Bỏ qua đến nội dung
Chấn thương mắt

Phẫu thuật lấy bỏ nội dung nhãn cầu

Phẫu thuật lấy bỏ nội nhãn (evisceration) là kỹ thuật phẫu thuật loại bỏ toàn bộ các thành phần bên trong nhãn cầu (màng bồ đào, thủy tinh thể, dịch kínhvõng mạc) trong khi vẫn bảo tồn vỏ củng mạc, chỗ bám của các cơ vận nhãn ngoài và các phần phụ hốc mắt. Sau khi lấy bỏ, một implant hốc mắt (mảnh độn hốc mắt) được đặt vào khoang để duy trì thể tích hốc mắt.

Về mặt lịch sử, James Bear lần đầu mô tả kỹ thuật này vào năm 1817 như một cách xử trí sau xuất huyết tống xuất. Đến cuối thế kỷ 19, Noyes phát triển nó để điều trị nhiễm trùng nội nhãn, và Mules đã thiết lập việc đặt implant hốc mắt.

Về dịch tễ chấn thương mắt, mỗi năm trên thế giới có 55 triệu ca chấn thương mắt, và 90% trong số đó được cho là có thể phòng ngừa. Mù do chấn thương mắt ước tính khoảng 1/100.000 người mỗi năm1).

Thủ thuật này loại bỏ mô trong nhãn cầu nhưng vẫn giữ củng mạc cùng các cơ vận nhãn ngoài, nên nếu đặt một implant trong khoang củng mạc thì mắt bị lõm ít hơn và về thẩm mỹ cũng có lợi hơn so với phẫu thuật lấy toàn bộ nhãn cầu. Ngay cả khi không đặt implant, mức lõm cũng ít hơn so với phẫu thuật lấy toàn bộ nhãn cầu. Tại Nhật Bản, chưa có implant hốc mắt nào được Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi phê duyệt.

Q Phẫu thuật lấy bỏ nội nhãn khác gì với phẫu thuật lấy bỏ toàn bộ nhãn cầu?
A

Phẫu thuật lấy bỏ nội nhãn giữ lại vỏ củng mạc, các cơ vận nhãn ngoài và các phần phụ hốc mắt, chỉ loại bỏ nội dung bên trong nhãn cầu. Phẫu thuật lấy bỏ toàn bộ nhãn cầu thì lấy đi toàn bộ nhãn cầu. Phẫu thuật lấy bỏ nội nhãn cho khả năng di chuyển của mắt giả tốt hơn, ít xâm lấn hơn và có lợi hơn về thẩm mỹ. Xem So sánh các phương pháp phẫu thuật để biết thêm chi tiết.

2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng

Phần tiêu đề “2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”

Hầu như tất cả các mắt là chỉ định của phẫu thuật lấy bỏ nội nhãn đều đã mù. Các triệu chứng chủ quan chính như sau.

  • Đau: triệu chứng chính ở mắt mù đau. Cũng có thể xuất hiện đau kháng trị không đáp ứng với thuốc giảm đau opioid2).
  • Suy giảm thị lực đến mù lòa: Hầu hết các mắt được chỉ định phẫu thuật đều đã mù.
  • Vấn đề thẩm mỹ: Mất cân đối do teo nhãn cầu và lõm mắt (enophthalmos). Trong trường hợp nặng, có thể lõm tới 6 mm hoặc hơn2).
  • Sụp mi: Có thể xuất hiện sụp mi trên ở mắt teo2).

Nhận định lâm sàng (các dấu hiệu được kiểm tra trong đánh giá trước mổ)

Phần tiêu đề “Nhận định lâm sàng (các dấu hiệu được kiểm tra trong đánh giá trước mổ)”
  • Phthisis bulbi: teo nhãn cầu và nhãn áp thấp. Đây là dấu hiệu quan trọng để quyết định có chỉ định phẫu thuật lấy bỏ hay không.
  • Thủng giác mạc và thoát nội dung nhãn cầu: Gặp trong các trường hợp chấn thương. Đã có báo cáo về trường hợp nội dung nhãn cầu tự thoát ra sau thủng giác mạc trung tâm 3 mm1).
  • Các trường hợp không nhìn thấy được đáy mắt: Cần loại trừ u ác tính bằng siêu âm B hoặc CT.

