U xương
Tần suất: 60-80% bệnh nhân FAP
Vị trí thường gặp: xương hàm, xoang cạnh mũi, xương sọ
Ý nghĩa chẩn đoán: ≥3 gợi ý mạnh GS. Có thể xuất hiện trước chẩn đoán FAP 17 năm
Hội chứng Gardner (GS) là một biến thể kiểu hình của bệnh đa polyp tuyến gia đình (FAP). Ngoài đa polyp tuyến đại tràng, bệnh còn đặc trưng bởi các khối u ngoài đại tràng như u xương, u mô mềm (u desmoid) và nang biểu bì. Kiểu di truyền là trội nhiễm sắc thể thường.
Gen gây bệnh là gen APC (adenomatous polyposis coli), nằm trên nhiễm sắc thể 5q21. Đột biến dòng mầm gây ra bệnh, với xác suất di truyền cho con là 50%. Tỷ lệ mắc bệnh ước tính khoảng 1 trên 100.000-160.000 người 4).
FAP có các phân nhóm sau 1).
Hội chứng Gardner chiếm khoảng 1% tổng số ung thư đại tràng 1). Polyp đại tràng bắt đầu xuất hiện từ khoảng 10 tuổi, lên đến hàng trăm đến hàng chục nghìn. Nếu không điều trị, 50% bệnh nhân phát triển ung thư đại tràng ở tuổi 40, và gần như tất cả ở tuổi 60. Đột biến de novo xảy ra ở khoảng 20-30% trường hợp 1)5).
Đột biến de novo (đột biến mới) trên gen APC xảy ra với tần suất khoảng 20-30%, do đó bệnh có thể phát sinh ngay cả khi không có tiền sử gia đình1)5). Cần lưu ý rằng không có tiền sử gia đình không loại trừ GS.

Polyp đại tràng thường không có triệu chứng, do đó thường bị phát hiện muộn. Khi có triệu chứng, các triệu chứng chính bao gồm:
CHRPE (phì đại bẩm sinh biểu mô sắc tố võng mạc) là dấu hiệu ngoài đại tràng sớm nhất của GS, tồn tại từ khi sinh ra 1).
Tuy nhiên, không thể loại trừ GS ngay cả khi không có CHRPE 2).
U xương
Tần suất: 60-80% bệnh nhân FAP
Vị trí thường gặp: xương hàm, xoang cạnh mũi, xương sọ
Ý nghĩa chẩn đoán: ≥3 gợi ý mạnh GS. Có thể xuất hiện trước chẩn đoán FAP 17 năm
CHRPE
Tần suất: 74% bệnh nhân FAP
Đặc điểm: hai bên, nhiều, hình hạt đậu. Tồn tại từ khi sinh, dấu hiệu sớm nhất
Lưu ý: Không thể loại trừ GS ngay cả khi không có CHRPE
Nang biểu bì
Tần suất: khoảng 70%
Vị trí ưa thích: đầu và cổ
Đặc điểm: xuất hiện từ khi còn trẻ, thường có nhiều cái
U Desmoid
Tần suất: 12-15% bệnh nhân FAP
Vị trí thường gặp: Bụng (37-50%), tiếp theo là vùng vai và thành ngực
Lưu ý: Nguyên nhân tử vong thứ hai sau ung thư đại trực tràng ở bệnh nhân FAP. Tỷ lệ tử vong 10-50%
Gặp ở 30-75% bệnh nhân FAP1). Răng ngầm và răng thừa (11-27% ở bệnh nhân FAP so với 0-4% ở dân số chung)1).
Nguy cơ mắc các khối u ác tính ngoài đại tràng cũng tăng lên.
| Ung thư biểu mô | Nguy cơ suốt đời |
|---|---|
| Ung thư tuyến giáp | FAP 2–12%, thể Gardner 10% |
| Ung thư ruột non | 4–12% |
| Ung thư tuyến tụy | Khoảng 1% |
(Nguồn: Tài liệu tham khảo 1)1)
CHRPE lẻ tẻ có thể gặp ở dân số chung với tần suất 1,2–4,4%, do đó chỉ có CHRPE không thể khẳng định hội chứng Gardner. CHRPE liên quan đến hội chứng Gardner có đặc điểm là hai bên, nhiều ổ, hình hạt đậu và ranh giới không đều. Ngược lại, hội chứng Gardner không thể bị loại trừ ngay cả khi không có CHRPE2).
