IOL PMMA
Chất liệu: Polymethyl methacrylate (PMMA)
Ca ghép đầu tiên: 1949, Ngài Harold Ridley
Đặc điểm: Thấu kính cứng. Yêu cầu đường rạch lớn.
Đục thủy tinh thể (cataract) là bệnh giảm thị lực do thủy tinh thể bị mờ đục. Từ nguyên bắt nguồn từ tiếng Latin “cataracta” (thác nước). Trước đây người ta cho rằng nguyên nhân là do chất lỏng đục chảy trong thủy tinh thể, hoặc vì đục thủy tinh thể nặng trông như thác nước.
Đục thủy tinh thể là nguyên nhân chính gây mù lòa trên thế giới. Tính đến năm 2010, hơn 20 triệu người mắc bệnh, và tỷ lệ mắc bệnh ngày càng tăng do dân số già hóa. Đối với đục thủy tinh thể kèm suy giảm thị lực, can thiệp phẫu thuật là phương pháp điều trị triệt để duy nhất.
Lịch sử phẫu thuật đục thủy tinh thể bắt đầu từ trước Công nguyên. Bắt đầu từ phương pháp couching cổ đại, tiếp theo là phẫu thuật lấy thủy tinh thể ngoài bao vào thế kỷ 18, thủy tinh thể nhân tạo và phẫu thuật tán nhuyễn thủy tinh thể bằng siêu âm vào thế kỷ 20, và phẫu thuật laser vào thế kỷ 21, đó là một chuỗi các đổi mới công nghệ.
Couching là kỹ thuật phẫu thuật lâu đời nhất cho đục thủy tinh thể. Bắt nguồn từ tiếng Pháp “coucher” (nằm xuống). Phương pháp này bao gồm chọc vào mắt bằng kim nhọn gần rìa giác mạc để đẩy thủy tinh thể đục ra khỏi trục thị giác.
Các ghi chép cổ đại sau đây được biết đến:
Tuy nhiên, trong thời đại không có khái niệm vô trùng, tiên lượng rất xấu. Các biến chứng chính bao gồm glôcôm thứ phát, xuất huyết tiền phòng và viêm nội nhãn, thường dẫn đến mù lòa. Phương pháp couching vẫn được thực hiện ở miền bắc Nigeria và một số vùng Tây Phi.
Không có khái niệm vô trùng và kỹ thuật thô sơ. Vì thủy tinh thể chỉ bị đẩy ra khỏi trục thị giác mà không được loại bỏ, các biến chứng như glôcôm thứ phát, xuất huyết tiền phòng và viêm nội nhãn thường xảy ra.
Có bằng chứng khảo cổ cho thấy việc hút đục thủy tinh thể mềm có thể đã được thực hiện vào thời Hy Lạp-La Mã cổ đại. Vào thời Trung cổ Ả Rập (thế kỷ 10 đến 17), việc lấy đục thủy tinh thể bằng hút qua ống đã được thực hiện chắc chắn.
Người sáng lập phẫu thuật lấy thủy tinh thể ngoài bao hiện đại là bác sĩ phẫu thuật người Pháp Jacques Daviel. Năm 1745 (hoặc 1750 theo một số nguồn), Daviel đã thực hiện ca phẫu thuật lấy thủy tinh thể ngoài bao có kế hoạch đầu tiên qua đường rạch dưới.
Phương pháp của Daviel như sau:
Mặc dù đây là một tiến bộ lớn so với phương pháp đẩy lệch thủy tinh thể, các biến chứng như đục bao sau, sót thủy tinh thể và nhiễm trùng vẫn còn phổ biến.
| Thời kỳ | Kỹ thuật | Đặc điểm |
|---|---|---|
| Cổ đại ~ thế kỷ 18 | Phương pháp đẩy lệch thủy tinh thể | Đẩy thủy tinh thể ra khỏi trục thị giác |
| 1745 | Phẫu thuật lấy thủy tinh thể ngoài bao | Lấy thủy tinh thể qua đường rạch giác mạc |
| 1753 | ICCE | Lấy toàn bộ thủy tinh thể cùng bao |
Năm 1753, bác sĩ phẫu thuật người London Samuel Sharp đã ghi nhận ca phẫu thuật lấy thủy tinh thể trong bao (ICCE) đầu tiên. Đây là kỹ thuật lấy toàn bộ thủy tinh thể đục và bao xung quanh ra ngoài như một khối. Các dây chằng Zinn bị cắt đứt và phức hợp thủy tinh thể-bao được lấy ra qua một đường rạch giác mạc lớn.
Vào những năm 1850, von Graefe đã thực hiện phẫu thuật lấy thủy tinh thể ngoài bao với đường rạch phía trên bằng dao thẳng, và cũng thực hiện phẫu thuật lấy thủy tinh thể trong bao bằng kẹp bao.
Các vấn đề chính của ICCE như sau:
Năm 1884, bác sĩ người Áo Koller bắt đầu gây tê tại chỗ mắt bằng thuốc nhỏ cocaine. Điều này cải thiện đáng kể việc kiểm soát đau trong phẫu thuật đục thủy tinh thể. Năm 1919, Elschnig bắt đầu gây tê hậu nhãn cầu, và năm 1993, Fishman báo cáo sử dụng gây tê nhỏ mắt.
