Tổn thương hoạt động
Hình dạng: Tròn, sâu, có dạng kem (trắng đục).
Phân bố: Xếp thành đường thẳng hoặc rải rác. Dạng đường thẳng dọc theo đường đi của lớp sợi thần kinh gợi ý lan truyền theo thần kinh.
Bệnh võng mạc Tây sông Nile (West Nile Retinopathy) là một loại viêm hắc võng mạc đa ổ (multifocal chorioretinitis) do nhiễm virus Tây sông Nile (West Nile Virus; WNV). WNV lần đầu tiên được phân lập tại quận Tây sông Nile, Uganda vào năm 1937. Tại Hoa Kỳ, nó được xác nhận lần đầu tiên ở New York vào năm 1999.
WNV là một flavivirus RNA sợi đơn thuộc nhóm huyết thanh virus viêm não Nhật Bản. Đây là bệnh lây truyền từ động vật sang người (zoonotic disease), với chim hoang dã là vật chủ dự trữ. Ngựa và người đóng vai trò là vật chủ cuối (dead end hosts).
80% ca nhiễm WNV ở người là không có triệu chứng (subclinical). 20% còn lại biểu hiện thành bệnh sốt. Khoảng 1% tổng số ca nhiễm dẫn đến bệnh thần kinh xâm lấn Tây sông Nile (West Nile neuroinvasive disease), biểu hiện như viêm màng não, viêm não, liệt mềm cấp tính, v.v.
Trong số các triệu chứng mắt, viêm hắc võng mạc đa ổ không triệu chứng là phổ biến nhất (khoảng 80% tổng số biến chứng mắt). Các biến chứng mắt khác bao gồm viêm màng bồ đào trước, viêm mạch võng mạc, viêm thần kinh thị giác, xuất huyết dưới kết mạc, liệt dây thần kinh vận nhãn ngoài, và rung giật nhãn cầu 12.
Mặc dù biến chứng mắt được xếp vào loại biến chứng hiếm gặp trong nhiễm WVN nói chung, nhưng phổ biến nhất trong số các biến chứng mắt là viêm hắc võng mạc đa ổ (không triệu chứng trong khoảng 80%). Sự liên quan đến mắt xảy ra qua đường máu (qua hắc mạc) hoặc lan truyền thần kinh từ hệ thần kinh trung ương.
Các triệu chứng chủ quan xuất hiện khi có nhiễm trùng hoạt động hoặc tổn thương hoàng điểm. Tuy nhiên, khoảng 80% trường hợp diễn biến không triệu chứng.
Khi có triệu chứng, các triệu chứng sau đây sẽ xuất hiện.
Suy giảm thị lực kéo dài do các tình trạng sau:
Đã có báo cáo rằng ở những bệnh nhân có viêm mạch võng mạc tắc nghẽn, đặc biệt là bệnh nhân tiểu đường và người cao tuổi, tần suất suy giảm thị lực vĩnh viễn cao34.
Tổn thương hắc võng mạc do WNV đặc trưng bởi các tổn thương hắc võng mạc xếp thành đường thẳng hoặc rải rác 5.
Tổn thương hoạt động
Hình dạng: Tròn, sâu, có dạng kem (trắng đục).
Phân bố: Xếp thành đường thẳng hoặc rải rác. Dạng đường thẳng dọc theo đường đi của lớp sợi thần kinh gợi ý lan truyền theo thần kinh.
Tổn thương không hoạt động
Hình dạng: Teo, có dạng như mục tiêu (targetoid) kèm theo một số sắc tố.
Diễn tiến: Tồn tại như sẹo hắc võng mạc sau khi viêm hoạt động lắng xuống.
Khám bằng đèn khe (slit lamp) đánh giá hình thái tổn thương hoạt động và không hoạt động.
Không nhất thiết. Khoảng 80% biến chứng mắt là viêm hắc võng mạc đa ổ không triệu chứng, nơi các tổn thương đáy mắt thường được phát hiện mà bệnh nhân không kêu ca triệu chứng mắt. Thường chỉ được phát hiện sau khi khám mắt toàn diện sau khi chẩn đoán nhiễm WNV.
WNV lây truyền qua vết đốt của muỗi thuộc giống Culex, đặc biệt là Culex pipiens. Virus xâm nhập vào cơ thể người khi muỗi bị nhiễm bệnh đốt để hút máu.
Thời gian ủ bệnh thường từ 2 đến 15 ngày.
Dưới đây là các yếu tố nguy cơ chính.
Ngoài ra, các đường lây truyền không qua muỗi như truyền máu, ghép tạng, phơi nhiễm trong phòng thí nghiệm và lây truyền dọc trong thai kỳ cũng đã được báo cáo.
Trong 80% trường hợp, nhiễm WNV ở mắt không có triệu chứng, do đó cần có sự nghi ngờ lâm sàng cao. Cần chủ động nghi ngờ nhiễm WNV ở bệnh nhân có tiền sử sau:
Để chẩn đoán bệnh võng mạc Tây sông Nile ở bệnh nhân chưa nhiễm WNV, cần xác nhận huyết thanh học tình trạng nhiễm WNV.