Nguyên nhân của GS là đột biến dòng mầm ở gen APC (5q21). Phần lớn các đột biến là dịch khung hoặc vô nghĩa, dẫn đến sản xuất protein APC bị cắt cụt (mất chức năng).
Có mối tương quan rõ ràng giữa vị trí đột biến và kiểu hình 1).
| Vị trí đột biến | Kiểu hình liên quan |
|---|---|
| Codon 311–1444 | CHRPE |
| Codon 767–1578 | U xương |
| Exon 1399 trở đi | U desmoid (nguy cơ cao gấp 800 lần) |
| Codon 1309 | Ung thư đại tràng sớm ở tuổi 20 |
Vùng tập trung đột biến (mutation cluster region; MCR) là các codon 1250–1464 1), và đột biến phổ biến nhất là ở codon 1309 (khoảng 10% tổng số), tiếp theo là codon 1061 (khoảng 5%) 1). Tuổi khởi phát ung thư đại trực tràng cũng khác nhau tùy theo vị trí đột biến: ở codon 1309 khoảng 20 tuổi, ở codon 168–1580 khoảng 30 tuổi, và ở các vị trí khác khoảng 52 tuổi 1).
Xét nghiệm di truyền phân tử gen APC có thể thực hiện từ khi còn nhỏ. Nội soi đại tràng thường được khuyến cáo bắt đầu từ khoảng 10 tuổi. Nếu đã biết có đột biến APC trong gia đình, điều quan trọng là xác nhận sự có hay không của đột biến bằng xét nghiệm gen.
Chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm di truyền phân tử gen APC. Khuyến cáo sử dụng xét nghiệm bảng giải trình tự thế hệ mới (NGS) 1).
Xét nghiệm di truyền phân tử gen APC là cơ sở để chẩn đoán xác định hội chứng Gardner, nhưng ở một số bệnh nhân, đột biến có thể không được phát hiện. Việc sử dụng xét nghiệm bảng gen NGS đã cải thiện tỷ lệ phát hiện 1). Kết quả xét nghiệm di truyền được đánh giá tổng hợp cùng với các dấu hiệu lâm sàng.
Bản thân CHRPE không ác tính hóa và không ảnh hưởng đến chức năng thị giác. Không cần can thiệp nhãn khoa, chỉ theo dõi định kỳ.
Được sử dụng trước phẫu thuật hoặc trong trường hợp nhẹ nhằm ức chế sự phát triển của polyp.
Chỉ dùng thuốc đơn thuần không thể loại bỏ nguy cơ ung thư đại tràng.
Cắt đại tràng được khuyến cáo thực hiện trước 25 tuổi, lý tưởng nhất là ở độ tuổi 16–202). Có ba loại phẫu thuật chính2).
Cắt Toàn Bộ Đại Trực Tràng + Hậu Môn Nhân Tạo Hồi Tràng Vĩnh Viễn
Đặc điểm: Phẫu thuật triệt để nhất. Không còn biểu mô đại tràng
Lợi ích: Giảm tối đa nguy cơ ung thư đại tràng
Nhược điểm: Cần phải có hậu môn nhân tạo vĩnh viễn, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống
Phẫu thuật cắt toàn bộ đại trực tràng phục hồi với nối túi hồi tràng-hậu môn
Đặc điểm: Kỹ thuật bảo tồn tính liên tục của ruột
Ưu điểm: Tránh được hậu môn nhân tạo vĩnh viễn
Nhược điểm: Nguy cơ biến chứng tiết niệu và sinh dục
Cắt toàn bộ đại tràng với nối hồi tràng-trực tràng
Đặc điểm: Ít xâm lấn, phù hợp cho bệnh nhân trẻ tuổi
Lợi ích: Xâm lấn phẫu thuật tương đối ít
Nhược điểm: Cần theo dõi liên tục phần trực tràng còn lại
U mô tế bào sợi (desmoid) lành tính về mặt mô học, nhưng có tính xâm lấn tại chỗ cao và dễ tái phát. Điều trị cần phương pháp tiếp cận đa chuyên khoa 4)5).
