Bỏ qua đến nội dung
Giác mạc và mắt ngoài

Giác mạc hóa củng mạc

Giác mạc hóa củng mạc (sclerocornea) là một bệnh bẩm sinh hiếm gặp do sự di chuyển bất thường của các tế bào mào thần kinh, dẫn đến mầm giác mạc rìa (limbal anlage) không hình thành bình thường, khiến giác mạc bị đục trắng như củng mạc. Bệnh không tiến triển, xảy ra ở cả hai mắt và không đối xứng. Không liên quan đến nguyên nhân viêm hoặc nhiễm trùng, không có khác biệt về giới tính.

Độ đục giác mạc có màu trắng kèm xâm nhập mạch máu, ranh giới rìa không rõ. Ở châu Âu thường gọi là cornea plana, ở Mỹ gọi là sclerocornea.

Phân loạiĐặc điểm
Thể ngoại vi đơn độcChỉ củng mạc hóa ở vùng ngoại vi, không kèm bất thường khác
Thể phẳngKèm giác mạc phẳng (công suất khúc xạ <38 D) và viễn thị nặng
Thể kèm bất thường tiền phòngKèm bất thường đoạn trước như dính mống mắt-giác mạc
Thể toàn bộĐục lan tỏa toàn bộ giác mạc

50% trường hợp có di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường (AD) hoặc lặn trên nhiễm sắc thể thường (AR). 50% còn lại xảy ra lẻ tẻ (tản phát).

Q Mối quan hệ với giác mạc phẳng (cornea plana) là gì?
A

Trong bệnh củng mạc hóa giác mạc, sự củng mạc hóa giác mạc ngoại vi làm giác mạc dẹt, do đó thường kết hợp với giác mạc phẳng. Giác mạc phẳng được phân loại lâm sàng thành hai dạng di truyền: CNA1 (trội trên nhiễm sắc thể thường, 12q) và CNA2 (lặn trên nhiễm sắc thể thường, đột biến gen KERA). CNA2 đi kèm với giác mạc dẹt nặng hơn và nhiều bất thường đoạn trước.

2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng

Phần tiêu đề “2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”
Ảnh chụp đoạn trước và hình ảnh hiển vi của bệnh củng mạc hóa giác mạc
Ảnh chụp đoạn trước và hình ảnh hiển vi của bệnh củng mạc hóa giác mạc
Biler ED, Yilmaz SG, Palamar M, et al. In Vivo Confocal Microscopy and Anterior Segment Optic Coherence Tomography Findings in Ocular Ochronosis. Case Reports in Ophthalmological Medicine. 2015 Dec 15; 2015:592847. Figure 3. PMCID: PMC4693010. License: CC BY.
Ảnh chụp đoạn trước cho thấy đục liên tục từ ngoại vi giác mạc, và hình ảnh hiển vi cho thấy cấu trúc bề mặt bị rối loạn. Vùng rìa giác mạc trở nên không rõ, ranh giới giữa giác mạccủng mạc trông liên tục.
  • Giảm thị lực: Xảy ra tùy theo mức độ và phạm vi đục giác mạc. Ở thể toàn bộ, gây suy giảm thị lực nghiêm trọng.
  • Viễn thị nặng: Do giác mạc dẹt, công suất khúc xạ giảm xuống 25-42 D.
  • Nhược thị: Nguy cơ cao nhược thị do thiếu hụt hình ảnh ở trẻ nhỏ.

Dấu hiệu lâm sàng (dấu hiệu bác sĩ xác nhận khi khám)

Phần tiêu đề “Dấu hiệu lâm sàng (dấu hiệu bác sĩ xác nhận khi khám)”
  • Đục giác mạc: Đục trắng như củng mạc từ ngoại vi vào trung tâm. Ở thể toàn bộ, liên quan toàn bộ giác mạc nhưng mật độ đục ở trung tâm hơi thấp hơn. Ở thể một phần, vùng trung tâm có thể trong suốt.
  • Mất ranh giới giác mạc: Ranh giới giữa giác mạccủng mạc trở nên không rõ. Trong trường hợp đục ngoại vi, khó đánh giá chính xác đường kính giác mạc.
  • Giác mạc dẹt: Có thể quan sát rõ giác mạc bị dẹt khi khám bằng đèn khe từ bên cạnh.
  • Tân mạch giác mạc: Có sự xâm nhập của mạch máu từ thượng củng mạckết mạc vào toàn bộ chiều dày giác mạc.

