Trật IOL
Lệch IOL: Dưới giãn đồng tử, phần haptic nhìn thấy trong vùng đồng tử.
Rung mống mắt (Iridodonesis): Dấu hiệu của dây chằng Zinn bị lỏng.
Thoát dịch kính: Có thể kèm theo dịch kính nhô vào tiền phòng.
Đặt thủy tinh thể nhân tạo (IOL) thứ phát (Secondary IOL Implantation) là thuật ngữ chung cho các ca ghép IOL bổ sung được thực hiện để điều trị tình trạng không có thể thủy tinh xảy ra trong hoặc sau phẫu thuật đục thủy tinh thể chính, hoặc các vấn đề với IOL hiện có.
Trong chấn thương nhãn cầu hở (open globe injury; OGI), đặt IOL thì một làm tăng nguy cơ viêm nội nhãn, do đó đặt IOL thì hai được khuyến cáo 1).
Thay IOL chỉ thủ thuật lấy IOL hiện có và đặt IOL mới. Đặt IOL thứ phát là khái niệm rộng hơn, bao gồm cả đặt mới cho mắt không thủy tinh thể (aphakic) không có IOL. Bài viết này đề cập đến cả hai.
Trật IOL
Lệch IOL: Dưới giãn đồng tử, phần haptic nhìn thấy trong vùng đồng tử.
Rung mống mắt (Iridodonesis): Dấu hiệu của dây chằng Zinn bị lỏng.
Thoát dịch kính: Có thể kèm theo dịch kính nhô vào tiền phòng.
Đục IOL
Vôi hóa: Thường gặp ở IOL acrylic ưa nước. Xảy ra sau khi tiếp xúc với khí hoặc không khí trong mắt.
Đục thủy tinh thể thứ phát: Giảm thị lực do đục bao sau (có thể điều trị bằng laser Nd:YAG).
Cặn lắng trên bề mặt IOL: Thay đổi do viêm hoặc nhiễm trùng.
Đánh giá trước phẫu thuật đặt IOL thứ phát đòi hỏi kiểm tra chi tiết hơn về đoạn trước so với phẫu thuật đục thủy tinh thể thông thường.
Đặt IOL thứ phát sau chấn thương được thực hiện sau khi xác nhận nguy cơ nhiễm trùng và viêm đã giảm. Sau chấn thương nhãn cầu hở, thường khuyến cáo chờ ít nhất vài tháng1). Trong đặt IOL thứ phát sau biến chứng phẫu thuật đục thủy tinh thể, thời điểm tối ưu có thể là trong vòng 2-6 tuần sau phẫu thuật, trước khi bao trước bắt đầu đóng. Trong một khảo sát với 481 bác sĩ nhãn khoa Ấn Độ, khoảng thời gian 2-6 tuần là câu trả lời phổ biến nhất3).
Việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật dựa trên đánh giá từng bước sau đây.
Chỉ định khi rìa của đường mở bao trước liên tục còn nguyên toàn bộ chu vi. Sử dụng IOL acrylic ba mảnh để cố định ngoài bao (cần tránh cố định ngoài bao IOL acrylic một mảnh vì thường gây trật IOL, tăng nhãn áp và glôcôm).
Bắt quang học khi kết hợp sẽ cải thiện độ ổn định và trung tâm của IOL, giảm cận thị. Phương pháp tốt nhất là đặt các haptic vào rãnh thể mi và bắt quang học qua đường mở bao liên tục.
Trong cố định rãnh thể mi, IOL nằm ở vị trí trước hơn so với cố định trong bao, do đó cần giảm công suất IOL một cách thích hợp để tránh cận thị.
Đây là một trong những lựa chọn cho mắt không có hỗ trợ bao. Có thể cố định ở mặt trước của mống mắt (tiền phòng) hoặc mặt sau (hậu phòng: cố định sau đồng tử).