Các bệnh chính có chỉ định evisceration nhãn cầu như sau.

Chỉ định chính

Viêm nội nhãn: Nhiễm trùng nặng داخل nhãn cầu do vi khuẩn hoặc nấm.

Chấn thương mắt xuyên thấu: Chấn thương nặng không thể sửa chữa ở giai đoạn sớm sau khi bị thương.

Mắt mù đau: mắt mù kèm đau, không đáp ứng với thuốc giảm đau gây nghiện.

Teo nhãn cầu đau: chỉ khi đã loại trừ u nội nhãn.

Glôcôm tuyệt đối: glôcôm giai đoạn cuối không đáp ứng với thuốc hoặc phẫu thuật.

Chống chỉ định

U ác tính nội nhãn: nếu đã biết hoặc nghi ngờ, đây là chống chỉ định tuyệt đối. Khuyến cáo cắt bỏ nhãn cầu vì nguy cơ lan gieo tế bào u từ mô màng bồ đào còn lại.

Teo nhãn cầu và mắt nhỏ: chống chỉ định tương đối. Có thể không đủ thể tích củng mạc để bao quanh implant.

Trong chấn thương, tiêu chí lựa chọn là cắt bỏ nhãn cầu khi tổn thương củng mạc hoặc sa màng bồ đào nặng, còn lấy bỏ nội nhãn được chọn khi đến sớm và có thể sửa chữa dưới kính hiển vi.

Một chỉ định đặc biệt là tự cắt bỏ nhãn cầu (Oedipism). Số ca hằng năm của tình trạng này trong bối cảnh bệnh tâm thần được cho là khoảng 500, trong đó tâm thần phân liệt và trầm cảm mạn tính mỗi loại chiếm khoảng 50%. Bệnh hay gặp ở lứa tuổi 40 đến 50 1). Trong trường hợp này, phối hợp đa chuyên khoa giữa tâm thần, nhãn khoa và công an rất quan trọng.

Q Tại sao không thể thực hiện lấy bỏ nội nhãn khi có u ác tính nội nhãn?
A

Vì lấy bỏ nội nhãn để lại mô màng bồ đào, nên có nguy cơ tế bào u lan vào hốc mắt. Có báo cáo cho thấy các u nội nhãn phát hiện tình cờ chiếm 1,95% trong 13.591 trường hợp. Nếu nghi ngờ u ác tính, khuyến cáo cắt bỏ nhãn cầu.

Các xét nghiệm sau đây rất quan trọng trong đánh giá trước phẫu thuật.

  • Đánh giá đáy mắt và loại trừ ác tính: Nếu không thể nhìn thấy đáy mắt, dùng siêu âm B-mode và CT để loại trừ khối u ác tính. Nếu không thể loại trừ, khuyến cáo lấy bỏ nhãn cầu.
  • Chụp CT: Để loại trừ dị vật và khối u. Trong các trường hợp chấn thương, cần xác nhận có dị vật trong nhãn cầu hay không bằng CT1).
  • Xét nghiệm mô bệnh học: Nội dung nhãn cầu được lấy ra phải luôn được gửi làm xét nghiệm bệnh lý. Tỷ lệ phát hiện khối u trong nhãn cầu tình cờ được báo cáo là 1,95% trong 13.591 ca.
  • Xác nhận mắt phẫu thuật: Cần xác nhận nghiêm ngặt để tránh nhầm lẫn trái - phải.

Có thể thực hiện dưới gây mê toàn thân hoặc gây tê tại chỗ. Tiêm thuốc tê có epinephrine vào sau nhãn cầu có thể giảm chảy máu và giảm đau sau mổ. Cũng có thể dùng tiêm thuốc tê dưới kết mạc (để hỗ trợ cầm máu và làm rõ ranh giới với bao Tenon) hoặc nhỏ mắt phenylephrine 10% trước phẫu thuật.

Tổng quan về thủ thuật như sau.

