giới 19 tuổi, cho thấy vỡ hắc mạc hình vòng cung băng qua phía trên đĩa thị, tân mạch hắc mạc (CNV) gần hoàng điểm và xuất huyết dưới võng mạc. Tương ứng với vỡ hắc mạc được thảo luận trong phần “2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”.
Giảm thị lực: Xảy ra khi đường vỡ lan đến hố trung tâm. Xuất huyết cũng góp phần.
Rối loạn thị giác (metamorphopsia): Do xuất huyết hoàng điểm hoặc vỡ đến hoàng điểm.
Không triệu chứng: Nếu vỡ chỉ giới hạn ở vùng ngoại vi, có thể không có triệu chứng chủ quan.
Trong vài ngày đến vài tuần sau chấn thương, đường vỡ thường bị che khuất bởi xuất huyết, gây khó khăn khi xác nhận trên soi đáy mắt. Chỉ sau khi xuất huyết được hấp thu mới có được dấu hiệu rõ ràng.
QCó thể không phát hiện vỡ hắc mạc ngay sau chấn thương không?
A
Có. Ngay sau chấn thương, xuất huyết hắc mạc và dưới võng mạc thường che phủ đường vỡ, khiến không thể thấy trên soi đáy mắt. Sau vài ngày đến vài tuần, khi xuất huyết được hấp thu, nó có thể được nhìn thấy dưới dạng các vệt trắng đến trắng vàng.
Trên OCT, ghi nhận đứt các lớp trong của hắc mạcbao gồm màng Bruch, mất tính liên tục của biểu mô sắc tố võng mạc (RPE). Lớp thần kinh cảm giác võng mạc nằm phía trên vị trí đứt thường được bảo tồn.
Hầu như tất cả các trường hợp vỡ hắc mạc đều do chấn thương mắt đụng dập không xuyên thủng. Các bệnh toàn thân sau đây làm tăng tính dễ vỡ của màng Bruch, khiến nó dễ bị vỡ ngay cả với chấn thương nhẹ.
Trong các bệnh sau đây, cần chú ý đến tính dễ vỡ của màng Bruch.
Tên bệnh
Dấu hiệu đáy mắt đặc trưng
U vàng giả đàn hồi (Pseudoxanthoma elasticum)
Vân mạch / đốm vàng dưới võng mạc
Hội chứng Ehlers-Danlos
Mô liên kết yếu, vân mạch máu
Vân mạch máu võng mạc
Các đường sẫm màu đỏ tỏa ra từ gai thị
QCó cách nào để ngăn ngừa vỡ hắc mạc khi chơi thể thao không?
A
Đeo kính bảo hộ polycarbonate (kính bảo vệ mắt thể thao) có hiệu quả. Polycarbonate có khả năng chống va đập cao hơn thấu kính nhựa thông thường và ngăn ngừa chấn thương trực tiếp cho mắt.
Chẩn đoán dựa trên tiền sử chấn thương mắt và các dấu hiệu đặc trưng trên đáy mắt. Ngay sau chấn thương, việc xác nhận khó khăn do xuất huyết, vì vậy cần tái khám sau khi xuất huyết được hấp thụ.
Khám đáy mắt dưới giãn đồng tử: Xác nhận đường trắng đến trắng vàng hình lưỡi liềm. Kiểm tra lại sau khi xuất huyết được hấp thu ngay sau chấn thương.
Chụp mạch huỳnh quang (FA): Vị trí vỡ cho thấy giảm huỳnh quang giai đoạn sớm và nhuộm giai đoạn muộn. Nếu có CNV kèm theo, tăng huỳnh quang tăng lên, do đó xét nghiệm này rất cần thiết để phát hiện CNV.
Huỳnh quang tự phát đáy mắt (FAF): Vùng khuyết RPE cho thấy giảm huỳnh quang, trong khi rìa vỡ cho thấy tăng huỳnh quang. Hữu ích để đánh giá phạm vi vỡ.
OCT: Có thể xác nhận mất tính liên tục của RPE và mỏng lớp mạch mạc bên trong. Cũng hữu ích để đánh giá hoạt động của CNV.
Siêu âm nhãn cầu: Xuất hiện dưới dạng khối nhô hình vòm của xuất huyết hắc mạc. Được sử dụng như chẩn đoán hỗ trợ khi khó quan sát đáy mắt.
