Mống mắt là mô màng ngăn cách tiền phòng và hậu phòng. Chân mống mắt là phần mỏng nhất, dễ đứt do chấn thương. Trong chấn thương đụng dập, áp lực tiền phòng tăng, làm biến dạng thành nhãn cầu và tạo lực kéo lên mống mắt. Nếu chân mống mắt đứt, xảy ra rách mống mắt (iridodialysis) và đồng tử bị lệch.
Nếu có khe hở ở thể mi về phía củng mạc hơn một chút so với rách mống mắt, xảy ra lõm góc (angle recession). Nếu thể mi bong khỏi củng mạc xa hơn về phía củng mạc, xảy ra bong thể mi (cyclodialysis). Trong chấn thương xuyên thủng, mống mắt có thể thoát qua vết thương giác củng mạc.
Tổn thương cơ thắt đồng tử gây giãn đồng tử do chấn thương. Phản xạ ánh sáng giảm hoặc mất. Đối với các tổn thương mống mắt này, nếu triệu chứng còn, tiến hành khâu mống mắt hoặc tạo hình đồng tử để sửa chữa.
QCó thể để chấn thương mống mắt mà không điều trị không?
A
Nếu rách mống mắt nhỏ và không có triệu chứng, theo dõi thường là đủ. Tuy nhiên, nếu rách rộng kèm lệch đồng tử, hoặc có song thị một mắt/sợ ánh sáng, cần phẫu thuật sửa chữa. Thường kèm theo xuất huyết tiền phòng và lõm góc, do đó theo dõi nhãn áp dài hạn rất quan trọng.
Kevin C Firl, Sandra R Montezuma. Chronic post-operative iris prosthesis endophthalmitis in a patient with traumatic aniridia: a case report. BMC Ophthalmol. 2016 Nov 9;16:197. Figure 1. PMCID: PMC5103383. License: CC BY.
Ảnh chụp đoạn trước cho thấy khuyết mô mống mắt rộng và biến dạng đáng kể quanh đồng tử. Thể hiện tình trạng mất mô nâng đỡ mống mắt sau chấn thương, cho phép đánh giá mức độ tổn thương giải phẫu là đối tượng của tái tạo mống mắt.
Sợ ánh sáng xảy ra do ánh sáng dư thừa vào mắt vì đường kính đồng tử tăng hoặc lệch. Song thị một mắt xảy ra do đường đi ánh sáng bất thường qua khuyết tật mống mắt. Giảm thị lực thường do tăng quang sai bậc cao hoặc đục thủy tinh thể chấn thương kèm theo hoặc xuất huyết dịch kính.
Trong rách mống mắt, quan sát thấy khe hình lưỡi liềm hoặc bán nguyệt dưới đèn khe. Đôi khi thấy sa dịch kính do đứt dây chằng Zinn. Nếu lệch đồng tử nhẹ kèm xuất huyết tiền phòng sau chấn thương đụng dập, nghi ngờ tụt góc hoặc rách thể mi. Trong chấn thương xuyên thủng, nếu có kẹt hoặc sa mống mắt tại vết rách, đồng tử sẽ lệch về hướng đó.
Chấn thương đụng dập là nguyên nhân phổ biến nhất. Bao gồm bóng thể thao, nắm đấm, cành cây và vật bay. Trong chấn thương xuyên thủng, sa mống mắt xảy ra cùng với vết rách giác mạc-củng mạc.
Tổn thương mống mắt cũng có thể xảy ra trong phẫu thuật đục thủy tinh thể 1). Đồng tử nhỏ là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây tổn thương mống mắt trong phẫu thuật 1). Sử dụng toàn thân thuốc chẹn thụ thể alpha-1 adrenergic gây hội chứng mống mắt mềm trong phẫu thuật (IFIS), làm tăng nguy cơ sa mống mắt1). Tần suất IFIS hoặc sa mống mắt được báo cáo là 0,5–2,0%, và tổn thương mống mắt/thể mi là 0,6–1,2% 1).
