Bỏ qua đến nội dung
Nhãn khoa nhi và lác

Tắc ống lệ mũi bẩm sinh

Tắc ống lệ mũi bẩm sinh (congenital nasolacrimal duct obstruction; CNLDO) là tình trạng lỗ mở ở đầu đuôi của ống lệ mũi không thông với hốc mũi dưới bẩm sinh. Bệnh xảy ra ở 6–20% trẻ sơ sinh và là bệnh lý lệ đạo phổ biến nhất ở trẻ em. 1)

Ở phần dưới của ống lệ mũi, vào tuần thứ 13 của thai kỳ, có thể quan sát thấy một màng hợp nhất giữa biểu mô ống lệ mũi và niêm mạc mũi. Màng này bắt đầu biến mất từ khoảng tuần thứ 32 và ống lệ mũi mở vào khoang mũi, nhưng đến tuần thứ 38 ngay trước khi sinh, khoảng 20% vẫn còn tồn tại. Tình trạng màng này còn sót lại được gọi là tắc ống lệ mũi bẩm sinh. Màng này thường tự biến mất sau sinh và ống lệ mũi thường tự mở, được cho là đường lệ của trẻ sơ sinh đang trong quá trình phát triển.

Khoảng 80% là một bên, không có sự khác biệt về giới tính hoặc yếu tố di truyền rõ ràng. 1)

Tỷ lệ tự khỏi cao, khoảng 60% tự khỏi trong vòng 3 tháng sau sinh và khoảng 90% trong vòng 12 tháng. Một nghiên cứu tiến cứu báo cáo tỷ lệ tự khỏi lên đến 96% trong vòng 12 tháng 4). Tỷ lệ tự khỏi trong năm đầu đời được cho là 89–96% 1).

Q Tắc ống lệ mũi bẩm sinh có tự khỏi không?
A

Khoảng 90% tự khỏi trong vòng 12 tháng sau sinh. Thực hiện massage túi lệ (phương pháp Crigler) đúng cách có thể thúc đẩy quá trình lành bệnh 4). Nếu triệu chứng kéo dài sau 1 tuổi, can thiệp như thông lệ sẽ được xem xét.

2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng

Phần tiêu đề “2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”

Triệu chứng chủ quan (triệu chứng cha mẹ nhận thấy)

Phần tiêu đề “Triệu chứng chủ quan (triệu chứng cha mẹ nhận thấy)”

Triệu chứng chính là chảy nước mắt và ghèn mắt xuất hiện sớm sau sinh.

  • Chảy nước mắt: Kéo dài ngay sau sinh. Nước mắt chảy dọc theo má.
  • Ghèn mắt: Dịch tiết nhầy đến nhầy mủ bám quanh mắt. Điển hình, khi dùng thuốc nhỏ mắt kháng sinh, ghèn giảm nhưng tái phát khi ngừng thuốc.
  • Thời điểm khởi phát: 95% có triệu chứng trong tháng đầu sau sinh. 1)
  • Yếu tố làm nặng: Triệu chứng xấu đi khi kèm nhiễm trùng đường hô hấp trên.
  • Tính chất dịch tiết: Tắc van Hasner gây dịch nhầy mủ, tắc gần van Rosenmüller gây dịch trong. 1)
  • Tăng mức nước mắt: Ứ đọng nước mắt ở vùng lệ khâu.
  • Dấu hiệu ấn túi lệ: Tắc ống lệ mũi bẩm sinh thường kèm viêm túi lệ, khi ấn vào túi lệ thấy có dịch mủ nhầy trào ngược.
  • Da quanh mắt khô ráp: Kèm theo đóng vảy ở lông mi do chảy nước mắt kéo dài. 1)
  • Viêm bờ mi: Một số trường hợp có kèm viêm bờ mi. 4)
  • Xung huyết nhãn cầu: Thường không thấy, nhãn cầu trắng.
  • Nhược thị: Gặp ở khoảng 5%. 1)
  • Tật khúc xạ: Viễn thị có ý nghĩa lâm sàng xảy ra ở 2–8%. 1)
  • Kết hợp với lông quặm: Tần suất kết hợp lông quặm và tắc ống lệ mũi bẩm sinh cao. Nếu có triệu chứng như nhiều ghèn, chảy nước mắt kéo dài chỉ một bên mắt, cần nghi ngờ bệnh lý đường lệ.
  • Viêm túi lệ cấp, viêm mô tế bào vách trước ổ mắt: Biến chứng hiếm gặp nhưng nặng.
  • Phân biệt với tắc đường lệ mắc phải: Nếu khởi phát sau 3–4 tháng tuổi, cần xem xét khả năng tắc đường lệ mắc phải và hỏi tiền sử viêm kết mạc dịch. 4)

