Tắc Tĩnh Mạch Võng Mạc Nhánh (Loại Nhánh)
Tắc tĩnh mạch võng mạc nhánh: Xảy ra tắc ở một nhánh của tĩnh mạch võng mạc. Phổ biến nhất, với tỷ lệ hiện mắc khoảng 2,0%. Tắc thường xảy ra tại điểm bắt chéo động-tĩnh mạch.
Tắc tĩnh mạch võng mạc (RVO) là bệnh trong đó xảy ra tắc tĩnh mạch võng mạc, làm cản trở lưu lượng máu võng mạc. Được biết đến là bệnh mạch máu võng mạc phổ biến thứ hai sau bệnh võng mạc tiểu đường1).
Dựa trên vị trí tắc, được phân loại thành ba loại sau1):
Tắc Tĩnh Mạch Võng Mạc Nhánh (Loại Nhánh)
Tắc tĩnh mạch võng mạc nhánh: Xảy ra tắc ở một nhánh của tĩnh mạch võng mạc. Phổ biến nhất, với tỷ lệ hiện mắc khoảng 2,0%. Tắc thường xảy ra tại điểm bắt chéo động-tĩnh mạch.
Tắc Tĩnh Mạch Võng Mạc Trung Tâm (Loại Trung Tâm)
Tắc tĩnh mạch võng mạc trung tâm: Xảy ra tắc tĩnh mạch trung tâm tại đầu dây thần kinh thị giác. Tỷ lệ hiện mắc khoảng 0,2%. Có xu hướng nặng hơn tắc tĩnh mạch võng mạc nhánh.
HRVO (bán phần)
Tắc tĩnh mạch võng mạc bán phần: Tắc tĩnh mạch ở nửa trên hoặc nửa dưới của võng mạc. Biểu hiện tình trạng trung gian giữa tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc và tắc nhánh tĩnh mạch võng mạc.
Đỉnh điểm khởi phát là ở độ tuổi 60-70 1). Ở các trường hợp khởi phát trẻ, việc tìm kiếm các yếu tố tố chất toàn thân (như rối loạn đông máu) là quan trọng.
Thông thường là một mắt, nhưng có nguy cơ xảy ra ở mắt đối diện. Đặc biệt trong tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc, quản lý các yếu tố nguy cơ toàn thân giúp phòng ngừa ở mắt đối diện.
Dưới đây là các dấu hiệu chính trong giai đoạn cấp 1).
Có, việc khám càng sớm càng tốt là rất quan trọng. Điều trị sớm phù hoàng điểm ảnh hưởng đến tiên lượng thị lực. Ngoài ra, các biến chứng nghiêm trọng như tân mạch mống mắt có thể tiến triển không triệu chứng, do đó cần theo dõi định kỳ.
Các yếu tố nguy cơ chính của tắc tĩnh mạch võng mạc như sau 1):
58% bệnh nhân tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc dưới 50 tuổi có các yếu tố nguy cơ không điển hình (như rối loạn đông máu, bệnh tự miễn) ngoài tăng huyết áp và đái tháo đường 1). Ở bệnh lupus ban đỏ hệ thống (SLE), nguy cơ tắc tĩnh mạch võng mạc tăng gấp 3,5 lần 1).
Bệnh nhân tắc tĩnh mạch võng mạc có tỷ lệ biến cố tim mạch và tử vong chung cao hơn so với dân số chung 1). Đây là một trong những lý do tại sao quản lý nội khoa sau khởi phát là quan trọng.
Khi khám, phản xạ đồng tử rất quan trọng; trong tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc, có thể thấy khiếm khuyết đồng tử hướng tâm tương đối (RAPD)1).
Các phương pháp xét nghiệm chính được trình bày dưới đây.
| Xét nghiệm | Mục đích | Điểm chính |
|---|---|---|
| OCT | Định lượng phù hoàng điểm | Cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả điều trị |
| Chụp mạch huỳnh quang (FA) | Đánh giá vùng thiếu máu | Nếu diện tích không tưới máu ≥10 PD, chỉ định PRP1) |
| OCTA | Đánh giá lưu lượng máu và mao mạch | Có thể thực hiện không xâm lấn1) |
Liệu pháp kháng VEGF
Điều trị đầu tay: Phương pháp quan trọng nhất đối với phù hoàng điểm. Thực hiện bằng tiêm nội nhãn.
Thuốc chỉ định: Ranibizumab, Aflibercept, Faricimab (tất cả đều được bảo hiểm y tế chi trả).
