Khám đáy mắt
Khám đèn khe: Xác nhận sự hiện diện của mạch máu dạng vòng xoắn trên đĩa thị.
RAPD (Khiếm khuyết đồng tử hướng tâm tương đối): Tương quan với mức độ thiếu máu cục bộ, hữu ích trong xác định loại thiếu máu cục bộ của CRVO 1).
Mạch shunt thị-miền thể mi (optociliary shunt vessels) là các mạch phụ hình thành trên đĩa thị giác. Chúng kết nối hệ thống tĩnh mạch võng mạc và hệ thống tĩnh mạch hắc mạc (tĩnh mạch hắc mạc quanh đĩa thị), chuyển hướng máu từ võng mạc đến các tĩnh mạch xoáy và hệ thống tĩnh mạch mắt. Còn được gọi là mạch shunt nhú-miền thể mi ngắn.
Mạch shunt bẩm sinh cực kỳ hiếm, phần lớn là mắc phải. Chúng phát sinh do sự giãn nở và phát triển của các kênh mao mạch nối có sẵn do ứ trệ tĩnh mạch võng mạc mạn tính.
Mạch shunt bẩm sinh có tồn tại nhưng cực kỳ hiếm. Phần lớn là mắc phải và hình thành do hậu quả của các bệnh nền gây ứ trệ tĩnh mạch võng mạc mạn tính.
Bản thân các mạch shunt không gây ra triệu chứng. Tất cả các triệu chứng bệnh nhân phàn nàn đều do bệnh nền.
Được quan sát dưới dạng các vòng mạch máu ngoằn ngoèo trên đĩa thị giác. Số lượng nhìn thấy từ 1 đến vài vòng, xuất phát từ rìa đĩa thị và ngoằn ngoèo.
Phân biệt với tân mạch (NVD) là thách thức lâm sàng quan trọng nhất. Được phân biệt với tân mạch đĩa thị bằng các đặc điểm sau.
| Dấu hiệu | Mạch shunt | Tân mạch đĩa thị (Tân mạch) |
|---|---|---|
| Đường đi | Vòng và ngoằn ngoèo | Mạng lưới mạch máu nhỏ |
| Đường kính | Tương đối lớn | Nhỏ và không đều |
| Thoát thuốc trên FA | Không | Có (rõ rệt) |
Trong u màng não bao thị thần kinh, xuất hiện tam chứng: mạch shunt, giảm thị lực và teo thị thần kinh (dấu hiệu Hoyt-Spencer). Mạch shunt được tìm thấy trong khoảng 60% trường hợp u màng não bao thị thần kinh.
Phương pháp đáng tin cậy nhất để phân biệt là chụp mạch huỳnh quang (FA). Mạch shunt không cho thấy sự rò rỉ thuốc nhuộm huỳnh quang, trong khi tân mạch đĩa thị cho thấy sự rò rỉ rõ rệt. Ngoài ra, mạch shunt có đường kính lớn hơn tân mạch đĩa thị và có đường đi dạng vòng.
Để hình thành mạch shunt, tình trạng suy giảm lưu lượng tĩnh mạch võng mạc mạn tính là điều kiện cần thiết. Các bệnh nguyên nhân như sau:
Các bệnh gây ứ trệ tĩnh mạch mạn tính ở đĩa thị là nguyên nhân.
| Tần suất | Bệnh nguyên nhân |
|---|---|
| Thường gặp | CRVO, u màng não bao thị thần kinh |
| Hiếm gặp | Glôcôm mạn tính, drusen đĩa thị, u thần kinh đệm thị giác, u não giả |
CRVO (Tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc) là nguyên nhân phổ biến nhất. Bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc (RVO) là bệnh mạch máu võng mạc phổ biến thứ hai sau bệnh võng mạc tiểu đường, với tăng huyết áp, tiểu đường và glôcôm là các yếu tố nguy cơ chính 1). Tân mạch mống mắt xảy ra ở 25% bệnh nhân CRVO 1).
U màng não bao thị thần kinh chiếm 1-2% tổng số u màng não và khoảng 10% tổng số u hốc mắt. U màng não phát sinh ở vùng sau nhãn cầu chèn ép tĩnh mạch trung tâm võng mạc, gây ứ trệ tĩnh mạch mạn tính.
Chẩn đoán mạch shunt dựa trên khám đáy mắt, và được xác nhận, đánh giá bằng nhiều xét nghiệm hình ảnh.
Khám đáy mắt
Khám đèn khe: Xác nhận sự hiện diện của mạch máu dạng vòng xoắn trên đĩa thị.
RAPD (Khiếm khuyết đồng tử hướng tâm tương đối): Tương quan với mức độ thiếu máu cục bộ, hữu ích trong xác định loại thiếu máu cục bộ của CRVO 1).
Chụp mạch FA/ICG
Chụp mạch huỳnh quang (FA): Xác nhận không có rò rỉ thuốc nhuộm trong mạch shunt. Xét nghiệm cần thiết để phân biệt với tân mạch đĩa thị.
Chụp mạch ICG: Có thể hình dung mô hình dòng chảy từ tuần hoàn hắc mạc đến tĩnh mạch xoáy và tĩnh mạch mắt.