Nguyên nhân phổ biến nhất của CNLDO là tắc màng do chậm thoái triển van Hasner. Các nguyên nhân khác gồm tắc xương (hẹp toàn bộ ống lệ mũi hoặc hẹp ống xương) và thiểu sản đường lệ gần bẩm sinh (kém phát triển lệ điểm và ống lệ).

Các yếu tố nguy cơ của CNLDO bao gồm:

Trong số các trường hợp CNLDO nặng, tỷ lệ tắc hoàn toàn 35%, bất sản điểm lệ 15%, rò bẩm sinh 10%, khuyết xương sọ mặt 5% đã được báo cáo.1)

Q Hội chứng Down có liên quan đến tắc ống lệ mũi không?
A

hội chứng Down, CNLDO xảy ra ở tới 30%, cao hơn so với trẻ sơ sinh bình thường (6–20%)1). Các bất thường cấu trúc sọ mặt kèm theo được cho là có liên quan.

Chẩn đoán CNLDO được thực hiện bằng hỏi bệnh, khám, sờ, nghiệm thuốc nhuộm tồn lưu và nghiệm pháp thông lệ.

Nghiệm thuốc nhuộm tồn lưu (FDDT): Làm ướt giấy thử dùng cho khám mắt bằng nước muối sinh lý, sau đó đặt vào kết mạc mi dưới, chú ý không dụi mắt và chờ khoảng 15 phút. Trong phòng tối, chiếu đèn xanh lam để quan sát bề mặt mắt; nếu còn thuốc nhuộm tồn lưu thì kết luận rối loạn dẫn lệ. Nếu thuốc nhuộm huỳnh quang xuất hiện trong dịch mũi, chứng tỏ lệ đạo thông suốt, có thể loại trừ tắc ống lệ mũi bẩm sinh4). Độ nhạy 90%, độ đặc hiệu 100% đã được báo cáo1).

Nghiệm pháp thông lệ: Hữu ích để chẩn đoán xác định tắc lệ đạo, nhưng ở trẻ em cần cố định để kiểm soát cử động. Đây là xét nghiệm xâm lấn, thực hiện bằng cách quấn trẻ trong khăn tắm và cố định đầu4). Trong tắc ống lệ mũi bẩm sinh, khi thông lệ sẽ thấy dịch trào ngược có mủ.

Chụp CT: Thực hiện khi nghi ngờ tắc nghẽn do xương.

Phương pháp xét nghiệmĐặc điểm
Nghiệm pháp tồn lưu thuốc nhuộm (FDDT)Độ nhạy 90%, độ đặc hiệu 100%
Thông lệ đạo qua lệ quảnXác nhận rối loạn thông suốt. Xâm lấn. Trẻ em cần cố định
CTĐánh giá tắc nghẽn do xương

Cần phân biệt với các bệnh sau đây. 4)