Rách mống mắt: Được quan sát như một khuyết mống mắt hình lưỡi liềm. Phương pháp soi xuyên thấu có thể phát hiện khuyết sáng ở chân mống mắt2).
Đánh giá đồng tử: Ghi lại đường kính, hình dạng, hướng và mức độ lệch của đồng tử. Kiểm tra phản xạ ánh sáng và đáp ứng với thuốc giãn đồng tử.
Tổn thương phối hợp: Đánh giá sự hiện diện của rung động thể thủy tinh, vỡ bao trước, hoặc sa dịch kính.
Soi góc tiền phòng và Xét nghiệm hình ảnh
Soi góc tiền phòng: Đánh giá khoảng cách tăng từ chân mống mắt đến gai củng mạc và mở rộng dải thể mi2). So sánh với mắt đối diện là quan trọng. Khi có xuất huyết tiền phòng, tránh thực hiện do nguy cơ chảy máu tái phát.
Siêu âm sinh hiển vi (UBM) và OCT đoạn trước: Hữu ích để quan sát vùng từ chân mống mắt đến thể mi. Rách thể mi nhỏ có thể khó phát hiện chỉ bằng soi góc tiền phòng2).
Đầu tiên, ưu tiên điều trị bảo tồn cho xuất huyết tiền phòng. Nghỉ ngơi và nhỏ thuốc giãn đồng tử (atropine) thúc đẩy hấp thu xuất huyết. Nếu rách mống mắt hạn chế và không có triệu chứng, không cần phẫu thuật.
Chỉ định Khâu mống mắt và Đánh giá Trước phẫu thuật
Phẫu thuật được chỉ định khi lệch đồng tử lớn kèm giảm thị lực, sợ ánh sáng, hoặc song thị một mắt. Đường kính đồng tử càng lớn, quang sai bậc cao càng tăng, và thị lực được coi là giảm đáng kể khi đường kính vượt quá 4 mm. Nếu sau khi đặt IOL với thuốc co đồng tử và kéo mống mắt, vẫn còn giãn đồng tử khoảng 6 mm hoặc hơn, thì tiến hành tạo hình đồng tử trong cùng một ca phẫu thuật.
Trước phẫu thuật, mống mắt được kéo căng trong tiền phòng bằng kẹp để mô phỏng vị trí khâu. Bản thân thao tác này có tác dụng co đồng tử.
Phương pháp nút trượt Siepser cải biên (Modified Siepser Sliding Knot): Một kim cong nhẹ được đưa vào qua cổng bên, mống mắt được vớt với chiều rộng 2-3 mm và đưa ra qua cổng bên đối diện. Chỉ được kéo bằng móc để tạo thành vòng, sau đó đưa ra ngoài nhãn cầu qua cổng bên đầu tiên và thắt nút bằng kỹ thuật nút trượt Siepser. Sử dụng chỉ prolene 9-0 hoặc 10-0.
Phương pháp một lần luồn bốn vòng (Single-pass Four-throw, SFT): Đầu chỉ còn lại được luồn qua vòng chỉ kéo từ cổng bên bốn lần rồi thắt nút. Ưu điểm là thao tác thắt nút trong và ngoài tiền phòng chỉ thực hiện một lần.
Phương pháp McCannel: Một kim dài được đưa vào qua đường rạch chính, và cả hai đầu của mống mắt và vùng rìa được chọc thủng cùng lúc. Hai đầu chỉ được kéo ra và thắt nút bên ngoài nhãn cầu như khâu thông thường. Ưu điểm là kỹ thuật thắt nút dễ hiểu.
Cerclage mống mắt: Phương pháp khâu liên tục quanh chu vi mống mắt cho các trường hợp đứt mống mắt diện rộng. Thao tác trong tiền phòng phức tạp và có độ khó cao.