OCTA/Xét nghiệm hình ảnh
OCTA (Chụp mạch cắt lớp quang học): Có thể xác nhận lưu lượng máu trong mạch shunt một cách không xâm lấn.
CT/MRI: Trong u màng não bao thị, dấu hiệu tram-track (dày bao thị có vôi hóa) là dấu hiệu đặc trưng.
Bản thân mạch shunt không cần điều trị. Chúng hoạt động như các đường dẫn lưu bảo vệ, việc loại bỏ hoặc tắc chúng là chống chỉ định. Điều trị nhắm vào bệnh nền.
Điều trị CRVO
Liệu pháp kháng VEGF (lựa chọn đầu tiên): Ranibizumab, aflibercept, faricimab và bevacizumab được sử dụng. Tiêm nội nhãn lặp lại là cơ bản1).
Steroid: Triamcinolone và cấy ghép dexamethasone cũng được sử dụng, nhưng có nguy cơ tăng nhãn áp và đục thủy tinh thể, là lựa chọn thứ hai1).
Điều trị U Màng Não
Xạ trị định vị: Là phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho u màng não bao thần kinh thị giác. Sự thoái triển của mạch shunt đã được báo cáo sau điều trị.
Theo dõi: Trong các trường hợp tiến triển chậm, có thể chọn theo dõi định kỳ.
Tăng Áp Lực Nội Sọ
Mở cửa sổ bao thần kinh thị giác: Trong mạch shunt liên quan đến u giả não (tăng áp lực nội sọ vô căn), sự thoái triển đã được báo cáo sau phẫu thuật mở cửa sổ bao thần kinh thị giác.
Điều trị nội khoa: Quản lý cũng được thực hiện bằng thuốc hạ áp lực nội sọ như acetazolamide.
Bản thân mạch shunt không cần điều trị. Chúng đóng vai trò bảo vệ bằng cách chuyển hướng máu tĩnh mạch từ võng mạc đến màng mạch, và việc chặn chúng có hại. Trọng tâm quản lý luôn là điều trị bệnh nền.
Trong trạng thái sinh lý, tĩnh mạch trung tâm võng mạc thu thập máu tĩnh mạch từ võng mạc và dẫn lưu qua tĩnh mạch mắt trên đến xoang hang. Cung cấp máu cho gai thị được thực hiện bởi các động mạch mi ngắn sau, tưới máu vùng trước lamina cribrosa2).
Khi tĩnh mạch trung tâm võng mạc bị tắc nghẽn hoặc chèn ép mãn tính, các đường dẫn lưu phụ sẽ phát triển giữa các tĩnh mạch màng mạch quanh gai thị ở vùng trước tấm sàng.
U màng não phát triển ở vùng sau nhãn cầu chèn ép tĩnh mạch trung tâm võng mạc từ bên ngoài, gây ứ trệ tĩnh mạch mãn tính. Ngay cả khi teo thị thần kinh tiến triển, một mức thị lực nhất định vẫn có thể được duy trì, và điều này được cho là nhờ cải thiện dẫn lưu tĩnh mạch qua các mạch shunt. Sau CRVO, cải thiện dẫn lưu tĩnh mạch qua các mạch phụ cũng góp phần phục hồi thị lực 1).
Đã có báo cáo về các trường hợp mạch shunt thoái triển sau khi điều trị bệnh nền. Sự thoái triển được quan sát thấy sau xạ trị định vị cho u màng não bao thị thần kinh, hoặc sau phẫu thuật mở cửa sổ bao thị thần kinh cho u não giả. Tuy nhiên, không thể mong đợi sự thoái triển ở tất cả các trường hợp.
Hiệu quả của liệu pháp kháng VEGF đối với CRVO đã được chứng minh trong nhiều thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng quy mô lớn.
Trong các thử nghiệm COPERNICUS và GALILEO, 56% bệnh nhân được tiêm aflibercept nội nhãn đạt được cải thiện thị lực từ 15 chữ cái trở lên sau 24 tuần (so với 12% ở nhóm giả dược) 1).
Trong thử nghiệm CRUISE, nhóm dùng ranibizumab 0,5 mg cho thấy cải thiện thị lực trung bình 14,9 chữ cái so với ban đầu sau 6 tháng, vượt trội đáng kể so với nhóm tiêm giả (cải thiện 0,8 chữ cái) 1). Đây là bằng chứng quan trọng ủng hộ hiệu quả của liệu pháp kháng VEGF đối với CRVO.
Dữ liệu dài hạn của BVOS cho thấy 37% bệnh nhân CRVO cải thiện thị lực tự nhiên từ 2 dòng trở lên, 34% đạt thị lực cuối cùng 20/40 hoặc tốt hơn, và 23% duy trì ở mức 20/200 hoặc kém hơn 1).
Vẫn còn tranh luận về việc liệu sự hiện diện của mạch máu shunt có dự đoán tiên lượng CRVO hay không. Các trường hợp có thể hình thành mạch máu shunt được cho là có tiên lượng tương đối tốt hơn do dẫn lưu tĩnh mạch được duy trì ở một mức độ nhất định, nhưng bằng chứng xác lập vẫn chưa có.