Đây là kỹ thuật dùng ngón tay đặt lên vùng túi lệ, ấn theo hướng về phía cuối ống lệ mũi sao cho không đẩy chất chứa trong túi lệ ra ngoài qua điểm lệ. Thực hiện mỗi lần 5–10 cái, mỗi ngày 2–4 lần. Xoa bóp đơn thuần (chỉ ấn nhẹ vùng túi lệ) không cải thiện tỷ lệ khỏi bệnh. 4)

Xoa bóp túi lệ được khuyến nghị yếu với mức bằng chứng C. 4)

Kết quả RCT chính:

  • RCT của Kushner (175 ca): Nhóm Crigler 30,5%, nhóm xoa bóp đơn thuần 8,6%, nhóm không xoa bóp 6,9%. Chỉ nhóm Crigler có tỷ lệ khỏi bệnh cao hơn đáng kể. 4)
  • RCT của Shivpuri (66 ca): Nhóm Crigler 91%, nhóm xoa bóp đơn thuần 21%. 4)

Dữ liệu hiện có báo cáo tỷ lệ thành công trên 85% 1). Không có báo cáo tác hại rõ ràng, nhưng có báo cáo về trường hợp vỡ túi lệ dẫn đến viêm mô tế bào do xoa bóp. Người chăm sóc có thể khó thực hiện đúng cách.

Khi có nhiều ghèn mắt, có thể sử dụng tosufloxacin 0,3%. Nhỏ kháng sinh được khuyến nghị yếu với mức bằng chứng C, nhưng có những lưu ý quan trọng. 4)

  • Dùng kháng sinh tại chỗ không thúc đẩy quá trình lành bệnh
  • Có thể làm giảm ghèn mắt và dịch nhầy mủ
  • Tránh sử dụng lâu dài vì có thể làm tăng vi khuẩn kháng thuốc, chỉ nên dùng khi cần thiết4)
  • Kê đơn bừa bãi có thể dẫn đến vi khuẩn kháng thuốc và trẻ trở thành người mang mầm bệnh

Chỉ định thông lệ đạo theo tháng tuổi như sau:

  • Dưới 3 tháng: Khoảng 60% tự khỏi trong 3 tháng đầu, nên theo dõi bảo tồn
  • 3–6 tháng: Khả năng tự khỏi cao. Thông lệ đạo có nguy cơ nhiễm trùng huyết nặng. Nên chờ đợi, nhưng một số cơ sở thực hiện ở giai đoạn này vì dễ cố định trẻ
  • 6–12 tháng: Khả năng tự khỏi giảm dần. Khó cố định trẻ khi lớn lên, nên thực hiện thông lệ đạo dưới gây tê tại chỗ ở giai đoạn này
  • Trên 12 tháng: Vẫn có khả năng tự khỏi nhưng thấp. Cần cân nhắc khó cố định và ảnh hưởng phát triển tâm thần, có thể cần gây mê toàn thân

Đối với trường hợp một bên, thông lệ đạo dưới gây tê tại chỗ vào khoảng 6–9 tháng tuổi được khuyến cáo yếu với mức bằng chứng C. Đối với trường hợp hai bên, chưa có đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo4).

Kết quả PEDIG RCT: 163 trường hợp một bên, nhóm thông lệ đạo ngay 92% (69/75 mắt) so với nhóm chờ đợi 82% (58/71 mắt). Không khác biệt có ý nghĩa. Tỷ lệ tự khỏi trong thời gian chờ đợi là 66% (44/67 mắt).4)

Tỷ lệ thành công thông lệ đạo theo tuổi (phân tích gộp, 17 nghiên cứu, 7110 mắt):3)

TuổiTỷ lệ thành công
0–6 tháng90.67%
6–12 tháng85,18%
12–24 tháng82,34%
24–48 tháng85,33%
Trên 48 tháng63,47%