Biến chứng mắt

Nhãn cầu nhỏ: Phản ánh sự kém phát triển của toàn bộ nhãn cầu bao gồm giác mạc.

Glôcôm: Có nguy cơ glôcôm thứ phát do giác mạc dẹt và tiền phòng nông. Glôcôm phát triển xuất hiện sau tuổi 10.

Dính trước: Có thể kèm theo dính mống mắt-giác mạc.

Đục thủy tinh thể: Có thể kèm theo bất thường thể thủy tinh.

Rung giật nhãn cầulác: Xuất hiện do thị lực kém.

Vòng phôi sau: Có thể gặp như một phần của bất thường phát triển đoạn trước.

Biến chứng toàn thân

Khuyết tật trí tuệ: Gặp như ảnh hưởng toàn thân của bất thường tế bào mào thần kinh.

Mất thính lực: Kèm theo như một phần của hội chứng bất thường phát triển đoạn trước.

Bất thường sọ mặt: Liên quan đến sự hình thành bất thường của mô có nguồn gốc từ tế bào mào thần kinh.

Dị tật tim mạch: Hiếm khi kèm theo.

Dị tật niệu dục: Hiếm gặp.

Bất thường da: Liên quan đến bất thường tế bào mào thần kinh.

Q Nguy cơ mắc bệnh tăng nhãn áp là bao nhiêu?
A

giác mạc củng mạc hóa, nguy cơ tăng nhãn áp thứ phát cao do giác mạc dẹt và tiền phòng hẹp. Tăng nhãn áp phát triển xuất hiện sau tuổi 10. Nguy cơ được cho là cao hơn ở các trường hợp có đột biến lặn nhiễm sắc thể thường. Thường kèm bất thường góc, do đó cần đánh giá nhãn áp định kỳ.

Giác mạc củng mạc hóa do bất thường di chuyển của tế bào mào thần kinh trong thời kỳ phôi thai. Trong quá trình phát triển bình thường, mầm rìa (limbal anlage) hình thành vào tuần thứ 7-10 của thai kỳ, quyết định độ cong giác mạc và ranh giới giữa giác mạccủng mạc. Sự không hình thành cấu trúc này làm rối loạn ranh giới bình thường giữa củng mạcgiác mạc, gây dẹt độ cong giác mạc.

  • CNA1 (Giác mạc dẹt type 1): Di truyền trội nhiễm sắc thể thường. Locus gen trên nhánh dài nhiễm sắc thể 12, nhưng gen gây bệnh chưa được xác định.
  • CNA2 (Giác mạc dẹt type 2): Di truyền lặn nhiễm sắc thể thường. Do đột biến gen KERA ở vùng 12q22-q23. Gen KERA mã hóa keratocan, một proteoglycan keratan sulfate quan trọng cho độ trong suốt của giác mạc. Ở CNA2, giác mạc dẹt nặng hơn kèm bất thường đoạn trước.
  • PAX6, FOXC1, PITX2: Đột biến có thể gây dính mống mắt-giác mạc, lạc chỗ đồng tử, teo mống mắt.
  • RAD21: Đột biến được xác định trong gia đình có giác mạc củng mạc hóa. Kiểm soát sự biệt hóa tế bào mào thần kinh thành tế bào giác mạc hoặc tế bào mô đệm củng mạc thông qua tín hiệu WNT9B.

Khám Mắt

Khám đèn khe: Đánh giá mức độ và phạm vi đục giác mạc, mờ ranh giới rìa giác mạc và sự xâm nhập mạch máu. Quan sát từ bên cạnh có thể xác nhận giác mạc bị dẹt.

OCT đoạn trước (AS-OCT): Cho phép đánh giá nhanh, không xâm lấn. Có lợi thế là có thể đánh giá trẻ sơ sinh mà không cần gây mê. Hiển thị giác mạc dày lên và xơ cứng hóa do phản xạ cao.

