Bỏ qua đến nội dung
Tạo hình mắt

Các vấn đề ở mí mắt sau phẫu thuật thẩm mỹ

1. Vấn đề ở mí mắt sau phẫu thuật thẩm mỹ là gì

Phần tiêu đề “1. Vấn đề ở mí mắt sau phẫu thuật thẩm mỹ là gì”

Là thuật ngữ chung chỉ các biến chứng về mắt và hình thái xảy ra sau phẫu thuật thẩm mỹ mí mắt, như phẫu thuật tạo mí đôi, lấy mỡ mí mắt và chỉnh sụp mi.

Phẫu thuật thẩm mỹ mí mắt là một trong những thủ thuật thường gặp nhất trong phẫu thuật tạo hình, bao gồm phẫu thuật tạo mí đôi (phương pháp khâu và rạch), lấy mỡ mí mắt (mí trên và mí dưới), và chỉnh sụp mi vì mục đích thẩm mỹ. Dù kỹ thuật phẫu thuật đã cải thiện, biến chứng vẫn xảy ra ở một tỷ lệ nhất định, và đánh giá nhãn khoa là rất cần thiết cho chẩn đoán và xử trí2).

Các biến chứng được phân loại theo thời điểm xuất hiện thành biến chứng sớm (trong vài tuần sau mổ) và biến chứng muộn (sau vài tháng đến vài năm). Biến chứng sớm gồm nhiễm trùng, tụ máu, áp-xe chỉ khâu, chỉnh quá mức và chỉnh chưa đủ; biến chứng muộn gồm sụp mi, không khép kín mí mắt, nếp mí đôi không đều, lật mí ra ngoài, hõm mí trên (hollow eye) do lấy bỏ quá nhiều mỡ hốc mắt, khô mắt nặng hơn, sẹo và sẹo lồi2,5).

Bệnh nhân đã phẫu thuật ở cơ sở thẩm mỹ có thể đến khám chuyên khoa mắt hoặc phẫu thuật tạo hình mắt vì biến chứng. Bác sĩ nhãn khoa cần chẩn đoán đúng các biến chứng này và quyết định giữa điều trị bảo tồn, phẫu thuật chỉnh sửa hay chuyển chuyên khoa khác2).

Q Sau phẫu thuật thẩm mỹ mí mắt có thể gặp những vấn đề gì?
A

Ở giai đoạn sớm (trong vài tuần sau phẫu thuật), có thể xảy ra nhiễm trùng, tụ máu, áp-xe chỉ khâu, chỉnh quá mức (khe hở mi, tức mắt khó nhắm kín) hoặc chỉnh thiếu (mất nếp mí đôi hoặc bất đối xứng). Ở giai đoạn muộn (vài tháng đến nhiều năm sau), có thể xuất hiện sụp mi, khe hở mi mạn tính, nếp mí đôi không đều, hõm mí trên (hollow eye) do lấy mỡ hốc mắt quá nhiều, và khô mắt nặng hơn.

2. Phân loại và triệu chứng của biến chứng

Phần tiêu đề “2. Phân loại và triệu chứng của biến chứng”
Lật mi dưới do sẹo: kéo mi dưới, lộ củng mạc và đỏ kết mạc sau phẫu thuật thẩm mỹ mí mắt
Lật mi dưới do sẹo: kéo mi dưới, lộ củng mạc và đỏ kết mạc sau phẫu thuật thẩm mỹ mí mắt
Oestreicher J, Mehta S. Complications of Blepharoplasty: Prevention and Management. Plast Surg Int. 2012;2012:252368. DOI: 10.1155/2012/252368. Figure 4. License: CC BY 3.0. PMCID: PMC3357590.
Dấu hiệu lâm sàng của lật mi do sẹo, trong đó bờ mi dưới bị kéo mạnh xuống dưới và ra ngoài, kết mạc sụn mi lộ rộng và đỏ, và củng mạc lộ nhiều. Đây là tình trạng lật mi được đề cập trong mục “Phân loại và triệu chứng của biến chứng” (kéo lá trước do co rút sẹo).

