Loại 1 (COL2A1)
Gen gây bệnh: COL2A1 (collagen loại 2)
Kiểu di truyền: Trội trên nhiễm sắc thể thường
Đặc điểm: Thể điển hình. Kiểu hình dịch kính dạng màng. Nguy cơ bong võng mạc cao.
Hội chứng Stickler (Stickler syndrome) là bệnh mô liên kết di truyền được Gunnar Stickler báo cáo lần đầu vào năm 1965 1). Đột biến gen collagen gây ra các bất thường đa cơ quan ở mắt, khớp, mặt và thính giác.
Gen gây bệnh điển hình nhất là COL2A1 3). Tỷ lệ mắc ước tính 1 trên 7500-9000 người, là bệnh tương đối hiếm nhưng quan trọng về mặt lâm sàng như một nguyên nhân chính gây bong võng mạc khởi phát sớm.
Loại 1 (COL2A1)
Gen gây bệnh: COL2A1 (collagen loại 2)
Kiểu di truyền: Trội trên nhiễm sắc thể thường
Đặc điểm: Thể điển hình. Kiểu hình dịch kính dạng màng. Nguy cơ bong võng mạc cao.
Loại 2 (COL11A1)
Gen gây bệnh: COL11A1 (chuỗi α1 collagen loại 11)
Kiểu di truyền: Di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường
Đặc điểm: Còn được gọi là hội chứng Marshall-Stickler. Cần chú ý đến các bất thường cấu trúc của thủy tinh thể và dịch kính.
Loại 3 (COL11A2)
Gen gây bệnh: COL11A2 (chuỗi α2 collagen loại 11)
Kiểu di truyền: Di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường
Đặc điểm: Thể không có triệu chứng mắt. Chủ yếu là mất thính lực và triệu chứng khớp.
Thể giới hạn ở mắt và thể lặn
Gen gây bệnh: COL2A1 (đột biến đặc hiệu), COL9A1-3
Kiểu di truyền: COL9A1-3 di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường3)
Đặc điểm: Thể chỉ có triệu chứng mắt mà không có triệu chứng toàn thân, hoặc thể di truyền lặn.
Phần lớn là di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, với xác suất 50% truyền từ cha mẹ sang con. Cũng có thể lặn do COL9A1-33). Nếu có tiền sử gia đình bị bong võng mạc hoặc cận thị nặng, hãy cân nhắc xét nghiệm di truyền.
Các dấu hiệu nhãn khoa chính và tần suất được trình bày dưới đây.
| Dấu hiệu | Tần suất |
|---|---|
| Cận thị nặng (≥ -6 D) | Rất thường gặp3) |
| Bong võng mạc | Nguy cơ chính suốt đời3) |
| Đục thủy tinh thể | Có thể đi kèm3) |
| Bệnh tăng nhãn áp | Có thể xảy ra ở trẻ em4) |
Bất thường cấu trúc dịch kính (thiếu PPVP, thoái hóa dạng màng) và nhiều vùng thoái hóa dạng lưới làm tăng đáng kể nguy cơ hình thành vết rách võng mạc và bong võng mạc co kéo1). Xem phần Sinh lý bệnh để biết cơ chế chi tiết.
Nguyên nhân của hội chứng Stickler là đột biến ở các gen mã hóa collagen type II và XI.
Tóm tắt từng gen và kiểu di truyền:
| Gen | Loại Collagen | Kiểu Di truyền |
|---|---|---|
| COL2A1 | Loại II | Trội nhiễm sắc thể thường |
| COL11A1 | Chuỗi α1 loại XI | Trội nhiễm sắc thể thường |
| COL11A2 | Chuỗi α2 loại XI | Trội nhiễm sắc thể thường |
| COL9A1-3 | Loại IX | Lặn nhiễm sắc thể thường3) |
Hệ thống tính điểm Rose được sử dụng để chẩn đoán 1). Điểm được gán cho từng lĩnh vực: mắt, miệng-mặt, thính giác, khớp và xương, và chẩn đoán dựa trên tổng điểm. Phân loại kiểu hình dịch kính (dạng màng, dạng sợi, bình thường) có thể giúp ước tính gen đột biến.
Phân tích đột biến COL2A1, COL11A1, COL11A2, COL9A1-3. Được sử dụng để chẩn đoán xác định và tư vấn di truyền. Nếu kiểu hình dịch kính dạng màng, nghi ngờ đột biến COL2A1 hoặc COL11A1.
Đây là can thiệp dự phòng quan trọng nhất trong hội chứng Stickler. Ở những trường hợp không điều trị, tỷ lệ bong võng mạc suốt đời là 53,6%, trong khi ở những trường hợp được laser hàng rào 360 độ dự phòng, tỷ lệ này giảm đáng kể xuống còn 8,3%5).
| Điều trị | Tỷ lệ bong võng mạc |
|---|---|
| Không điều trị | 53,6%5) |
| Laser 360 độ dự phòng | 8,3%5) |
Hướng dẫn Thực hành Lâm sàng của Học viện Nhãn khoa Hoa Kỳ (AAO) về Bong dịch kính sau (2024) khuyến cáo quang đông laser 360 độ dự phòng cho bệnh nhân hội chứng Stickler5).
Điều trị dự phòng
Laser hàng rào 360 độ: Quang đông toàn bộ chu vi bao quanh các thoái hóa dạng lưới và vết rách.
