Viêm kết mạc COVID là một trong những triệu chứng ở mắt liên quan đến nhiễm virus corona 2 gây hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS-CoV-2). Đại dịch COVID-19 bắt đầu ở Vũ Hán, Trung Quốc vào tháng 12 năm 2019. Ở các bệnh do coronavirus trước đây như SARS và MERS, không có báo cáo về viêm kết mạc, nhưng với SARS-CoV-2, sự xuất hiện của viêm kết mạc đã được xác nhận.
SARS-CoV-2 thuộc về betacoronavirus trong họ Coronaviridae. Đây là virus RNA sợi đơn có vỏ bọc, sử dụng thụ thể men chuyển angiotensin 2 (ACE2) để xâm nhập vào tế bào. Thụ thể ACE2 cũng được biểu hiện ở kết mạc và giác mạc, nhưng mật độ trong mô mắt tương đối thấp. Việc phát hiện virus trong nước mắt và dịch tiết kết mạc đã được báo cáo, cho thấy khả năng lây truyền qua mắt 1). Tuy nhiên, một số báo cáo cho rằng nguy cơ lây truyền qua dịch tiết mắt là thấp 1).
QViêm kết mạc COVID có thể là triệu chứng khởi phát của COVID-19 không?
A
Đã có báo cáo về các trường hợp viêm kết mạc là dấu hiệu duy nhất của COVID-19. Viêm kết mạc có thể xuất hiện trước các triệu chứng hô hấp hoặc sốt, và trong thời kỳ đại dịch, cần xem xét khả năng COVID-19 ở bệnh nhân viêm kết mạc. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy viêm kết mạc liên quan đến SARS-CoV-2 có thể không phổ biến ở những bệnh nhân chỉ bị viêm kết mạc.
Phản ứng kết mạc dạng nang trong viêm kết mạc COVID
Z, B. Conjunctivitis as sole symptom of COVID-19: A case report and review of literature. Eur J Ophthalmol. 2020 Jul 24:1120672120946287. Figure 1. PMCID: PMC7383095. License: CC BY.
Các thay đổi dạng nang ở kết mạc vùng cùng đồ trên và dưới, kèm phù kết mạc nhẹ và tiết dịch huyết thanh. Hình ảnh này cho thấy các dấu hiệu kết mạc không đặc hiệu nhưng có thể gặp trên lâm sàng trong viêm kết mạc COVID.
Chảy nước mắt, cảm giác dị vật và đỏ mắt là các triệu chứng chủ quan chính. Một số trường hợp có thể không có triệu chứng. Đã có báo cáo về các trường hợp viêm kết mạc là triệu chứng duy nhất của COVID-19. Viêm kết mạc cũng có thể xảy ra trong quá trình nằm viện.
Hạch bạch huyết: Có thể kèm theo nổi hạch trước tai đau khi ấn.
Dấu hiệu Toàn thân
Triệu chứng hô hấp: Sốt, ho và khó thở là các dấu hiệu phổ biến.
Triệu chứng tiêu hóa: Tiêu chảy, buồn nôn và nôn cũng được báo cáo.
Triệu chứng thần kinh: Mất vị giác và khứu giác mới xuất hiện là đặc trưng.
Khác: Kèm theo đau cơ, đau đầu, đau ngực và đau họng.
Trên thực nghiệm động vật cũng cho thấy viêm màng bồ đào trước, viêm võng mạc, viêm mạch và viêm thần kinh thị giác. Ở người, đã mô tả các bất thường vi mạch nhẹ ở lớp tế bào hạch và lớp đám rối trong của võng mạc.
Đường lây truyền của SARS-CoV-2 chủ yếu qua giọt bắn và tiếp xúc trực tiếp với niêm mạc. Các đường lây nhiễm đến kết mạcbao gồm: tiêm trực tiếp mô mắt qua giọt bắn từ người nhiễm, lây lan từ vòm họng qua ống lệ mũi và nhiễm từ tuyến lệ. Tế bào bề mặt mắt được báo cáo là nhạy cảm với nhiễm SARS-CoV-2 1).