Liệu pháp Steroid
Điều trị thứ hai: Được xem xét khi đáp ứng với kháng VEGF không đầy đủ.
Thuốc: Tiêm triamcinolone nội nhãn, hoặc cấy ghép dexamethasone nội nhãn (Ozurdex).
Quang đông Laser
Phù hoàng điểm do tắc nhánh tĩnh mạch võng mạc: Quang đông dạng lưới trong BVOS đã cho thấy hiệu quả. Hiện nay, kháng VEGF là phương pháp chính.
Tân mạch và thiếu máu cục bộ: PRP (quang đông toàn bộ võng mạc) được chỉ định cho tân mạch mống mắt trong tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc và HRVO 1).
Đây là phương pháp điều trị tiêu chuẩn hiện tại cho phù hoàng điểm 1). Các thuốc có sẵn như sau:
Mức độ đáp ứng điều trị khác nhau rất nhiều giữa các cá nhân tùy thuộc vào mức độ phù hoàng điểm và đáp ứng điều trị. Ban đầu, bắt đầu với tiêm hàng tháng, sau đó sử dụng phương pháp Treat-and-Extend, trong đó khoảng cách giữa các lần tiêm được kéo dài khi phù cải thiện. Với faricimab, khoảng cách có thể kéo dài đến 16 tuần.
Cơ chế tắc tĩnh mạch võng mạc liên quan đến các yếu tố giải phẫu, huyết học và thành mạch 1).
Tắc tại chỗ bắt chéo động-tĩnh mạch (Tắc nhánh tĩnh mạch võng mạc): Động mạch và tĩnh mạch võng mạc chia sẻ lớp áo ngoài (adventitia) tại chỗ bắt chéo. Xơ vữa động mạch làm dày thành động mạch, chèn ép tĩnh mạch từ bên ngoài, gây ra dòng chảy rối, tổn thương nội mô và hình thành huyết khối 1).
Tắc tại đầu thần kinh thị giác (Tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc): Người ta cho rằng lực cắt và thay đổi thành mạch tại lamina cribrosa gây ra tắc.
Sau khi tắc, xảy ra các quá trình sau:
Với sự phổ biến của chụp ảnh đáy mắt góc rộng và chụp mạch huỳnh quang góc rộng (UWFA), việc đánh giá các vùng không tưới máu võng mạc ngoại vi đã trở nên chính xác hơn 1). Điều này được kỳ vọng sẽ cải thiện độ chính xác trong việc xác định chỉ định điều trị.
OCTA (chụp mạch OCT) cho phép đánh giá lưu lượng máu võng mạc mà không cần chất cản quang 1). Với sự cải thiện độ phân giải, việc đánh giá định lượng các vùng không tưới máu mao mạch và mật độ mao mạch hoàng điểm đang trở nên khả thi. Vai trò của nó như một chỉ số khách quan về hiệu quả điều trị kháng VEGF được kỳ vọng.
Faricimab là một kháng thể đặc hiệu kép ức chế đồng thời VEGF-A và Ang-2. Ang-2 làm giảm tính ổn định của mạch máu và phối hợp với VEGF thúc đẩy tính thấm mạch máu và hình thành tân mạch. Ức chế Ang-2 được kỳ vọng sẽ cải thiện hiệu quả điều trị ở những bệnh nhân không đáp ứng đủ với ức chế VEGF đơn thuần.
Trong bản sửa đổi PPP năm 2025 của Hội đồng Võng mạc/Dịch kính AAO, việc phát triển bằng chứng về hiệu quả chi phí của liệu pháp kháng VEGF được nêu ra như một thách thức 1). Nghiên cứu liên tục cũng cần thiết về mối quan hệ giữa tỷ lệ duy trì điều trị dài hạn và kết quả thị lực.
Trong khi các thuốc truyền thống chỉ ức chế VEGF-A, faricimab ức chế cả VEGF-A và Ang-2. Vì Ang-2 liên quan đến sự mất ổn định mạch máu, việc ức chế đồng thời này được kỳ vọng sẽ kéo dài khoảng cách dùng thuốc và ổn định hiệu quả điều trị.
Tắc nhánh tĩnh mạch võng mạc có thể tự cải thiện nhờ sự phát triển của tuần hoàn bàng hệ, nhưng nếu phù hoàng điểm tồn tại, thị lực sẽ tiếp tục giảm. Tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc thường có tiên lượng xấu, và ở thể thiếu máu cục bộ, hơn một nửa số trường hợp bị giảm thị lực. Liệu pháp kháng VEGF đã cải thiện tiên lượng thị lực, nhưng thường cần điều trị duy trì thường xuyên.