Sau khi cắt đại tràng, tiếp tục theo dõi như sau 2).
Tùy thuộc vào số lượng polyp và mức độ loạn sản. Nếu có ít polyp, có thể theo dõi bằng thuốc như NSAID hoặc thuốc ức chế COX-2. Tuy nhiên, nếu có 20 polyp trở lên hoặc loạn sản độ cao, nên cắt bỏ dự phòng. Độ tuổi lý tưởng để phẫu thuật là 16-20 tuổi 2).
Protein APC là một chất ức chế khối u gồm 2800 axit amin. Cấu trúc miền chính của nó bao gồm vùng oligome hóa, các lặp armadillo, vùng liên kết β-catenin, vùng liên kết axin và vùng liên kết vi ống 1).
Đột biến APC gây hoạt hóa liên tục con đường tín hiệu Wnt. Protein APC bình thường phosphoryl hóa β-catenin và thúc đẩy sự phân hủy của nó trong proteasome. Trong đột biến APC, chức năng này bị mất, β-catenin tích tụ trong tế bào chất và tạo phức với yếu tố phiên mã TCF/LEF trong nhân, thúc đẩy phiên mã các gen tăng sinh tế bào.
Phần lớn các đột biến là đột biến dịch khung hoặc vô nghĩa, tạo ra protein APC bị cắt cụt (mất chức năng) 1).
Trong các khối u desmoid lẻ tẻ, đột biến CTNNB1 (gen β-catenin) được tìm thấy trong hơn 75% trường hợp và cùng con đường liên quan 3).
CHRPE xảy ra như một rối loạn tăng sinh tế bào khu trú ở biểu mô sắc tố võng mạc. Ở những vùng biểu mô sắc tố võng mạc tăng sinh bất thường, sắc tố tập trung và phì đại, tạo ra vẻ ngoài đặc trưng tương phản với các vùng khuyết sắc tố xung quanh. Hầu như không có khả năng ác tính hóa và không ảnh hưởng đến chức năng thị giác.
Xét nghiệm bảng giải trình tự thế hệ mới (NGS) đang cải thiện độ chính xác trong việc xác định vị trí đột biến trên gen APC1). Việc phân tầng nguy cơ dựa trên mối tương quan kiểu gen-kiểu hình đang tiến triển, và hy vọng sẽ xây dựng được các chiến lược giám sát và điều trị cá nhân hóa theo vị trí đột biến1).
Litchinko và cộng sự (2022) báo cáo một trường hợp hiếm gặp khối u desmoid lớn (170 mm) phát sinh từ tuyến tụy3). Quản lý đa chuyên khoa đã được thực hiện, cho thấy khó khăn trong việc xác định chỉ định và thời điểm phẫu thuật đối với desmoid tụy. Hiệu quả của sorafenib như một liệu pháp thuốc đang được chú ý, và việc áp dụng nó cho các trường hợp khó cắt bỏ đang được xem xét.
Việc ứng dụng siêu âm hội tụ cường độ cao (HIFU) như một liệu pháp không xâm lấn cho desmoid cũng đang trong giai đoạn nghiên cứu3).
Albuquerque và cộng sự (2025) báo cáo một trường hợp u desmoid ở trẻ em cần tái tạo chức năng khớp vai5). Phương pháp tiếp cận đa chuyên khoa bao gồm hóa trị trước phẫu thuật với vinblastine và methotrexate đã đạt được bảo tồn chức năng và kiểm soát khối u. Desmoid ở đai vai và thành ngực chiếm 37-50% các trường hợp, nhấn mạnh tầm quan trọng của tái tạo chức năng ở trẻ em.
Diaz và cộng sự (2025) báo cáo một trường hợp hội chứng Gardner (GS) biểu hiện tình huống khó xử về phẫu thuật bao gồm ung thư biểu mô tế bào đáy xâm lấn và biến chứng thay khớp gối toàn phần, cho thấy cần quản lý đa chuyên khoa đối với các biến chứng hiếm gặp4). Với tỷ lệ mắc 1 trên 100.000-160.000 người, tầm quan trọng của y học cá thể hóa ngày càng tăng trong bệnh này.