2-1. Biến chứng sớm (trong vài tuần sau phẫu thuật)

Phần tiêu đề “2-1. Biến chứng sớm (trong vài tuần sau phẫu thuật)”
Biến chứngThời điểm xuất hiệnTriệu chứng chínhNguyên nhân chính
Nhiễm trùng / viêm mô tế bào hốc mắtVài ngày đến 1 tuần sau phẫu thuậtĐỏ, sưng, đau, sốtNhiễm khuẩn
tụ máuvài giờ đến vài ngày sau phẫu thuậtsưng mi mắt, chảy máu dưới da và đaucầm máu không đủ
áp xe chỉ khâu1 đến vài tuần sau phẫu thuậtchỗ cứng, chảy mủ và cảm giác có dị vậtphản ứng dị vật với chỉ khâu chôn dưới da
quá chỉnhngay sau phẫu thuật đến vài tuầnkhe mi mở rộng, không nhắm kín mi mắt và khô giác mạccắt bỏ quá nhiều da và cơ
Hiệu chỉnh thiếuNgay sau phẫu thuật đến vài tuầnMất hoặc không đối xứng nếp míCố định không đủ và chỉ khâu lỏng

Nhiễm trùng gây đỏ, sưng, đau và sốt; nếu tiến triển thành viêm mô tế bào ổ mắt thì cần xử trí khẩn cấp. Tụ máu có thể xuất hiện sớm sau phẫu thuật khi cầm máu không đủ, và tụ máu lớn có thể chèn ép dây thần kinh thị giác, gây giảm thị lực5). Áp-xe chỉ khâu xảy ra do phản ứng dị vật với sợi chỉ dùng trong phương pháp khâu vùi, và tháo chỉ là điều trị triệt để2).

Quá chỉnh xảy ra khi lấy đi quá nhiều da và cơ vòng mi, làm khe mi quá rộng và khiến không thể nhắm kín mắt. Nếu tình trạng nhắm mắt không kín kéo dài, giác mạc có thể bị khô, làm tăng nguy cơ viêm giác mạc do hở (bệnh giác mạc do không nhắm kín mắt). Hiệu chỉnh thiếu xảy ra khi cố định mí đôi không đủ, khiến nếp mí mất đi hoặc bị không đối xứng.

2-2. Biến chứng muộn (vài tháng đến nhiều năm)

Phần tiêu đề “2-2. Biến chứng muộn (vài tháng đến nhiều năm)”
Biến chứngThời điểm khởi phátTriệu chứng chínhNguyên nhân chính
Sụp miVài tuần đến vài thángKhông mở được hoàn toàn mí mắt, rối loạn thị trườngTổn thương cân cơ nâng mi và co kéo sẹo
Mí mắt không nhắm kínTừ vài tuần đến kéo dàiKhô giác mạc, viêm giác mạc do hở, cảm giác cộm như có dị vậtCắt bỏ quá nhiều da và cơ vòng mi
Mắt trũngVài thángLõm mí trên, mắt trũng, vấn đề thẩm mỹCắt bỏ quá nhiều mỡ hốc mắt
Lật mi ra ngoài và lộn mi vào trongTừ vài tuần đến vài thángChảy nước mắt, cảm giác có dị vật, tổn thương giác mạcCo kéo sẹo và dính
Khô mắt nặng hơnSau phẫu thuật và kéo dàiCảm giác khô, cảm giác có dị vật, giảm thị lựcTổn thương kết mạc và tuyến lệ
Nếp mí không đềuSau phẫu thuật và kéo dàiKhông đối xứng, quá cao hoặc mất điVấn đề cố định và sẹo
Sẹo và sẹo lồiVài tuần đến vài thángSẹo phì đại và vấn đề thẩm mỹCơ địa dễ sẹo, sau nhiễm trùng

Sụp mi có thể xảy ra do tổn thương cân cơ nâng mi trong quá trình phẫu thuật hoặc do co kéo sẹo sau mổ. Hở mi là hậu quả của việc cắt bỏ quá nhiều da và cơ vòng mi, khiến lượng mô cần thiết để nhắm kín mắt không còn đủ. Hollow eye (lõm mi trên) là tình trạng lõm của mi trên do cắt bỏ quá nhiều mỡ hốc mắt, vừa gây vấn đề thẩm mỹ vừa có thể kèm theo lõm nhãn cầu 1).