Kỹ thuật thăm dò: Thực hiện dưới gây tê nhỏ mắt (lidocain). Quấn trẻ trong khăn lớn, y tá có sức khỏe tốt ngồi lên trên, cố định vai, hàm và đầu (không ấn đầu quá mạnh). Đưa que thăm qua lỗ lệ trên có lợi thế hơn, tránh được lực cản trước túi lệ (phình to hoặc gấp khúc đột ngột) và ít nguy cơ làm tổn thương ống lệ. Trong ống lệ mũi, que thăm tiến dễ dàng đến chỗ tắc ở đầu xa, lực cản khi xuyên qua chỗ tắc có thể từ nhẹ như màng đến tương đối cứng. Sau thủ thuật, kê đơn thuốc nhỏ và uống kháng sinh. Đây là phẫu thuật bẩn, rất hiếm khi gây nhiễm trùng toàn thân như nhiễm trùng huyết, do đó cần chú ý đến sốt trong ngày thực hiện.

Biến chứng thăm dò: Khoảng 20% trường hợp có chảy máu trào ngược từ lỗ lệ khi thăm dò4). Các biến chứng hiếm gặp bao gồm nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não, viêm khớp háng, viêm nội tâm mạc đã được báo cáo1).

Nội soi đường lệ là kỹ thuật cho phép quan sát lòng ống lệ và mở chỗ tắc dưới tầm nhìn trực tiếp. Được khuyến nghị yếu với mức bằng chứng C4).

  • Tay cầm cong: Tỷ lệ thành công 92,3–100% trong 8 nghiên cứu (kết quả gần như nhất quán)
  • Tay cầm thẳng: Tỷ lệ thành công 53,8–94,4% trong 3 nghiên cứu (có sự khác biệt; chẩn đoán tắc xương nhiều hơn ở 11%)
  • Không có báo cáo biến chứng trong 337 bên của 11 nghiên cứu
  • Phẫu thuật nội soi lệ đạo được bảo hiểm chi trả từ năm 2012. Chủ yếu phổ biến ở Nhật Bản.
  • Đặc biệt hữu ích trong các trường hợp thăm dò mù thất bại.

Không khuyến cáo thăm dò mù lặp lại. Việc không thực hiện được đề xuất yếu với mức độ bằng chứng C4).

Tỷ lệ khỏi bệnh khi thăm dò mù lặp lại dao động lớn: nghiên cứu tiến cứu 53% và 25%, nghiên cứu hồi cứu 61–85,7%. Trong đoàn hệ tiến cứu của Honavar, tỷ lệ giảm từ 73,3% lần đầu xuống 25,0% lần thứ hai. 4)

Đặt ống lệ đạo so với thăm dò mù lại: Nhóm đặt ống lệ đạo 92% so với nhóm thăm dò lại 67% (nghiên cứu hồi cứu, có ý nghĩa thống kê). Tỷ lệ khỏi bệnh khi đặt ống lệ đạo (đặt stent) là 75–100% trong 7 bài báo4).

Đặt ống lệ đạo (đặt stent): Chủ yếu dành cho các trường hợp thăm dò thất bại. Tỷ lệ thành công lần đầu là 90–96%, sau thăm dò thất bại khoảng 84%1). Tại Nhật Bản, ống hình nunchaku là chủ đạo, khác hình dạng với ống Crawford ở nước ngoài. Biến chứng ống (rơi, tự rút là nhiều nhất) được báo cáo 0–31%4).

Nong bóng: Tỷ lệ thành công được báo cáo 53–95%, nhưng chưa cho thấy ưu thế rõ ràng so với thăm dò.

DCR là phẫu thuật triệt để cho tắc ống lệ mũi. Chỉ định khi các điều trị trên không hiệu quả hoặc tắc xương. Vì xâm lấn màng xương, nên thực hiện sau khoảng 15 tuổi khi xương mặt đã phát triển hoàn chỉnh, nhưng có thể cần phẫu thuật sớm ở ca nặng.

Tỷ lệ thành công của DCR ngoài mũi là 96%, DCR nội soi là 82–94%1). Phương pháp nội mũi không để lại sẹo mặt và cắt xương ít hơn, nhưng đòi hỏi kỹ thuật thành thạo. Sau phẫu thuật, đặt stent trong 8–12 tuần.

