Hội chứng Knobloch (Knobloch Syndrome; OMIM 267750) là một bệnh di truyền hiếm gặp được Knobloch và Layer báo cáo lần đầu vào năm 1971. Đặc trưng bởi ba dấu hiệu: cận thị nặng, thoái hóa dịch kính-võng mạc và khuyết xương chẩm, với tính đa dạng kiểu hình cao.
Gen gây bệnh là COL18A1 nằm trên nhánh dài nhiễm sắc thể 21 (21q22.3), và đột biến lặn trên nhiễm sắc thể thường gây sản xuất collagen type XVIII bất thường 1). Đột biến gen gây rối loạn lan rộng trong phát triển mô mắt và thần kinh.
Về dịch tễ học, ít nhất 48 gia đình và 90 ca đã được báo cáo kể từ báo cáo đầu tiên, nhưng không có mối tương quan với nhóm dân tộc cụ thể nào, và được xác nhận rải rác ở nhiều nhóm dân tộc.
QKiểu di truyền và xác suất mắc hội chứng Knobloch là gì?
A
Tuân theo kiểu di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường. Cha mẹ chỉ mang một đột biến (người mang) thường không có triệu chứng, nhưng nguy cơ con của họ mắc hội chứng này là 25% (1/4).
Khuyết xương chẩm là dấu hiệu thần kinh đặc trưng nhất. Một số ít trường hợp, chẩn đoán hình ảnh thần kinh cho thấy đa hồi nhỏ, nốt dưới màng não thất, và teo thùy nhộng tiểu não. Tổn thương hệ thần kinh trung ương có thể kèm theo chậm phát triển nhận thức.
QHội chứng Knobloch có thể được chẩn đoán ngay cả khi không có khuyết xương chẩm không?
A
Có thể được chẩn đoán trong một số trường hợp. Khuyết xương chẩm là dấu hiệu đặc trưng nhưng có thể không có. Chẩn đoán lâm sàng dựa trên sự kết hợp các dấu hiệu nhãn khoa đặc trưng (mống mắt nhẵn, lệch thể thủy tinh, thoái hóa dịch kính-võng mạc đặc trưng) và được xác nhận bằng xét nghiệm di truyền COL18A1.
Nguyên nhân của hội chứng Knobloch là đột biến lặn nhiễm sắc thể thường trên gen COL18A1 (21q22.3)1). Gen này chứa 43 exon và có ba đồng dạng khác nhau ở người. Ít nhất 20 thay đổi đa hình đã được xác định trong hội chứng này.
Ngoài ra, các nghiên cứu bổ sung cho thấy gen ADAMTS18 có thể là một locus gen gây bệnh mới trong hội chứng Knobloch.
Hôn nhân cận huyết: Phân tích kiểu di truyền trong các gia đình Brazil có hôn nhân cận huyết xác nhận rằng hôn nhân cận huyết là yếu tố nguy cơ của bệnh này.
Tiền sử gia đình: Di truyền lặn nhiễm sắc thể thường, nguy cơ mắc bệnh tăng lên nếu cả cha và mẹ đều là người mang gen.
Chẩn đoán hội chứng Knobloch dựa trên sự hiện diện của ba dấu hiệu sau:
Cận thị nặng khởi phát ở trẻ sơ sinh (thường từ 10 đi-ốp trở lên)
Thoái hóa dịch kínhvõng mạc (thường tiến triển thành bong võng mạc)
Bất thường xương chẩm (từ khuyết tật da đầu đến thoát vị não)
Sự kết hợp giữa mống mắt nhẵn, lạc chỗ thể thủy tinh (ectopia lentis) và thoái hóa dịch kínhvõng mạc đặc trưng được cho là bệnh lý đặc hiệu (pathognomonic) cho hội chứng Knobloch. Ngay cả khi không có khuyết tật xương chẩm, chẩn đoán vẫn có thể thực hiện chỉ bằng khám mắt.
Mất lõm trung tâm, mất các lớp võng mạc ngoài, võng mạc mỏng
FAF
Hình ảnh vùng tổn thương biểu mô sắc tố võng mạc
Điện võng mạc
Rối loạn chức năng tế bào nón và que
Xét nghiệm di truyền
Xác nhận đột biến COL18A1
Để chẩn đoán xác định, việc xác nhận đột biến gen COL18A1 là hữu ích nhất. Ngoài ra, đánh giá hóa mô miễn dịch collagen type XVIII và đo endostatin bằng ELISA cũng được sử dụng trong chẩn đoán.