Lật mi ra ngoài xảy ra do lực kéo hướng ra ngoài từ việc cắt bỏ quá nhiều lớp trước (da và cơ vòng mi) cùng với co kéo sẹo, gây chảy nước mắt và tổn thương giác mạc. Lật mi vào trong là do lực kéo lớp sau bởi chỉ khâu hoặc dính 2).

Q Vì sao sau phẫu thuật thẩm mỹ lại khó nhắm mắt hơn?
A

Khép mi cần sự co của cơ vòng mi và đủ lượng da. Nếu cắt bỏ quá nhiều da và cơ vòng mi trong phẫu thuật tạo hai mí hoặc lấy mỡ mí mắt, sẽ thiếu mô cần thiết để nhắm kín mắt, khiến mắt không thể nhắm hoàn toàn (hở mi). Nếu hở mi kéo dài, giác mạc có thể bị khô và có nguy cơ viêm giác mạc do lộ. Bề mặt mắt được bảo vệ bằng nước mắt nhân tạo và thuốc mỡ mắt, và các trường hợp nặng có thể cần ghép da.

Phẫu thuật thẩm mỹ mi mắt là một trong những nhóm phẫu thuật được thực hiện nhiều nhất trong phẫu thuật thẩm mỹ. Phẫu thuật tạo hai mí (phương pháp luồn chỉ và phương pháp rạch) được thực hiện rất rộng rãi, đặc biệt ở châu Á, bao gồm Nhật Bản, và chủ yếu được tiến hành với số lượng lớn tại các cơ sở phẫu thuật thẩm mỹ.

Dữ liệu có hệ thống về tần suất chính xác của biến chứng còn hạn chế. Các biến chứng nhẹ của blepharoplasty (khô mắt nhẹ, phù kết mạc, u hạt, sụp mi, lộ củng mạc) được báo cáo là khá thường gặp 2), và phần lớn có thể hồi phục nếu được xử trí phù hợp.

Trong các biến chứng sau phẫu thuật được thực hiện tại cơ sở phẫu thuật thẩm mỹ, việc chỉnh sửa sụp mi, xử trí hở mi và chỉnh sửa hollow eye là những vấn đề cần quan tâm. Ở các trường hợp có tổn thương giác mạc hoặc lệch vị trí mi mắt, sự phối hợp giữa phẫu thuật thẩm mỹ và nhãn khoa/phẫu thuật tạo hình mắt là rất quan trọng 5).

Trong chẩn đoán biến chứng sau phẫu thuật thẩm mỹ mi mắt, khai thác chi tiết tiền sử phẫu thuật là quan trọng nhất. Cần xác nhận phương pháp phẫu thuật (phương pháp luồn chỉ, phương pháp rạch, có lấy mỡ hay không), thời điểm phẫu thuật, người thực hiện và diễn tiến sau mổ. Nếu có ảnh trước mổ, chúng hữu ích để so sánh với tình trạng trước phẫu thuật.

Hạng mục khámMục đíchPhương pháp và đánh giá
Đo MRD-1Đánh giá vị trí mi mắtKhoảng cách từ phản xạ giác mạc đến bờ mi trên (bình thường 4–5 mm). So sánh với ảnh trước mổ
Khám chức năng cơ nâng miĐánh giá tổn thương cân cơ nâng miKhoảng di chuyển của bờ mi từ nhìn xuống đến nhìn lên (bình thường ≥ 15 mm)
Nhuộm giác mạc bằng fluoresceinĐánh giá mức độ tổn thương giác mạcXác định kiểu tổn thương biểu mô do mi mắt không nhắm kín
Khám đèn kheKiểm tra còn chỉ khâu và tình trạng viêmQuan sát chi tiết phần trước của mắt, xem có chỉ khâu hoặc tổn thương giác mạc hay không
Đánh giá tính đối xứngGhi nhận bất thường về hình dạngGhi hình ảnh (nhìn thẳng, nhìn lên, nhìn xuống và khi nhắm mắt)
Xét nghiệm khô mắtĐánh giá khô mắt sau phẫu thuậtNghiệm pháp Schirmer và đo thời gian vỡ màng phim nước mắt (BUT)

MRD-1 (margin reflex distance 1) là khoảng cách từ phản xạ ánh sáng ở trung tâm giác mạc đến bờ mi trên, và cho phép đánh giá khách quan vị trí mi mắt. Bình thường là 4–5 mm, và nếu giảm sau phẫu thuật thì gợi ý biến chứng sụp mi3).