Đặc điểm của từng xét nghiệm được trình bày dưới đây.
| Xét nghiệm | Đặc điểm |
|---|---|
| Chụp mạch huỳnh quang (FA) | Hoạt động: giảm huỳnh quang ban đầu → nhuộm muộn. Không hoạt động: giảm huỳnh quang trung tâm + tăng huỳnh quang ngoại vi |
| Chụp mạch xanh indocyanine (ICGA) | Phát hiện nhiều tổn thương hơn FA |
| Tự huỳnh quang (AF) | Làm nổi bật sẹo cũ rõ hơn FA hoặc chụp ảnh đáy mắt |
| Chụp mạch OCT (OCTA) | Đánh giá vùng không tưới máu mao mạch do viêm mạch tắc nghẽn một cách không xâm lấn3 |
Xét nghiệm huyết thanh học tìm kháng thể IgM và kháng thể trung hòa WNV trong máu hoặc dịch não tủy là cơ sở chẩn đoán.
Xét nghiệm axit nucleic như Procleix® WNV Assay được sử dụng trong sàng lọc trước truyền máu.
Các bệnh có triệu chứng tương tự WNV rất đa dạng.
Hiện tại chưa có liệu pháp đặc hiệu đã được thiết lập cho nhiễm WNV.
Đối với nhiễm trùng toàn thân, điều trị hỗ trợ (supportive treatment) là chủ yếu.
Về nguyên tắc, không cần điều trị đặc hiệu cho mắt, và trong hầu hết các trường hợp, bệnh về mắt tự giới hạn (self-limited).
Phòng ngừa nhiễm trùng ban đầu là trụ cột của kiểm soát nhiễm WNV. Mặc quần áo bảo hộ, sử dụng thuốc chống côn trùng, và diệt ấu trùng muỗi là các biện pháp đã được chứng minh. Vắc-xin WNV hiện đang được phát triển và các thử nghiệm lâm sàng chưa hoàn thành.
Trong đa số trường hợp, bệnh về mắt tự giới hạn và thị lực trở lại mức cơ bản. Tuy nhiên, nếu xảy ra biến chứng như sẹo hắc võng mạc ở trung tâm, tân mạch hắc mạc, hoặc teo thần kinh thị giác, có thể để lại suy giảm thị lực vĩnh viễn.
Sinh lý bệnh phân tử chính xác của nhiễm WNV vẫn đang được nghiên cứu, nhưng các cơ chế sau đây được ủng hộ.
WNV xâm nhập vào tế bào thông qua tương tác với thụ thể Toll-like 3 (TLR3). Nhiễm WNV có thể kích hoạt phản ứng viêm qua trung gian TLR3, làm suy yếu hàng rào máu não. Điều này cho phép virus xâm nhập vào não, gây ra bệnh lý thần kinh nghiêm trọng hơn.
Là một thành viên của họ Flaviviridae, WNV là virus RNA sợi đơn sử dụng protein của tế bào chủ để tạo ra các hạt virus thế hệ con.
Có hai con đường được cho là liên quan đến mắt.
Ngoài ra, ở những người có đột biến đồng hợp tử trên gen CCR5 (thụ thể chemokine 5), có tác dụng bảo vệ chống nhiễm HIV, có thể tạo điều kiện cho sự xuất hiện các triệu chứng thần kinh của WNV.
Vắc-xin WNV cho người vẫn đang trong giai đoạn phát triển và thử nghiệm lâm sàng. Vắc-xin WNV cho ngựa đã được phê duyệt ở một số quốc gia, nhưng nghiên cứu ứng dụng trên người vẫn tiếp tục.
Ribavirin, interferon và immunoglobulin tĩnh mạch (IVIG) đã được sử dụng trong các nghiên cứu in vitro hoặc mô hình động vật, nhưng hiệu quả trên người chưa được thiết lập.
Dữ liệu kết quả dài hạn cho các biến chứng mắt của WNV như tân mạch hắc mạc và teo thị thần kinh còn hạn chế. Việc áp dụng và hiệu quả của liệu pháp kháng VEGF cũng cần được nghiên cứu thêm.
Rousseau A, Haigh O, Ksiaa I, Khairallah M, Labetoulle M. Ocular Manifestations of West Nile Virus. Vaccines (Basel). 2020;8(4):641. PMID: 33147758. ↩
Ruiz-Lozano RE, Zafar S, Berkenstock MK, Liberman P. Ocular manifestations of West Nile virus infection: A case report and systematic review of the literature. Eur J Ophthalmol. 2025;35(3):844-855. PMID: 39659186. ↩
Khairallah M, Kahloun R, Gargouri S, et al. Swept-Source Optical Coherence Tomography Angiography in West Nile Virus Chorioretinitis and Associated Occlusive Retinal Vasculitis. Ophthalmic Surg Lasers Imaging Retina. 2017;48(8):672-675. PMID: 28810044. ↩ ↩2
Chan CK, Limstrom SA, Tarasewicz DG, Lin SG. Ocular features of west nile virus infection in North America: a study of 14 eyes. Ophthalmology. 2006;113(9):1539-1546. PMID: 16860390. ↩
Khairallah M, Ben Yahia S, Ladjimi A, et al. Chorioretinal involvement in patients with West Nile virus infection. Ophthalmology. 2004;111(11):2065-2070. PMID: 15522373. ↩