Không có thuốc hoặc thủ thuật phẫu thuật nào có thể chữa lành vết rách hắc mạc. Nguyên tắc cơ bản là theo dõi, chờ xuất huyết hắc mạc tự tiêu (vài tuần đến vài tháng).
Tân mạch hắc mạc xảy ra ở khoảng 5-10% các trường hợp rách hắc mạc sau chấn thương đụng dập, và tuổi cao, rách liên quan đến hoàng điểm, chiều dài vết rách (đặc biệt >4000 μm) đã được báo cáo là các yếu tố nguy cơ độc lập. Thời gian trung bình từ chấn thương đến chẩn đoán CNV là khoảng 5,7 tháng, và hầu hết xảy ra trong vòng 1 năm sau chấn thương. CNV do chấn thương xảy ra dưới dạng type 2 và có thể kèm theo bong biểu mô sắc tố huyết thanh hoặc xuất huyết. Khi xác nhận có tân mạch hắc mạc, tiến hành điều trị sau.
Chỉ theo dõi: Nếu CNV nhỏ và xa hố trung tâm, có thể lựa chọn theo dõi.
QNếu CNV xảy ra, điều trị có cải thiện không?
A
Tiêm nội nhãnthuốc kháng VEGF là lựa chọn đầu tiên, và CNV do chấn thương có xu hướng được kiểm soát với số lần tiêm ít hơn (trung bình 4,2 lần) so với thoái hóa điểm vàng do tuổi tác. Tuy nhiên, nếu đã có tổn thương ở hố trung tâm, việc phục hồi thị lực hoàn toàn có thể khó khăn.
Khi nhãn cầu bị nén từ phía trước, mô xung quanh đĩa thị giác được cố định chắc chắn bị đẩy về phía sau, gây ra ứng suất vòng quanh đĩa. Hắc mạc tương đối kém đàn hồi, và do tác động cơ học này, thường xảy ra vết rách hình vòng ở cực sau, đặc biệt quanh đĩa thị giác. Phản ứng của từng mô như sau:
Củng mạc: Độ bền kéo cao, chịu được lực bên ngoài.
Võng mạc: Đàn hồi, có thể thích ứng với biến dạng.
Màng Bruch: Do không đủ độ bền kéo và độ đàn hồi, bị đứt do giãn quá mức nhanh chóng.
Vỡ Trực Tiếp
Vị trí xảy ra: Ở vùng đáy mắt ngoại vi xung quanh vị trí chịu tác động trực tiếp (chủ yếu là phía thái dương).
Hình thái: Khe nứt tuyến tính song song với ora serrata.
Tần suất: Ít gặp hơn vỡ gián tiếp.
Vỡ Gián Tiếp
Vị trí xảy ra: Xảy ra ở cực sau do hiệu ứng đối chấn (countercoup). Phía đối diện với vị trí tác động.
Hình thái: Các vệt hình cung đến hình lưỡi liềm đồng tâm với đĩa thị.
Ament CS, Zacks DN, Lane AM, Krzystolik M, D’Amico DJ, Mukai S, Young LH, Loewenstein J, Arroyo J, Miller JW. Predictors of visual outcome and choroidal neovascular membrane formation after traumatic choroidal rupture. Arch Ophthalmol. 2006;124(7):957-966. PMID: 16832018
Lupidi M, Muzi A, Castellucci G, Kalra G, Cardillo Piccolino F, Chhablani J, Cagini C. The choroidal rupture: current concepts and insights. Surv Ophthalmol. 2021;66(5):761-770. PMID: 33545177
Singh S, Saxena S. Unraveling the perplexities of choroidal rupture. Indian J Ophthalmol. 2023;71(6):2326-2327. PMID: 37322692 / PMCID: PMC10417958
Raman SV, Desai UR, Anderson S, Samuel MA. Visual prognosis in patients with traumatic choroidal rupture. Can J Ophthalmol. 2004;39(3):260-266. PMID: 15180143
Arthur A, Rajasekaran NM, Kuriakose T. A reappraisal of indirect choroidal rupture using swept-source optical coherence tomography in-vivo pathology images in patients with blunt eye trauma. Indian J Ophthalmol. 2020;68(11):2469-2473. PMID: 32971624 / PMCID: PMC7728025
Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.
Đã sao chép bài viết vào clipboard
Mở một trợ lý AI bên dưới và dán nội dung đã sao chép vào ô chat.