Trong xét nghiệm chức năng cơ nâng mi, đo khoảng cách bờ mi di chuyển từ nhìn xuống sang nhìn lên. Nếu chức năng cơ nâng mi còn tốt (≥ 15 mm), tiên lượng sau khi cố định lại cân cơ nâng mi sẽ thuận lợi, và điều này được dùng để giúp lựa chọn phương pháp phẫu thuật.

Khi đánh giá hở mi, ghi lại khe mi còn lại bằng mm trong lúc nhắm mắt thật chặt theo ý thức, nhắm mắt nhẹ và chớp mắt. Quan sát ở tư thế nằm ngửa cũng rất quan trọng, vì hở mi có thể rõ hơn so với tư thế ngồi. Nếu nghi ngờ hở mi khi ngủ, nên nhờ người nhà chụp ảnh mắt trong lúc ngủ.

Với nhuộm fluorescein, tổn thương biểu mô giác mạc liên quan đến hở mi có kiểu điển hình là xuất hiện theo từng vùng ở phần dưới. Đánh giá phạm vi và độ sâu của tổn thương biểu mô ở phần dưới giác mạc, và chọn điều trị theo mức độ nặng.

Q Nếu có biến chứng sau phẫu thuật thẩm mỹ mí mắt thì nên đi khám ở đâu?
A

Khuyến nghị khám chuyên khoa mắt hoặc phẫu thuật tạo hình mắt. Ngay cả khi đã phẫu thuật tại cơ sở phẫu thuật thẩm mỹ, vẫn cần các xét nghiệm nhãn khoa như đo MRD-1 và nhuộm giác mạc để đánh giá tổn thương giác mạc do hở mi và sụp mi. Khi đi khám, mang theo thông tin về phương pháp phẫu thuật, thời điểm phẫu thuật, người thực hiện và ảnh trước phẫu thuật (nếu có) sẽ giúp đánh giá chính xác hơn.

5. Các phương pháp điều trị tiêu chuẩn

Phần tiêu đề “5. Các phương pháp điều trị tiêu chuẩn”

Bảo vệ bề mặt mắt:

Trong tổn thương giác mạc do không nhắm kín được mi mắt, bảo vệ bề mặt mắt là ưu tiên hàng đầu.

  • Nước mắt nhân tạo: Nhỏ thường xuyên thuốc nhỏ mắt natri hyaluronat hoặc tương tự (4 đến 8 lần mỗi ngày hoặc hơn)
  • Thuốc mỡ mắt: Tra thuốc mỡ mắt kháng sinh (như thuốc mỡ ofloxacin) trước khi đi ngủ để bảo vệ bề mặt mắt và giúp mắt nhắm lại
  • Dán băng: Sau khi tra thuốc mỡ mắt trước khi ngủ, dán băng theo chiều dọc từ mi trên xuống mi dưới để giúp mắt nhắm lại
  • Che mắt / buồng ẩm: Giữ độ ẩm quanh mắt và giảm khô giác mạc

Xử trí nhiễm trùng:

Với nhiễm trùng và viêm mô tế bào hốc mắt, dùng thuốc nhỏ mắt kháng sinh và kháng sinh đường uống (hoặc truyền tĩnh mạch). Áp-xe chỉ khâu thì lấy chỉ khâu ra là điều trị khỏi.

Kiểm soát viêm:

Có thể dùng thuốc nhỏ mắt steroid cho phù kết mạc sau phẫu thuật (chemosis) và viêm.

Xử trí phẫu thuật các biến chứng sớm

Nhiễm trùng và viêm mô tế bào: điều trị bằng kháng sinh. Nếu hình thành áp-xe, cần rạch và dẫn lưu.