Ưu điểm của cố định sau mống mắt:
Điều kiện cần thiết để đặt:
Biến chứng của IOL móng mống mắt: Giảm tế bào nội mô giác mạc (khoảng 10,9% sau 3 năm), tăng nhãn áp (0-7%), méo đồng tử (tới 13,9%), lệch IOL (0-10%)
| Mục so sánh | Cố định sau mống mắt | IOL cố định củng mạc |
|---|---|---|
| Thời gian phẫu thuật | Ngắn | Dài |
| Thị lực (BCVA) | Không có sự khác biệt đáng kể | Không có sự khác biệt đáng kể |
| Biến chứng đặc hiệu | Teo mống mắt, phân tán sắc tố, biến dạng đồng tử | Lộ chỉ khâu, nghiêng IOL |
Được lựa chọn ở những bệnh nhân không đủ hỗ trợ bao thể thủy tinh hoặc mô mống mắt, hoặc ở những bệnh nhân có tiền phòng nông hoặc suy nội mô giác mạc.
Phương pháp Yamane hiện là kỹ thuật đang phát triển nhanh chóng để đặt IOL thứ cấp ở những mắt không có hỗ trợ bao. Hiệu quả của nó đã được báo cáo trong nhiều tình huống khác nhau bao gồm thể thủy tinh thể sau chấn thương mở nhãn cầu1).
Trong trường hợp áp dụng phương pháp Yamane cho mắt không có thủy tinh thể sau chấn thương mở nhãn cầu, đã có báo cáo cải thiện thị lực không điều chỉnh lên 20/50 sau 15 tháng phẫu thuật (phù hoàng điểm do đái tháo đường là yếu tố hạn chế thị lực còn lại) 1).
Không có nghiên cứu quyết định nào cho thấy phương pháp nào vượt trội hơn. Bác sĩ phẫu thuật dịch kính võng mạc có xu hướng ưa thích cố định IOL vào củng mạc không chỉ khâu (57%), trong khi bác sĩ phẫu thuật đoạn trước có xu hướng ưa thích có chỉ khâu (60%). Trong số các phương pháp không chỉ khâu, bác sĩ phẫu thuật dịch kính võng mạc có xu hướng chọn phương pháp Yamane (40%), trong khi bác sĩ phẫu thuật đoạn trước có xu hướng chọn IOL dán keo (49%) 3).
Nguyên nhân phổ biến nhất là sự lỏng lẻo tiến triển của dây chằng Zinn do hội chứng giả bong bao, chấn thương, cận thị nặng hoặc bệnh mô liên kết. Ở IOL cố định bằng chỉ khâu, sự thủy phân và thoái hóa oxy hóa theo thời gian của chỉ polypropylene (đặc biệt là 10-0) dẫn đến đứt chỉ. Đối với polypropylene 10-0, tỷ lệ đứt 12-28% đã được báo cáo trong vòng 50-80 tháng, và khuyến cáo chuyển sang 9-0.
Ở mắt không thủy tinh thể với bao thể thủy tinh còn nguyên vẹn, vòng Soemmering và các tế bào biểu mô thủy tinh thể tăng sinh giúp duy trì khoảng trống giữa bao trước và bao sau. Khoảng trống này được rạch bằng dao MVR, sau khi loại bỏ chất vỏ còn lại, IOL được đưa vào trong bao, cho phép cố định ở vị trí sinh lý.
IOL Carlevale (FIL SSF) là IOL cố định củng mạc không khâu thiết kế mới, đi qua cửa sổ rạch củng mạc với các haptic hình chữ T. Phiên bản EDOF (Độ sâu tiêu cự mở rộng) (FIL SSF EVOLVE) đã được báo cáo sử dụng trên mắt không thủy tinh thể, đạt được UDVA 20/23 (xa) và UNVA 20/40 (gần 30 cm) sau 3 tháng phẫu thuật 2). Sự kết hợp giữa quang học EDOF và thiết kế cố định củng mạc có thể mang lại khả năng không phụ thuộc kính cho bệnh nhân không có hỗ trợ bao, nhưng kết quả dài hạn vẫn đang được thu thập.
Kỹ thuật “Cửa Saloon” (Saloon Door Technique) đã được báo cáo, trong đó IOL được cố định phía sau mống mắt nhân tạo (AI) hiện có mà không cần loại bỏ nó. AI được rạch xuyên tâm ở vị trí 12 giờ và 6 giờ, sau đó IOL 3 mảnh được đưa qua vết rạch mở ra như cánh cửa vào hậu phòng, rồi cố định vào củng mạc bằng phương pháp Yamane 4). Không cần loại bỏ và cố định lại AI, giảm xâm lấn phẫu thuật, nhưng đây là sử dụng ngoài chỉ định (rạch) trên AI, cần đánh giá an toàn cấu trúc AI dài hạn.