Đối tượng: Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng Stickler (có hoặc không có triệu chứng).
Hiệu quả: Giảm tỷ lệ bong võng mạc xuống khoảng 1/65).
Phẫu thuật Bong Võng mạc
PPV (Cắt dịch kính): Tỷ lệ phục hồi giải phẫu 84,2%.
SB (Đai củng mạc): Tỷ lệ phục hồi giải phẫu 66,7%1).
Trong trường hợp thiếu PPVP, cắt dịch kính được ưu tiên1).
Quản lý Glôcôm
Tần suất: Xảy ra ở 10,2% trường hợp3).
Điều trị: Kiểm soát nhãn áp bằng thuốc nhỏ mắt.
Phẫu thuật: Phẫu thuật góc (như mở bè) được lựa chọn3).
Đục thủy tinh thể có thể xảy ra như một biến chứng3). Trong hội chứng Marshall-Stickler do đột biến COL11A1, kế hoạch phẫu thuật cần tính đến các bất thường của thể thủy tinh và dịch kính.
Không có sự đồng thuận rõ ràng về độ tuổi khuyến nghị, nhưng khi chẩn đoán được xác nhận, có thể xem xét laser dự phòng. Có thể thực hiện ở trẻ em, và can thiệp sớm được xem xét trong các trường hợp nguy cơ cao (ví dụ đột biến COL2A1)5).
Các triệu chứng mắt của hội chứng Stickler phát sinh qua nhiều cơ chế do bất thường cấu trúc collagen.
Trong mắt bình thường, một khoang chứa dịch gọi là túi dịch kính trước vỏ sau (PPVP) hình thành trong vỏ dịch kính trước. Trong hội chứng Stickler, bất thường collagen loại II và XI dẫn đến thiếu cấu trúc này, và dịch kính có dạng đồng nhất dạng màng hoặc sợi1). Thiếu PPVP gây dính dịch kính-võng mạc bất thường, thúc đẩy thoái hóa dạng lưới và hình thành vết rách.
Nagashima (2024) đã phân tích các phát hiện trong phẫu thuật dịch kính ở hội chứng Stickler và báo cáo rằng tỷ lệ thành công về giải phẫu của phẫu thuật cắt dịch kính (PPV) (84,2%) vượt trội so với phẫu thuật độn củng mạc (66,7%) trong các trường hợp không có PPVP1). Sự khác biệt này cho thấy các biến thể cấu trúc dịch kính do thiếu PPVP ảnh hưởng trực tiếp đến lựa chọn kỹ thuật phẫu thuật.
Đột biến COL2A1 ảnh hưởng đến collagen loại V có trong màng Bruch2). Sự suy yếu cấu trúc của màng Bruch dẫn đến dính không đầy đủ với biểu mô sắc tố võng mạc (RPE), gây teo hắc võng mạc hoàng điểm. Các nghiên cứu OCTA đã xác nhận sự biến mất của lớp mao mạch hắc mạc ở các vùng teo2).
Collagen loại XI (sản phẩm của COL11A1) có chức năng điều chỉnh đường kính của các sợi collagen loại II3). Đột biến COL11A1 gây bất thường đường kính sợi collagen, góp phần vào các bất thường cấu trúc của thủy tinh thể và dịch kính.
Shah (2025) đã thực hiện đánh giá hoàng điểm bằng OCT/OCTA trên các trường hợp hội chứng Stickler có đột biến COL2A1, mô tả chi tiết tình trạng teo hắc võng mạc hoàng điểm kèm mất lớp mao mạch hắc mạc2). Rối loạn collagen loại V ở màng Bruch được cho là cơ chế gây teo, và có thể trở thành mục tiêu điều trị trong tương lai.
Trong báo cáo của Nagashima (2024), sự hiện diện hay vắng mặt của PPVP được chứng minh là chỉ số quan trọng trong việc lựa chọn kỹ thuật phẫu thuật bong võng mạc ở hội chứng Stickler1). Việc thiết lập một quy trình đánh giá PPVP trước phẫu thuật bằng SS-OCT là thách thức trong tương lai1).
Gocuk (2026) báo cáo tỷ lệ biến chứng glôcôm ở một nhóm trẻ em mắc hội chứng Stickler lên tới 10,2%, nhấn mạnh tầm quan trọng của sàng lọc sớm3). Cần có thêm các nghiên cứu dài hạn về loại glôcôm, tốc độ tiến triển và thời điểm can thiệp điều trị tối ưu.
Vì hội chứng Stickler là bệnh đơn gen với gen gây bệnh đã được xác định như COL2A1, về mặt lý thuyết nó là ứng cử viên cho liệu pháp gen. Tuy nhiên, hiện tại chưa có liệu pháp gen nào được chấp thuận như điều trị tiêu chuẩn, vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu. Hiện tại, quản lý biến chứng mắt bằng laser dự phòng là chiến lược hiệu quả nhất5).
Có, cần thiết. Khe hở vòm miệng cần phối hợp với phẫu thuật răng hàm mặt và phẫu thuật tạo hình, mất thính lực với tai mũi họng, biến dạng khớp và xương với chỉnh hình, và quản lý tổng quát với nhi khoa và nội khoa. Quản lý bởi nhóm đa chuyên khoa là phương pháp tiêu chuẩn.