Sau khi lấy thủy tinh thể, bệnh nhân trở nên không có thủy tinh thể. Trước khi có IOL, cần đeo kính có độ phóng đại cao và cồng kềnh, làm giảm đáng kể chất lượng thị giác.
Năm 1797, Casamata ở Dresden đã cố gắng đặt một thấu kính nội nhãn bằng thủy tinh sau phẫu thuật đục thủy tinh thể. Tuy nhiên, thấu kính đã rơi ra phía sau mắt và thất bại.
Năm 1949, Ngài Harold Ridley đã thực hiện ca phẫu thuật cấy ghép IOL đầu tiên trên thế giới tại Bệnh viện St. Thomas, London. Ridley, người đã nói “Chỉ lấy ra thôi mới chỉ là một nửa điều trị đục thủy tinh thể”, đã quan sát thấy trong Thế chiến thứ hai rằng các mảnh nhựa (PMMA) còn sót lại trong mắt của các phi công Không quân Anh hầu như không gây ra phản ứng. Từ quan sát này, IOL bằng PMMA đã được phát triển.
IOL ban đầu lớn và nặng hơn so với hiện tại, dẫn đến nhiều trường hợp rơi vào trong mắt.
Vào thời điểm đó, bản thân khái niệm về IOL đã mang tính cách mạng, và có nhiều chỉ trích mạnh mẽ về việc đưa vật thể lạ vào trong mắt. Mặc dù có các biến chứng như tăng nhãn áp, viêm, lệch IOL và khó khăn trong điều chỉnh công suất khúc xạ, nhưng sự đổi mới của Ridley đã trở thành nền tảng cho công nghệ IOL hiện đại.
IOL PMMA
Chất liệu: Polymethyl methacrylate (PMMA)
Ca ghép đầu tiên: 1949, Ngài Harold Ridley
Đặc điểm: Thấu kính cứng. Yêu cầu đường rạch lớn.
IOL Gấp lại được
Chất liệu: Silicone (ban đầu), acrylic, v.v.
Ca ghép đầu tiên: 1978, Zhou Kaiyi
Ưu điểm: Có thể đưa vào qua đường rạch nhỏ. Giảm loạn thị và nhiễm trùng sau phẫu thuật.
Năm 1978, Kai-yi Zhou đã cấy ghép IOL gấp lại bằng silicone đầu tiên. IOL gấp lại cho phép đưa vào qua đường rạch nhỏ, mang lại những lợi ích sau:
Sau khi cắt bỏ thủy tinh thể, mắt không còn thủy tinh thể được kê kính cầu lồi có độ phóng đại cao. Tuy nhiên, chất lượng thị giác bị suy giảm đáng kể do méo mó thị trường và phóng đại hình ảnh.
Năm 1967, Charles Kelman đã phát triển phương pháp tán nhuyễn thủy tinh thể bằng siêu âm. Đây là kỹ thuật dùng sóng siêu âm để nghiền nát đục thủy tinh thể và hút ra khỏi mắt. Sự đổi mới công nghệ này đã mang lại những tiến bộ sau:
Quy trình tiêu chuẩn hiện đại như sau:
| Phương pháp phẫu thuật | Kích thước đường rạch | Thời kỳ chính |
|---|---|---|
| Phẫu thuật lấy thủy tinh thể ngoài bao (truyền thống) | 10 mm trở lên | Thế kỷ 18 trở đi |
| ICCE | 10mm trở lên | 1753– |
| Phẫu thuật tán nhuyễn thủy tinh thể | Dưới 3mm | 1967– |
Phẫu thuật đục thủy tinh thể đường rạch nhỏ không khâu (MSICS / SICS / SECCE) được phát triển như một dạng tiến hóa của phẫu thuật lấy thủy tinh thể ngoài bao. Đường rạch tự đóng kín và không cần khâu. So với phẫu thuật tán nhuyễn thủy tinh thể bằng siêu âm, phương pháp này chi phí thấp hơn và không đòi hỏi kỹ thuật cao, do đó chủ yếu được sử dụng ở các nước đang phát triển.
Thay đổi lớn nhất là giảm chiều rộng đường rạch từ 10 mm xuống dưới 3 mm. Điều này giúp rút ngắn đáng kể thời gian hồi phục sau phẫu thuật và giảm tỷ lệ biến chứng.
FLACS đã được FDA Hoa Kỳ phê duyệt vào năm 2010. Laser femtosecond có khả năng chụp ảnh giác mạc, bao thể thủy tinh và tiền phòng, đồng thời tự động hóa các thao tác sau:
Đặc biệt hữu ích khi đặt các loại kính nội nhãn có giá trị gia tăng như IOL toric, đa tiêu cự hoặc ba tiêu cự.
Phẫu thuật đục thủy tinh thể hiện đại rất an toàn và hiệu quả, và độ chính xác cao hơn đang được theo đuổi.
FLACS có ưu thế về độ chính xác trong rạch giác mạc và cắt bao trước. Tuy nhiên, hiện tại chưa có kết luận chắc chắn về sự vượt trội so với phương pháp truyền thống, và quyết định được đưa ra theo từng trường hợp dựa trên chi phí và chỉ định.