Tụ máu: chườm ép ngay sau phẫu thuật. Tụ máu lớn hoặc trường hợp chèn ép dây thần kinh thị giác cần dẫn lưu khẩn cấp.

Áp-xe chỉ khâu: với áp-xe chỉ khâu do kỹ thuật chôn chỉ, tháo chỉ là điều trị triệt để.

Sửa quá mức (hở mi): trường hợp nhẹ được theo dõi và bảo vệ bề mặt nhãn cầu. Trường hợp trung bình đến nặng có thể cần phẫu thuật sửa bằng kéo lùi aponeurosis hoặc ghép da.

Xử trí phẫu thuật các biến chứng muộn

Sụp mi: cố định lại cân cơ nâng mi là điều trị chuẩn. Khâu lại aponeurosis vào sụn mi.

Hở mi: tái tạo lá trước bằng ghép da hoặc vạt. Trường hợp nặng cần ghép da toàn lớp.

Hollow eye: tiêm mỡ hoặc tiêm acid hyaluronic. Có thể khó phục hồi hoàn toàn1).

Lộn mi ra ngoài: ghép da lá trước, sửa dây chằng và cố định khóe mắt ngoài (phương pháp lateral tarsal strip). Lộn mi vào trong được điều trị bằng cắt mô sẹo và tháo chỉ khâu.

Trong trường hợp hở mi nặng (do cắt bỏ quá mức da và cơ vòng mi), tổn thương giác mạc sẽ tiến triển nếu chỉ điều trị bảo tồn. Các phẫu thuật chỉnh sửa sau được thực hiện.

  • Ghép da (ghép da toàn bộ): ghép da toàn bộ lấy từ sau tai hoặc mặt trong cánh tay trên vào vùng bị cắt bỏ quá mức
  • Vạt da (vạt tại chỗ): dùng da lân cận để cải thiện tình trạng hở mi
  • Kéo lùi aponeurosis: trong trường hợp hở mi do chỉnh quá mức (khe mi mở rộng), kéo lùi (làm giãn) aponeurosis của cơ nâng mi

Với sụp mi sau mổ do tổn thương aponeurosis của cơ nâng mi, phẫu thuật cố định lại aponeurosis của cơ nâng mi là điều trị tiêu chuẩn. Xác định hai đầu bị đứt của aponeurosis rồi khâu lại vào bản sụn mi (bản mi bị chùng). Cũng có chỉ định trong sụp mi thứ phát do co kéo sẹo sau mổ, nhưng tùy mức độ sẹo có thể cần phẫu thuật kéo tiến aponeurosis hoặc thủ thuật treo (phương pháp frontalis sling).

Với hõm mi trên (hollow eye) do cắt bỏ quá mức mỡ ổ mắt, có thể thực hiện các biện pháp sau1).

  • Tiêm mỡ tự thân: mỡ lấy từ bụng hoặc đùi được tiêm vào mi trên. Tỷ lệ tồn tại của mỡ thay đổi và có thể cần tiêm nhiều lần
  • Tiêm acid hyaluronic: có ưu điểm hiệu quả ngay, nhưng tác dụng tạm thời (khoảng 6–18 tháng) và cần tiêm nhắc lại định kỳ
  • Ghép mỡ hốc mắt: Cũng đã có báo cáo về phương pháp sử dụng mỡ hốc mắt từ vị trí khác4)

Cần giải thích cho bệnh nhân rằng việc hồi phục hoàn toàn có thể khó khăn.

Q Có thể điều trị hollow eye (lõm mí trên) không?
A

Với hollow eye do cắt bỏ quá mức mỡ hốc mắt, có thể tiêm mỡ hoặc tiêm axit hyaluronic1). Tiêm mỡ dùng mô tự thân nên có thể cho kết quả tự nhiên hơn, nhưng tỷ lệ mỡ sống còn thay đổi và đôi khi cần làm nhiều lần. Tiêm axit hyaluronic có tác dụng nhanh nhưng chỉ tạm thời và cần tiêm lại định kỳ. Trong một số trường hợp, việc hồi phục hoàn toàn có thể khó khăn, và để phòng ngừa, điều quan trọng nhất là cân nhắc kỹ lượng mỡ được lấy bỏ trong lần phẫu thuật đầu tiên.

