MEN loại 1
Gen gây bệnh: Gen MEN1 (11q13)
Sự kết hợp khối u: U tuyến cận giáp, u tuyến yên, u đường tiêu hóa-tụy
Tỷ lệ mắc: 2–20 người trên 100.000 dân
Đặc điểm nhãn khoa: Chèn ép giao thoa thị giác do u tuyến yên (bán manh thái dương hai bên)
Đa u nội tiết (MEN) là một nhóm bệnh di truyền hiếm gặp, làm tăng nguy cơ phát triển khối u ở hai hoặc nhiều tuyến nội tiết. Bệnh di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, với độ thâm nhập cao và biểu hiện đa dạng.
MEN được phân loại chủ yếu thành 4 loại.
MEN loại 1
Gen gây bệnh: Gen MEN1 (11q13)
Sự kết hợp khối u: U tuyến cận giáp, u tuyến yên, u đường tiêu hóa-tụy
Tỷ lệ mắc: 2–20 người trên 100.000 dân
Đặc điểm nhãn khoa: Chèn ép giao thoa thị giác do u tuyến yên (bán manh thái dương hai bên)
MEN loại 2 (2A và 2B)
Gen gây bệnh: Gen tiền ung thư RET (10q11.2)
Sự kết hợp khối u: Ung thư biểu mô tuyến giáp thể tủy (MTC), u tế bào ưa crom, cường cận giáp (chỉ ở MEN2A)
Tỷ lệ mắc: 1 trên 35.000 người (toàn bộ MEN2)
Đặc điểm nhãn khoa: Dày rõ rệt dây thần kinh giác mạc, u thần kinh kết mạc và mi mắt (đặc biệt ở MEN2B)
Các đặc điểm nhãn khoa của MEN được mô tả kinh điển ở thể MEN2B. Ở thể MEN2B, ngoài ung thư biểu mô tuyến giáp thể tủy và u tế bào ưa crom, còn có u thần kinh niêm mạc và bệnh tế bào hạch thần kinh ruột. U thần kinh niêm mạc xuất hiện ở gần 100% bệnh nhân MEN2B và được coi là dấu hiệu bệnh lý đặc trưng của hội chứng này. Các dấu hiệu nhãn khoa đôi khi có thể là manh mối chẩn đoán sớm thể MEN2B5).
Ở thể MEN1, nghiên cứu đoàn hệ lớn DutchMEN1 Study (323 ca) cho thấy 38,1% bệnh nhân có u tuyến yên3). U tiết prolactin là loại u tuyến yên phổ biến nhất và đáp ứng tốt với điều trị bằng thuốc chủ vận dopamine.
Các dấu hiệu đặc trưng của MEN2B có thể nhận biết từ thời thơ ấu. Dày dây thần kinh giác mạc và u thần kinh niêm mạc xuất hiện sớm và có thể là manh mối lâm sàng đầu tiên của MEN2B. MTC trong MEN2B có thể khởi phát từ giai đoạn sơ sinh, và việc nhận biết sớm các dấu hiệu nhãn khoa quyết định thời điểm chẩn đoán và điều trị dự phòng.
Các triệu chứng về mắt khác nhau giữa thể MEN2B và thể MEN1.
| Dấu hiệu mắt ở thể MEN2B | Đặc điểm |
|---|---|
| Dây thần kinh giác mạc nổi rõ | Dấu hiệu phổ biến nhất |
| U thần kinh kết mạc và mi mắt | Tăng sinh thần kinh không có vỏ bọc |
| Khô mắt | Rối loạn tiết nước mắt |
| Dày mi mắt | Do u thần kinh |
| Glôcôm góc mở | Hiếm |
Dây thần kinh giác mạc rõ là dấu hiệu nhãn khoa đặc trưng nhất ở thể MEN2B. Kiểm tra bằng đèn khe cho thấy các sợi thần kinh dày lên trong giác mạc. Về mô bệnh học, đó là các sợi thần kinh không có myelin kèm tế bào Schwann, sợi trục có hình thái bình thường. Ở thể MEN2A, theo báo cáo của Kinoshita và cộng sự, 16/28 mắt (57%) có dày thần kinh giác mạc từ độ 2 trở lên, và khoảng 29% có dày rõ rệt độ 3-4, do đó đây là dấu hiệu nhãn khoa quan trọng trong toàn bộ hội chứng MEN 1).