  • Cắt bỏ giác mạc: Rạch kết mạc 360° tại rìa giác mạc và bóc tách đến chỗ bám của các cơ thẳng. Rạch và cắt bỏ giác mạc tại rìa giác mạc (cũng có thể có phương pháp bảo tồn).
  • Khoét nội nhãn: Đưa kéo cong vào giữa màng bồ đào và củng mạc rồi bóc tách theo chu vi. Thêm bốn đường rạch hướng tâm ở mỏm rìa. Dùng tăm bông và nạo lấy sạch phần bên trong, sau đó dùng dao mổ và gạc loại bỏ phần mô màng bồ đào còn lại. Cầm máu bằng dao điện lưỡng cực.
  • Xử lý bằng cồn khan: Đôi khi được dùng để làm biến tính và loại bỏ mô màng bồ đào còn sót lại và vi sinh vật. Tuy nhiên, một số phẫu thuật viên tránh dùng vì nguy cơ kích ứng và phù nề quá mức. Khi dùng, phải giữ trong củng mạc và tránh để chạm vào kết mạc.
  • Rạch giảm căng: tạo hai đường rạch giảm căng dài ở thành củng mạc phía sau xích đạo. Điều này nhằm ngăn dịch tiết hoặc máu đọng lại và giúp khâu phần phía trước dễ hơn.
  • Đặt implant: khâu các vạt củng mạc chồng lên nhau để che phủ tốt. Ngay cả khi không có implant, vẫn khâu vạt củng mạc phía trước.
  • Đóng: đóng lớp củng mạc phía trước, bao Tenonkết mạc theo từng lớp. Sau khi đặt conformer, nếu cần thì khâu mí tạm thời (tarsorrhaphy).

Nếu có vòng đai củng mạc hoặc thiết bị dẫn lưu glaucoma, hãy lấy ra. Rửa và loại bỏ dầu silicone trước khi rạch chu vi.

Các vật liệu implant chính như sau.

Khu vựcVật liệu chính
Nhật BảnPMMA (bi nhựa)・bi acrylic・bi silicone・mảnh xương tự thân
Phương Tâyhydroxyapatite・Medball・gốm alumina・polyethylene xốp

Việc ưu tiên đặt implant ngay và đặt trì hoãn (thì hai) khác nhau tùy phẫu thuật viên (trong khảo sát 206 bác sĩ phẫu thuật tạo hình mắt, 46% chọn ngay, 43% chọn thì hai). Ở 67 trường hợp viêm nội nhãn, tỷ lệ biến chứng khi đặt ngay là 12%.

Q Có phải lúc nào cũng phải đặt implant (đế mắt giả) không?
A

Không bắt buộc, nhưng việc đặt implant giúp duy trì thể tích ổ mắt và giảm hõm mắt. Ở Nhật Bản, hiện không có đế mắt giả được Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi phê duyệt, nên việc sử dụng hiện nay là ngoài chỉ định.

  • Băng ép mắt: giữ khoảng 5 ngày.
  • Kháng sinh: đặc biệt quan trọng trong các trường hợp viêm nội nhãn. Thời gian dùng từ 10 ngày đến vài tuần.
  • Conformer: thường dùng mắt giả có lỗ để ngăn dính và co rút túi cùng kết mạc.
  • Thời điểm làm mắt giả: bắt đầu khoảng 2–4 tuần sau mổ, sau khi đau và viêm giảm. Để quá lâu có nguy cơ co rút túi cùng kết mạc.
  • Điều chỉnh mắt giả: khám chuyên gia làm mắt giả sau 6–8 tuần để điều chỉnh.
  • Các loại mắt giả: có sẵn (tạm thời) → làm theo đo riêng (phù hợp với mắt lành). Chi phí 80.000–100.000 yên (có thể thuộc diện được thanh toán chi phí điều trị).
Q Sau mổ bao lâu thì có thể đeo mắt giả?
A

Conformer (mắt giả tạm thời) được đeo ngay sau mổ. Việc điều chỉnh mắt giả chính thức được thực hiện khi khám chuyên gia làm mắt giả sau 6–8 tuần. Mắt giả làm theo đo riêng sẽ được chế tạo sau khi túi cùng kết mạc ổn định. Thông thường, có thể bắt đầu khi đau và viêm đã giảm, khoảng 2–4 tuần sau mổ.