6. Phòng ngừa và đánh giá trước phẫu thuật

Phần tiêu đề “6. Phòng ngừa và đánh giá trước phẫu thuật”

Để ngăn ngừa biến chứng của phẫu thuật thẩm mỹ mí mắt, việc đánh giá nhãn khoa đầy đủ trước phẫu thuật và lựa chọn kỹ thuật cẩn thận là rất cần thiết.

Đánh giá nhãn khoa trước phẫu thuật:

  • Đo MRD-1: Ghi lại vị trí mí mắt trước phẫu thuật và dùng làm so sánh sau phẫu thuật
  • Kiểm tra chức năng cơ nâng mi: Nắm chức năng khi không có tổn thương cân cơ nâng mi
  • Đánh giá khô mắt (nghiệm pháp Schirmer và BUT): Xác định tình trạng khô mắt sẵn có và tình trạng không nhắm kín mắt. Khô mắt trước phẫu thuật là yếu tố nguy cơ khiến tình trạng nặng hơn sau phẫu thuật
  • Đánh giá khép mí: Ghi lại tình trạng khép mí trước phẫu thuật và dùng làm mốc để đánh giá nguy cơ chỉnh quá mức

Lựa chọn kỹ thuật phẫu thuật một cách thận trọng:

  • Đánh giá thận trọng lượng da cần cắt bỏ: giữ mức cắt bỏ cơ vòng mi và da ở mức tối thiểu, tránh cắt bỏ quá mức
  • Hạn chế lượng mỡ cắt bỏ: cắt bỏ quá nhiều mỡ hốc mắt là nguyên nhân chính gây mắt lõm, vì vậy lượng cắt bỏ cần được giữ thận trọng
  • Đánh giá chỉ định của phương pháp khâu giấu chỉ so với phương pháp rạch: chọn kỹ thuật phù hợp tùy theo mức độ chùng da và tình trạng bản sụn mi

Đồng ý điều trị sau khi được giải thích:

Trước phẫu thuật, cần giải thích đầy đủ về nguy cơ biến chứng (không nhắm kín mắt, sụp mi, mắt lõm, v.v.). Đặc biệt, ở bệnh nhân có khô mắt, nguy cơ khô mắt nặng hơn sau phẫu thuật cao hơn, và đôi khi bắt đầu điều trị bằng thuốc nhỏ mắt trước phẫu thuật 2).

Phối hợp giữa phẫu thuật thẩm mỹ và nhãn khoa/phẫu thuật tạo hình mắt:

Các cơ sở phẫu thuật thẩm mỹ nên có hệ thống phối hợp với nhãn khoa hoặc phẫu thuật tạo hình mắt để có thể đánh giá mắt và xử trí biến chứng. Khi có biến chứng, cần có hệ thống chuyển khám phù hợp đến nhãn khoa hoặc phẫu thuật tạo hình mắt.

7. Sinh lý bệnh và cơ chế khởi phát chi tiết

Phần tiêu đề “7. Sinh lý bệnh và cơ chế khởi phát chi tiết”

Cơ nâng mi trên bám vào bản sụn mi thông qua cân cơ nâng mi (levator aponeurosis) và đảm nhiệm việc mở mắt. Trong phẫu thuật thẩm mỹ mí mắt, đặc biệt là phẫu thuật tạo hai mí bằng phương pháp rạch, phần cân này có thể bị tổn thương trực tiếp do thao tác phẫu thuật.

  • Tổn thương trực tiếp: cân bị cắt hoặc mỏng đi do dao mổ hoặc dao điện
  • Co kéo sẹo thứ phát: viêm sau phẫu thuật→hình thành sẹo→co kéo sẹo của cân→đứt cân và rối loạn chức năng
  • Phù/tụ máu cơ nâng mi: sưng sau mổ có thể làm giảm tạm thời chức năng cơ nâng mi, và sau khi hồi phục vẫn có thể để lại sẹo

Sụp mi sau phẫu thuật đã được báo cáo là một biến chứng của blepharoplasty và dễ xảy ra hơn sau phẫu thuật mi trên2).