Thoái hóa quanh mạch dạng tia, không teo hoàng điểm, thị lực tốt, thiểu sản tầng giữa mặt
ADVIRC
Thoái hóa ngoại vi ranh giới rõ, bất thường đoạn trước, di truyền trội nhiễm sắc thể thường
Hội chứng Stickler (COL2A1/COL11A1): Cận thị nặng, thoái hóa dịch kínhvõng mạc và nguy cơ bong võng mạc là chung, nhưng không có teo hoàng điểm và thị lực tốt nhất sau điều chỉnh tương đối tốt. Kèm theo khe hở vòm miệng, giảm thính lực và bất thường xương.
Bệnh lý dịch kínhvõng mạc màng bồ đào trội nhiễm sắc thể thường (ADVIRC): Biểu hiện thoái hóa võng mạc nặng ranh giới rõ ở ngoại vi, thường kèm bất thường đoạn trước. Có thể phân biệt bằng kiểu di truyền trội nhiễm sắc thể thường.
Điều trị hội chứng Knobloch dựa trên liệu pháp triệu chứng, nhằm giải quyết các triệu chứng riêng lẻ ở cả mắt và khuyết xương chẩm. Chưa có phương pháp điều trị căn nguyên.
Phẫu thuật lấy thể thủy tinh: Có thể được chỉ định cho lệch thể thủy tinh hoặc đục thể thủy tinh (cườm). Tuy nhiên, do thoái hóa collagen ảnh hưởng đến tính toàn vẹn của bao thể thủy tinh và dây chằng Zinn, nguy cơ vỡ bao tăng lên đáng kể.
Phẫu thuật độn củng mạc dự phòng và quang đông võng mạc: Do nguy cơ bong võng mạc cao, có thể xem xét phẫu thuật độn củng mạc dự phòng hoặc quang đông võng mạc bằng laser hoặc lạnh đông.
Vì là bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, cả cha và mẹ thường là người mang gen. Nguy cơ mỗi con mắc hội chứng này là 25%. Tư vấn di truyền cho bệnh nhân và gia đình là quan trọng.
Các bất thường về mắt nặng, tiến triển và không hồi phục, thường dẫn đến mù hai mắt. Tỷ lệ bong võng mạc gần như 100% ngay cả khi can thiệp phẫu thuật hoặc lạnh đông dự phòng. Bong võng mạc có xu hướng xảy ra vào cuối thập kỷ thứ hai của cuộc đời hoặc muộn hơn.
QTiên lượng thị lực như thế nào?
A
Các bất thường về mắt nặng, tiến triển và không hồi phục, thường dẫn đến mù hai mắt. Bong võng mạc xảy ra ở hầu hết các trường hợp và thường khó ngăn ngừa ngay cả khi can thiệp phẫu thuật. Chẩn đoán sớm và theo dõi nhãn khoa định kỳ rất quan trọng để duy trì chức năng thị giác.
Đột biến gen COL18A1 gây ra sản xuất bất thường hoặc thiếu hụt collagen loại XVIII1). Collagen loại XVIII phân bố rộng rãi trong nhiều mô mắt, bao gồm màng Bruch, bao thể thủy tinh, màng đáy mống mắt, thủy dịch, dịch kính và võng mạc.
Đột biến COL18A1 dẫn đến mất tính toàn vẹn cấu trúc và chức năng của các mô mắt, gây ra các bệnh về mắt như cận thị nặng, thoái hóa dịch kínhvõng mạc và u giả màng bồ đào điểm vàng. Đồng thời, hỗ trợ cấu trúc của màng đáy trong phát triển mô thần kinh bị tổn hại, dẫn đến các phát hiện phẫu thuật thần kinh như khuyết tật xương chẩm và thoát vị não. Các đột biến ảnh hưởng đến protein nền ngoại bào, cấu trúc dịch kính và tái tạo củng mạc được cho là phá vỡ sự ổn định cơ sinh học của cực sau, gây ra kéo dài trục và cận thị nặng tiến triển1).