Kính hiển vi siêu âm sinh học (UBM): Mô tả chi tiết đoạn trước đến độ sâu 5 mm. Đánh giá hẹp tiền phòng, dính mống mắt-giác mạc và bất thường góc.

Khám Toàn Thân

Xét nghiệm di truyền: Tìm kiếm đột biến ở các gen như KERA, PAX6, FOXC1, PITX2, RAD21. Thực hiện cùng với tư vấn di truyền.

Đánh giá toàn thân: Tìm kiếm sự hiện diện của các bất thường toàn thân liên quan như khuyết tật trí tuệ, mất thính lực, dị tật tim mạch và dị tật niệu dục.

  • Dị tật Peters: Đục trung tâm giác mạc kèm khiếm khuyết màng Descemetnội mô giác mạc. Có dính mống mắt-giác mạc hoặc mống mắt-thể thủy tinh.
  • Glôcôm bẩm sinh: Đục do phù giác mạc, kèm tăng đường kính giác mạc (mắt bò) và vỡ màng Descemet (vân Haab), giúp phân biệt.
  • Loạn dưỡng nội mô giác mạc di truyền bẩm sinh (CHED): Phù và đục lan tỏa hai bên, nhưng rìa giác mạc rõ ràng.
  • Chấn thương khi sinh: Thường một bên, kèm vỡ màng Descemet.

Đối với đục giác mạc ảnh hưởng đến trục thị giác, ghép giác mạc xuyên thấu (PKP) là lựa chọn đầu tiên. Phẫu thuật cần được thực hiện càng sớm càng tốt để tránh nhược thị do thiếu kích thích thị giác. Tuy nhiên, tiên lượng thị lực kém và tỷ lệ thải ghép cao.

Báo cáo về kết quả ghép:

  • Ghép giác mạc toàn bộ độ dày cho giác mạc bị xơ cứng hóa cho thấy tỷ lệ thất bại khoảng 75%, và nguyên nhân chính của thất bại ghép là tân mạchvùng rìa giác mạc.
  • Trong một loạt ca gồm 15 mắt loại toàn bộ và 12 mắt loại một phần, tỷ lệ sống của mảnh ghép sau 1 năm được báo cáo là 70%.
  • Ở trẻ em, tỷ lệ duy trì độ trong suốt của mảnh ghép sau 1 năm chỉ khoảng 37%.

Trong các trường hợp thất bại ghép giác mạc, tân mạch vùng ngoại vi là yếu tố nguy cơ, và có thể cần phẫu thuật tái tạo đoạn trước (như tái tạo góc, tạo hình đồng tử, lấy thủy tinh thể, đặt lại thủy tinh thể nhân tạo) đồng thời 1).

Ở thể một phần khi trục thị giác còn được bảo tồn, cần chỉnh quang (kính) sớm để ngăn ngừa nhược thị do viễn thị nặng. Ở các trường hợp kèm glôcôm, cần kiểm soát áp lực nội nhãn bằng thuốc nhỏ mắt hoặc phẫu thuật.

Q Tỷ lệ thành công của ghép giác mạc là bao nhiêu?
A

Tiên lượng ghép giác mạc cho giác mạc bị xơ cứng hóa là xấu. Theo báo cáo, tỷ lệ sống của mảnh ghép sau 1 năm dao động từ 37-70%, và thất bại cuối cùng được báo cáo ở 75% trường hợp. Yếu tố thất bại chính là tân mạchvùng rìa giác mạc. Ở trẻ em, tiên lượng còn khó khăn hơn và có thể cần ghép lại nhiều lần.

6. Sinh lý bệnh và Cơ chế phát sinh chi tiết

Phần tiêu đề “6. Sinh lý bệnh và Cơ chế phát sinh chi tiết”

Sự phát triển của mắt và vai trò của tế bào mào thần kinh

Phần tiêu đề “Sự phát triển của mắt và vai trò của tế bào mào thần kinh”

Sự phát triển bình thường của đoạn trước mắt liên quan đến ba quá trình quan trọng: hình thành từ ngoại bì thần kinh của não trước, sự tách rời của túi thủy tinh thể khỏi ngoại bì bề mặt, và sự di chuyển ra phía trước của các tế bào tiền thân trung mô có nguồn gốc từ mào thần kinh.