Để nhắm kín mắt cần lực co của cơ vòng mi và đủ lớp trước (da và cơ vòng mi).

  • Cắt bỏ quá mức da và cơ vòng mi: lượng mô lớp trước cần cho việc nhắm kín mắt không đủ. Tình trạng này đặc biệt xảy ra khi cắt quá nhiều da trong phẫu thuật rạch
  • Co kéo sẹo: sẹo sau mổ kéo mi lên trên, gây không thể nhắm kín mắt về mặt cơ học
  • Kèm lật mi ra ngoài: tình trạng lật mi ra ngoài sau khi cắt bỏ quá mức lớp trước làm nặng thêm tình trạng không nhắm kín mắt

Không nhắm kín mắt → phim nước mắt bị phá vỡ → giác mạc khô → tổn thương biểu mô (bệnh giác mạc chấm nông) → khuyết biểu mô → nhiễm trùng → loét giác mạc có thể tiến triển theo trình tự này2).

Mỡ sau vách ngăn (post-septal fat) và mỡ trước vách ngăn (pre-septal fat) của mí trên tạo nên độ đầy đặn cho mí trên. Nếu lấy bỏ quá nhiều mỡ ổ mắt này:

  • Trũng mí trên (hollow eyelid): vấn đề thẩm mỹ khiến mí mắt trông lõm sâu khi nhìn từ phía trước
  • Lõm mắt: nhãn cầu bị kéo lùi ra sau do giảm thể tích hốc mắt (giống enophthalmos)

Biện pháp phòng ngừa quan trọng nhất là đánh giá đúng lượng mỡ cần cắt bỏ trong lần phẫu thuật đầu tiên, vì việc chỉnh sửa sau khi cắt quá nhiều rất khó4).

Lộn mi (ectropion) xảy ra khi cắt bỏ quá mức và co kéo sẹo của lá trước (da và cơ vòng mi) tạo ra lực kéo ra ngoài.

  • Co kéo sẹo da: sẹo theo chiều dọc gây căng kéo ra ngoài
  • Cắt bỏ quá nhiều mô theo chiều ngang: nếu cắt quá nhiều da theo chiều ngang, sẽ gây lực kéo theo hướng lộn mi

Trong phương pháp khâu chôn, chỉ không tự tiêu được đặt داخل mí mắt. Do phản ứng dị vật:

  • U hạt dị vật: mô hạt hình thành quanh chỉ
  • Hình thành áp-xe: nhiễm trùng và phản ứng dị vật quanh chỉ tiến triển, dẫn đến chảy mủ
  • Chỉ lộ ra ngoài: chỉ lộ trên bề mặt kết mạc, gây cảm giác cộm và nhiễm trùng

Những tình trạng này được chữa khỏi triệt để bằng cách lấy chỉ ra2).

  1. Morley AM, Malhotra R. Use of hyaluronic acid filler for tear-trough rejuvenation as an alternative to lower eyelid surgery. Ophthalmic Plast Reconstr Surg. 2011;27:69-74. doi:10.1097/iop.0b013e3181b80f93.
  2. Pacella SJ, Codner MA. Minor complications after blepharoplasty: dry eyes, chemosis, granulomas, ptosis, and scleral show. Plastic and reconstructive surgery. 2010;125(2):709-718. doi:10.1097/PRS.0b013e3181c830c7. PMID:20124856.
  3. Koka K, Zeppieri M, Vadeo A, Patel BC. Blepharoptosis (Ptosis): Classification, Evaluation, and Surgical Management. In: StatPearls [Internet]. Treasure Island (FL): StatPearls Publishing; 2026 Jan-. Last Update: 2026 Apr 19. Bookshelf ID: NBK539828. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK539828/
  4. Goldberg RA, Lessner AM, Shorr N, et al. The transconjunctival approach to the orbital floor and orbital fat: a prospective study. Ophthalmic Plast Reconstr Surg. 1990;6:241-246. doi:10.1097/00002341-199012000-00003.
  5. Oestreicher J, Mehta S. Complications of blepharoplasty: prevention and management. Plast Surg Int. 2012;2012:252368. doi:10.1155/2012/252368.

Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.