Các yếu tố nguy cơ gây nặng của COVID-19 bao gồm tuổi cao, bệnh phổi mạn tính, suy giảm miễn dịch, đái tháo đường, béo phì, bệnh thận mạn tính và bệnh gan. Nhân viên y tế có nguy cơ nhiễm bệnh nghề nghiệp cao. Vì khám mắt được thực hiện ở khoảng cách gần với bệnh nhân, bác sĩ nhãn khoa cần đặc biệt thận trọng 1).
Thời gian ủ bệnh trung bình của COVID-19 là 5-7 ngày. Khoảng 97% bệnh nhân xuất hiện triệu chứng trong vòng 11,5 ngày sau phơi nhiễm, đây là cơ sở cho khuyến cáo cách ly 14 ngày. Thời gian thải virus trung bình là 20 ngày, với báo cáo lên đến 37 ngày.
Chẩn đoán xác định dựa trên xét nghiệm RT-PCR từ mẫu ngoáy kết mạc. Tuy nhiên, RT-PCR có độ đặc hiệu cao nhưng độ nhạy thấp. Kết quả âm tính giả có thể xảy ra tùy thuộc vào thời điểm lấy mẫu, và việc sử dụng thuốc tê tại chỗ cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả. Cần có hai kết quả RT-PCR âm tính liên tiếp để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
Xét nghiệm kháng thể SARS-CoV-2 trong huyết thanh cũng hữu ích cho chẩn đoán. IgM dương tính và IgG âm tính cho thấy nhiễm trùng đang hoạt động. IgM và IgG đều dương tính cho thấy nhiễm trùng gần đây. IgM âm tính và IgG dương tính cho thấy nhiễm trùng trong quá khứ. Tuy nhiên, chỉ IgG dương tính không có nghĩa là đã có miễn dịch.
Ngứa là triệu chứng chính. Phản ứng nhú chiếm ưu thế
Các bệnh cần chẩn đoán phân biệt khác bao gồm viêm giác mạc do herpes simplex, viêm màng bồ đào trước, hội chứng khô mắt và bệnh lý giác mạc do lộ. Vì có những trường hợp viêm kết mạc COVID không kèm triệu chứng toàn thân, trong thời kỳ đại dịch cần xem xét khả năng mắc COVID-19 ở tất cả bệnh nhân có biểu hiện đỏ mắt.
Viêm kết mạc COVID tự khỏi mà không để lại di chứng. Cho đến nay chưa có báo cáo về biến chứng mắt dài hạn đặc hiệu. Tuy nhiên, nếu tiến triển thành viêm kết mạc giả mạc hoặc viêm giác mạc, có nguy cơ sẹo kết mạc và đục giác mạc, cần theo dõi.
Sinh lý bệnh của viêm kết mạc liên quan đến COVID-19 chưa được hiểu đầy đủ. Dựa trên mô hình SARS-CoV, bệnh được cho là tiến triển qua ba giai đoạn: nhân lên của virus, hoạt động miễn dịch quá mức và phá hủy mô.
SARS-CoV-2 xâm nhập vào tế bào biểu mô kết mạc qua thụ thể ACE2. Giống như mô phổi, tế bào kết mạc chết do ly giải qua trung gian virus hoặc phản ứng miễn dịch. Kết quả của chết tế bào, virus được giải phóng vào nước mắt.
Mật độ thụ thể thấp ở mắt được cho là một trong những lý do khiến tỷ lệ viêm kết mạc thấp so với tỷ lệ mắc COVID-19 nói chung. Phân tích phát sinh loài cho thấy SARS-CoV-2 có hai loại khác nhau: loại L và loại S, với hơn 100 chủng đã được xác nhận. Vùng liên kết thụ thể tương tự như SARS-CoV.
Qua kinh nghiệm đại dịch COVID-19, tầm quan trọng của các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm đối với viêm kết mạc do virus đã được khẳng định lại. Sự hiểu biết về đường lây truyền virus đường hô hấp qua bề mặt mắt dự kiến sẽ ngày càng sâu sắc trong tương lai.