Kỹ thuật kim đón (kim mỏng 30 gauge): Được sử dụng khi khó luồn chỉ bằng kim dài. Mống mắt được chọc thủng qua giác mạc bằng kim đón, sau đó khóa với kim dài và rút ra. Điều này cho phép luồn chỉ chính xác vào vị trí mong muốn.
QPhẫu thuật khâu mống mắt mất bao lâu?
A
Bản thân thủ thuật khâu mống mắt thường hoàn thành trong vài chục phút. Nếu thực hiện đồng thời với phẫu thuật đục thủy tinh thể hoặc đặt IOL, thời gian sẽ được cộng thêm. Thời gian phẫu thuật thay đổi tùy theo kỹ thuật và mức độ tổn thương mống mắt.
QThị lực phục hồi bao nhiêu sau phẫu thuật?
A
Nếu chỉ tổn thương mống mắt đơn thuần, tạo hình đồng tử có thể cải thiện chứng sợ ánh sáng và thường cải thiện thị lực. Có báo cáo về trường hợp đạt thị lực chỉnh kính 1,2 sau khâu mống mắt và đặt IOL ở bệnh nhân chấn thương dập mắt. Tuy nhiên, nếu có tổn thương võng mạc hoặc thần kinh thị giác kèm theo, chỉ sửa mống mắt có giới hạn trong cải thiện thị lực.
Khi một lực cùn tác động lên mắt, áp lực nội nhãn trong tiền phòng tăng đột ngột. Thành mắt biến dạng, và lực kéo giãn và bóc tách tác động lên mống mắt và thể mi bám vào bên trong. Chân mống mắt là phần mỏng nhất của mống mắt và dễ bị tổn thương nhất.
Nếu rách ở chân mống mắt, xảy ra hiện tượng gián đoạn mống mắt. Nếu rách giữa cơ vòng thể mi (cơ Müller) và cơ dọc (cơ Brücke), xảy ra hiện tượng lõm góc. Trong lõm góc, mống mắt và thể mi di chuyển ra sau. Hơn nữa, nếu thể mi bong ra khỏi củng mạc ở phía củng mạc, xảy ra hiện tượng bong thể mi, tạo ra đường thoát thủy dịch và gây nhãn áp thấp.
Tổn thương cơ thắt đồng tử là nguyên nhân trực tiếp của giãn đồng tử do chấn thương. Ngay cả tổn thương mô vi thể cũng phá hủy hàng rào máu-thủy dịch, gây di chuyển tế bào viêm vào tiền phòng (viêm mống mắt do chấn thương). Xuất huyết tiền phòng xảy ra do tổn thương mạch máu ở góc, và các sản phẩm phân hủy hồng cầu có thể cản trở dòng chảy thủy dịch và gây tăng nhãn áp tạm thời (glôcôm tế bào bọt).
Đã có báo cáo về khâu mống mắt nội nhãn sử dụng kim rất nhỏ cong (1,5 mm) và kẹp kim chuyên dụng. So với thao tác ngoài nhãn bằng kim dài thông thường, phương pháp này được cho là cho phép khâu chính xác hơn và ít tổn thương mống mắt hơn. Ngay cả khi kim dựng đứng trong tiền phòng, tổn thương nội mô giác mạc có thể được giảm thiểu.
Mống mắt nhân tạo là lựa chọn điều trị đầy hứa hẹn cho các trường hợp tổn thương mống mắt rộng hoặc không thích hợp để khâu mống mắt, và kinh nghiệm sử dụng đã được tích lũy ở nước ngoài, nhưng hiện tại chưa được phê duyệt trong nước. Thấu kính nội nhãn có mống mắt cũng đang được phát triển, có thể trở thành lựa chọn mới cho mắt không có mống mắt hoặc tổn thương mống mắt nặng.
Tạo hình đồng tử bằng khâu mống mắt là phương pháp hữu ích, nhưng cần xử lý mống mắt và xác định chỉ định một cách chính xác. Trong trường hợp tổn thương rộng, nên xem xét mống mắt nhân tạo.