U thần kinh kết mạc và mi mắt được nhận biết là sự tăng sinh thần kinh dày lên không có vỏ bọc. Các u thần kinh niêm mạc tương tự cũng xuất hiện ở môi, lưỡi và niêm mạc má. Kính hiển vi đồng tiêu (IVCM) cho thấy các bó thần kinh lớn, dày sắp xếp bất thường, có vòng lặp, phân nhánh và giãn rộng tới 1mm ở u thần kinh kết mạc; ở giác mạc, quan sát thấy dày đám rối thần kinh dưới biểu mô 6). Ở trẻ em, u thần kinh niêm mạc quanh rìa có thể gây glôcôm góc mở thứ phát, cần kiểm soát nhãn áp 2).
Ở thể MEN1, hội chứng chéo thị giác do u tuyến yên là vấn đề nhãn khoa chính. Khám thị trường thường thấy bán manh thái dương hai bên với ranh giới là kinh tuyến dọc. Có thể kèm teo thị thần kinh.
Đặc điểm không nhãn khoa (thể MEN2B) bao gồm phì đại môi, thể trạng giống hội chứng Marfan, và tăng sản hạch thần kinh ruột (có thể gây phình đại tràng).
Dây thần kinh giác mạc nổi rõ không phải là dấu hiệu đặc hiệu của MEN2B. Nó cũng có thể gặp trong hội chứng Refsum, bệnh Hansen, hội chứng Riley-Day, u sợi thần kinh, và bệnh vảy cá bẩm sinh. Ngoài ra, dây thần kinh giác mạc có thể nổi rõ trong một số bệnh lý giác mạc như giác mạc hình chóp, viêm giác mạc do herpes simplex, và thoái hóa giác mạc đa hình thái sau. Tuy nhiên, mức độ nổi rõ thường không nghiêm trọng như trong MEN2B. Chẩn đoán dựa trên sự kết hợp với các biểu hiện toàn thân khác (phì đại môi, thể hình giống Marfan, v.v.).
Hội chứng MEN di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường. Người mang đột biến RET có nguy cơ di truyền cho con cái là 50%. Cũng có các trường hợp lẻ tẻ do đột biến soma.
Nguyên nhân là đột biến gen MEN1 (nhiễm sắc thể 11q13). Gen MEN1 mã hóa protein menin, một gen ức chế khối u. Sự mất chức năng xảy ra do ‘hai hit’ (đột biến cả hai alen), dẫn đến tăng sinh tế bào không kiểm soát.
Nguyên nhân là đột biến sai nghĩa (missense) của tiền ung thư gen RET (nhiễm sắc thể 10q11.2). Protein RET là thụ thể tyrosine kinase, tham gia vào sự biệt hóa và di chuyển của mô nội tiết thần kinh. Đột biến gây ra bất thường tăng chức năng, dẫn đến hình thành khối u.
Trong MEN2B, khoảng 95% bệnh nhân có đột biến dòng mầm tại codon 918 (đột biến M918T)4). Bệnh nhân mang đột biến này khởi phát từ giai đoạn sơ sinh và có MTC xâm lấn nhất. Tuy nhiên, chẩn đoán MEN2B thường bị chậm trễ; trong báo cáo ca bệnh tại Nhật Bản của Nagaoka và cộng sự, cả 4 trường hợp đều có u thần kinh niêm mạc và triệu chứng tiêu hóa từ giai đoạn sơ sinh, nhưng chỉ được chẩn đoán khi đã ở giai đoạn MTC có triệu chứng5).

Chẩn đoán hội chứng MEN thường dựa trên tiền sử gia đình và các dấu hiệu không liên quan đến mắt. Khám mắt đặc biệt hữu ích trong việc đánh giá chi tiết các ca bệnh mới.