So sánh các phương pháp phẫu thuật (evisceration vs enucleation)

Phần tiêu đề “So sánh các phương pháp phẫu thuật (evisceration vs enucleation)”

Ưu điểm của evisceration

Ít xâm lấn hơn: Thời gian phẫu thuật ngắn hơn, thủ thuật đơn giản hơn và hiệu quả chi phí tốt hơn.

Khả năng di chuyển của mắt giả tốt hơn: Vì các cơ vận nhãn và mô ổ mắt được bảo tồn, mắt giả di chuyển tự nhiên hơn.

Có lợi hơn cho kiểm soát nhiễm trùng: Trong các trường hợp viêm nội nhãn, nguy cơ lan sang hệ thần kinh thấp hơn.

Ít đau và ít nguy cơ do gây mê hơn: Có thể tránh được gây mê toàn thân.

Nhược điểm của evisceration

Nguy cơ viêm mắt cảm thông: Có nguy cơ lý thuyết vì mô màng bồ đào bị lộ trong khi phẫu thuật. Tuy nhiên, không có ghi nhận xác nhận nào trong khảo sát 880 ca.

Nguy cơ gieo rắc khối u trong mắt: Tế bào khối u có thể lan rộng do còn lại mô màng bồ đào.

Tỷ lệ lộ vật liệu cấy ghép: Tỷ lệ lộ của vật liệu cấy ghép xốp là 0–3,3% sau evisceration (1,5–21,6% sau enucleation)2).

Trong một nghiên cứu tiến cứu (100 bệnh nhân), evisceration với củng mạc chia bốn phần và vật liệu cấy ghép alloplastic được so sánh với enucleation dùng vật liệu cấy ghép hydroxyapatite, và nhóm evisceration có biên độ di chuyển của vật liệu cấy ghép rộng hơn và chi phí thấp hơn. Trong một nghiên cứu hồi cứu (32 ca enucleation vs 52 ca evisceration), evisceration cũng có khả năng di động tốt hơn và ít biến chứng sau mổ hơn, không có khác biệt có ý nghĩa về kết quả thẩm mỹ cuối cùng.

6. Sinh lý bệnh và cơ chế khởi phát chi tiết

Phần tiêu đề “6. Sinh lý bệnh và cơ chế khởi phát chi tiết”

Về mặt lý thuyết, khi mô màng bồ đào bị phơi bày về mặt miễn dịch trong lúc phẫu thuật, có thể lo ngại sẽ xảy ra đáp ứng tự miễn ضد mắt còn lại (viêm mắt cảm thông). Tuy nhiên, trong khảo sát 880 ca, không có ghi nhận xác thực về viêm mắt cảm thông sau lấy bỏ nội nhãn. Ngoài ra, quy tắc 14 ngày cho rằng nếu thực hiện lấy bỏ nội nhãn trong vòng 14 ngày thì có thể phòng ngừa viêm mắt cảm thông, được xem là không có cơ sở khoa học.

Trong quá trình lành vết thương sau phẫu thuật, các thành phần của màng ối được chú ý. Phức hợp HC-HA/PTX3 giàu có trong màng ối của dây rốn làm tăng IL-10 và giảm IL-12, từ đó thúc đẩy đại thực bào chuyển sang kiểu hình M2 (chống viêm) và tăng cường tác dụng chống viêm, chống sẹo và tái tạo mô2).

Sự phát triển hốc mắt và ảnh hưởng ở trẻ em

Phần tiêu đề “Sự phát triển hốc mắt và ảnh hưởng ở trẻ em”

Ở trẻ em, cần chú ý đến sự phát triển của hốc mắt. Đến 5 tuổi, thể tích hốc mắt đạt 80% của người trưởng thành (hoàn thiện vào khoảng 14–15 tuổi), và thể tích nhãn cầu tăng gấp 3 lần từ lúc sinh đến tuổi dậy thì. Vì kích thích cơ học lên xương là cần thiết cho sự phát triển của hốc mắt, việc chọn implant phù hợp và theo dõi lâu dài là rất quan trọng ở trẻ em.