Trong quá trình phát triển bình thường, sau khi túi thủy tinh thể tách ra vào tuần thứ 4 của thai kỳ, ngoại bì bề mặt biệt hóa thành biểu mô giác mạc. Vào tuần thứ 6, các tế bào mào thần kinh từ vùng rìa của chén thị giác xâm nhập vào giữa biểu mô giác mạc và thủy tinh thể, hình thành màng Bowmannội mô giác mạc. Tiếp theo, các tế bào mào thần kinh lại xâm nhập vào giữa màng Bowmannội mô giác mạc để hình thành nhu mô giác mạc. Vào tuần thứ 7, sự hình thành củng mạc bắt đầu từ các tế bào mào thần kinh, tiến triển từ trước ra sau và đạt đến cực sau vào tháng thứ 5 của thai kỳ.

Trong giác mạc hóa củng mạc, mầm vùng rìa giác mạc không hình thành vào tuần thứ 7-10 của thai kỳ, do đó ranh giới bình thường giữa giác mạccủng mạc không được thiết lập. Kết quả là độ cong giác mạc trở nên dẹt và nhu mô giác mạc mang các đặc tính giống củng mạc.

  • Biểu mô: Dương tính với keratin 3 và 12 (dấu ấn biểu mô giác mạc) về mặt hóa mô miễn dịch, xác nhận nguồn gốc giác mạc. Không thấy tế bào đài.
  • Màng Bowman: Bị khuyết hoặc kèm theo các mảng chất hyalin không đều.
  • Nhu mô: Cấu trúc lớp của các sợi collagen bị rối loạn và sắp xếp không đều. Đường kính sợi không ổn định, mỏng hơn ở các lớp sâu (đặc điểm giống củng mạc). Mặt khác, do sự hiện diện của glycosaminoglycan như keratan sulfat và collagen loại I, nhu mô được cho là có nguồn gốc từ giác mạc chứ không phải củng mạc. Có sự xâm nhập mạch máu từ thượng củng mạckết mạc vào nhu mô trước và giữa.
  • Màng Descemet: Có khuyết hoặc mỏng (0,8–1,5 μm). Kèm theo chất đồng nhất và tăng sinh nguyên bào sợi.
  • Nội mô: Một số trường hợp được báo cáo là mất hoàn toàn nội mô.
Q Tại sao giác mạc trở nên trắng và đục?
A

Trong giác mạc hóa củng mạc, sự sắp xếp các sợi collagen của nhu mô giác mạc không đều và cấu trúc lớp bị rối loạn, do đó độ trong suốt của giác mạc không được duy trì. Ở giác mạc bình thường, sự sắp xếp đều đặn của các sợi collagen đồng nhất kiểm soát sự giao thoa ánh sáng và duy trì độ trong suốt, nhưng ở giác mạc hóa củng mạc, cấu trúc này bị phá vỡ. Ngoài ra, sự xâm nhập mạch máu qua toàn bộ chiều dày giác mạc cũng góp phần gây đục.

7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai

Phần tiêu đề “7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai”

Một đột biến gen RAD21 đã được xác định trong một gia đình mắc bệnh giác mạc hóa củng mạc. RAD21 là một thành phần của phức hệ cohesin và tham gia vào quá trình điều hòa biểu hiện gen. Nghiên cứu phát hiện ra rằng WNT9B đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xác định hướng biệt hóa của tế bào mào thần kinh thành tế bào giác mạc (keratocyte) hoặc tế bào nhu mô củng mạc trong các quá trình bị ảnh hưởng bởi biểu hiện RAD21.

Phát hiện này cung cấp manh mối để hiểu tại sao các tế bào nhu mô giác mạccủng mạc có các đặc tính mô khác nhau mặc dù cả hai đều có nguồn gốc từ tế bào mào thần kinh. Trong tương lai, việc phát triển các chiến lược điều trị mới thông qua kiểm soát con đường tín hiệu WNT9B được kỳ vọng.

  1. American Academy of Ophthalmology. Corneal Edema and Opacification Preferred Practice Pattern. Ophthalmology. 2024.

Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.