Các bệnh lý có quan sát thấy dây thần kinh giác mạc nổi rõ bao gồm:
| Bệnh cần phân biệt | Đặc điểm |
|---|---|
| Hội chứng Refsum | Tích tụ axit phytanic |
| Bệnh Hansen | Bệnh thần kinh ngoại biên |
| Hội chứng Riley-Day | Rối loạn tự chủ gia đình |
| U xơ thần kinh | Đốm café-au-lait |
| Bệnh vảy cá bẩm sinh | Rối loạn sừng hóa da |
Bệnh nhân mắc hội chứng u thần kinh niêm mạc thuần túy (MNS) có thể có các đặc điểm nhãn khoa tương tự như MEN2B.
Quản lý bệnh nhân MEN đòi hỏi sự phối hợp đa chuyên khoa, bao gồm bác sĩ di truyền lâm sàng, bác sĩ nội tiết, bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ chuyên khoa ung thư.
Tư vấn di truyền nên được thực hiện trước khi xét nghiệm gen RET. Ở các gia đình có MEN2, sàng lọc nên được thực hiện khi sinh hoặc sớm nhất có thể. Tất cả những người thân thế hệ thứ nhất của trường hợp chỉ điểm mới được chẩn đoán có đột biến RET nên được cung cấp tư vấn di truyền.
Ở bệnh nhân MEN2B có đột biến dòng mầm tại các codon 883, 918, 922, nên thực hiện cắt toàn bộ tuyến giáp và nạo vét hạch vùng trung tâm trong vòng vài tháng sau sinh, vì tỷ lệ thâm nhập suốt đời của MTC gần như 100%.
Bác sĩ nhãn khoa đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm các biểu hiện nhãn khoa trong MEN, giới thiệu chuyên khoa phù hợp và phục hồi chức năng thị giác. Đối với u tuyến yên trong MEN1, cần kiểm tra thị trường và đánh giá thị lực định kỳ. Đối với MEN2B, cần quản lý khô mắt và đo nhãn áp định kỳ.
Trong MEN2B, cần quan sát các thay đổi của dây thần kinh giác mạc và u thần kinh kết mạc/mi mắt bằng khám đèn khe định kỳ. Kiểm tra triệu chứng khô mắt và quản lý bằng nước mắt nhân tạo nếu cần. Do có nguy cơ glôcôm góc mở, nên đo nhãn áp và kiểm tra thị trường định kỳ. Ngoài ra, cần đánh giá bằng hình ảnh xem có u tuyến yên kèm theo không.
MEN1 phát sinh do mất chức năng của gen ức chế khối u dựa trên ‘giả thuyết hai đột biến’. Đột biến thứ nhất (đột biến dòng mầm) được di truyền, và đột biến thứ hai (đột biến soma) xảy ra sau đó, dẫn đến mất hoàn toàn chức năng của protein menin và mất kiểm soát tăng sinh tế bào.
Menin được biểu hiện ở cả mô nội tiết và không nội tiết, nhưng cơ chế chính xác dẫn đến ung thư vẫn chưa được làm sáng tỏ. Khối u tuyến yên chèn ép giao thoa thị giác gây ra chứng bán manh thái dương hai bên.
Protein RET là một thụ thể tyrosine kinase tham gia vào sự biệt hóa và di chuyển của các mô nội tiết thần kinh đang phát triển. Các đột biến sai nghĩa trong gen RET dẫn đến thay thế một axit amin duy nhất, gây ra sự hoạt hóa cấu trúc (tăng chức năng) của protein.
RET được biểu hiện ở nhiều mô bao gồm tế bào cận nang tuyến giáp (tế bào C), tuyến cận giáp, hạch thần kinh ruột, tế bào ưa crom tuyến thượng thận, hệ thần kinh ngoại biên và trung ương. Mô hình biểu hiện rộng rãi này giải thích các dạng khối u đa dạng trong MEN type 2.
Xét nghiệm mô bệnh học của các dây thần kinh giác mạc dày lên trong MEN type 2B cho thấy các sợi thần kinh không có myelin kèm theo tế bào Schwann. Các sợi trục có hình thái bình thường, đường kính thay đổi từ 0,1 đến 1,4 nm. U thần kinh ở kết mạc và mi mắt được ghi nhận là sự tăng sinh thần kinh không có vỏ bọc.