7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai (báo cáo giai đoạn nghiên cứu)

Phần tiêu đề “7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai (báo cáo giai đoạn nghiên cứu)”

Tái tạo bằng màng ối cuống rốn (AmnioGuard)

Phần tiêu đề “Tái tạo bằng màng ối cuống rốn (AmnioGuard)”

Màng ối cuống rốn đã được báo cáo như một phương pháp tái tạo mới cho tình trạng bục vết mổ sau phẫu thuật lấy bỏ nội nhãn (một trong những biến chứng tại chỗ thường gặp nhất).

Bunin (2022) đã thực hiện phẫu thuật lấy bỏ nội nhãn (kèm đặt ít nhất một implant hydroxyapatite 16 mm) ở một phụ nữ 51 tuổi có mắt mù đau do bệnh võng mạc đái tháo đường tăng sinh, sau đó tái tạo chỗ bung đường khâu kết mạc sau mổ bằng vỏ củng mạc của người cho và AmnioGuard 2.5×2.0 cm (Bio-Tissue, Miami) 2). Màng ối cuống rốn dày khoảng gấp 10 lần màng ối thông thường và giàu HC-HA/PTX3. Sau 6 tuần sau mổ, khả năng di động tốt; đến 7 tuần, việc lắp mắt giả hoàn tất; và kết quả thẩm mỹ tốt vẫn được duy trì sau 8 tháng.

Một kỹ thuật cải tiến (được Long và cộng sự báo cáo) đã được mô tả để đặt implant phía sau củng mạc sau trong phẫu thuật lấy bỏ nội nhãn. Sau khi rạch củng mạc phía sau, dây thần kinh thị giác được cắt, và một implant lớn 22–23 mm được đặt phía sau các vạt củng mạc sau và trước. Che mặt trước bằng hai lớp củng mạc được cho là giúp giảm nguy cơ bục vết mổ và lộ implant.

Một phương pháp đã được báo cáo trong đó vòng củng mạc phía trước và DFG được khâu cùng nhau trong lần đặt implant đầu tiên khi lấy bỏ nội nhãn. Là một lựa chọn thay thế cho implant bị lộ, phương pháp này có ưu điểm là mỡ ghép có thể lớn lên theo sự phát triển của trẻ, đặc biệt ở trẻ dưới 5 tuổi.

Quản lý đa chuyên khoa (tổn thương mắt tự gây)

Phần tiêu đề “Quản lý đa chuyên khoa (tổn thương mắt tự gây)”

Trong các trường hợp có tổn thương mắt tự gây (Oedipism), hỗ trợ tâm thần sau mổ góp phần cải thiện kết cục.

Narang và cộng sự (2021) đã thực hiện phẫu thuật lấy bỏ nội nhãn kèm đóng kín ban đầu không dùng implant hình cầu cho trường hợp thủng giác mạc trung tâm 3 mm và tự thoát nội nhãn xảy ra do tự gây thương tích ở mắt trái ở một bệnh nhân tâm thần phân liệt (nam 58 tuổi) 1). Phẫu thuật lấy bỏ nội nhãn được chọn để ngăn ngừa tự gây thương tích thêm và giảm nguy cơ viêm đồng cảm. Sau 5 tháng hậu phẫu, tình trạng tâm thần và mức độ tuân thủ của bệnh nhân đều tốt. Bài báo nhấn mạnh tầm quan trọng của sự phối hợp của nhóm đa chuyên khoa gồm tâm thần, nhãn khoa và cảnh sát.


  1. Narang U, Maubon L, Shah V, Wagh V. Ocular trauma or Oedipism: completing the evisceration. GMS Ophthalmol Cases. 2021;11:Doc13. doi:10.3205/oc000186. PMID:34540525; PMCID:PMC8422941.
  2. Bunin LS.. Reconstruction with umbilical amnion following ocular evisceration: A case study. Am J Ophthalmol Case Rep. 2022;26:101462. doi:10.1016/j.ajoc.2022.101462. PMID:35265778; PMCID:PMC8899220.
  3. Hermoza Arámbulo R, Madrazo González Z. Transvaginal Evisceration. J Gastrointest Surg. 2023;27(3):631-632. PMID: 36443553.

Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.