Điều trị bảo tồn

Xoa bóp túi lệ (phương pháp Crigler): 5–10 lần mỗi set, 2–4 set mỗi ngày. 4)

Nhỏ kháng sinh: Chỉ dùng khi cần. Chú ý nguy cơ kháng thuốc. 4)

Chỉ định: Lựa chọn đầu tiên cho đến 6 tháng tuổi.

Thăm dò

Thời điểm: Đối với trường hợp một bên, đề xuất thực hiện vào khoảng 6–9 tháng tuổi. 4)

Kỹ thuật: Dùng que thông (bougie) chọc thủng màng qua lệ tiểu quản trên.

Tỷ lệ thành công: 63–91% tùy theo độ tuổi. 3)

Nội soi – Ống thông – DCR

Nội soi lệ đạo: Với loại cong, tỷ lệ thành công 92,3–100%4). Được xem xét trong các trường hợp không thành công.

Ống thông lệ đạo: Đặt ống thông đạt 75–100%. 4)

DCR: Phẫu thuật triệt để. Đường ngoài mũi đạt 96%. 1)

Q Thời điểm nào là tối ưu để thực hiện thăm dò?
A

Đối với trường hợp một bên, có khuyến cáo yếu rằng nên thực hiện thăm dò dưới gây tê tại chỗ vào khoảng 6–9 tháng tuổi4). Đối với trường hợp hai bên, bằng chứng còn hạn chế. Trong thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng PEDIG, không có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm thăm dò ngay và nhóm thăm dò chờ đợi. Có thể cân nhắc ưu tiên điều trị bảo tồn đến 12 tháng tuổi do khả năng tự khỏi.

Q Phải làm gì nếu thăm dò thất bại?
A

Không khuyến cáo thăm dò mù lần nữa. Thăm dò bằng nội soi đường lệ (tỷ lệ thành công 92,3–100% với loại cong) hoặc đặt ống thông lệ (75–100%) được đề xuất 4). Nếu các phương pháp này không hiệu quả, phẫu thuật nối túi lệ-mũi (DCR) được xem xét như điều trị triệt để.

Q Phương pháp massage túi lệ đúng cách là gì?
A

Phương pháp Crigler được khuyến cáo. Dùng ngón tay sạch đặt lên vị trí túi lệ (phía trong góc mắt, gốc mũi), ấn theo hướng về phía đầu dưới của ống lệ-mũi (hướng xuống chân) để tránh trào ngược nội dung túi lệ về phía nhãn cầu. Thực hiện 5–10 lần mỗi set, 2–4 set mỗi ngày 4). Massage đơn giản chỉ ấn nhẹ vùng túi lệ ít hiệu quả. Nếu da đỏ hoặc trẻ đau, ngừng và tham khảo ý kiến bác sĩ.

6. Sinh lý bệnh học và cơ chế phát sinh chi tiết

Phần tiêu đề “6. Sinh lý bệnh học và cơ chế phát sinh chi tiết”

Sự phát triển của đường lệ bắt đầu từ tuần thứ 3–5 của thai kỳ. Rãnh lệ hình thành từ ngoại bì bề mặt, và quá trình tạo lòng ống tiến triển vào khoảng tháng thứ 3 của thai kỳ 1). Phần xa nhất của ống lệ-mũi (van Hasner) mở ra cuối cùng, thường hoàn thiện vào tháng thứ 8 của thai kỳ.

Vào tuần thứ 13 của thai kỳ, quan sát thấy một màng hợp nhất giữa biểu mô ống lệ-mũi và niêm mạc mũi. Từ khoảng tuần thứ 32, màng này biến mất và ống lệ-mũi mở vào khoang mũi, nhưng đến tuần thứ 38 (ngay trước sinh), khoảng 20% vẫn còn tồn tại. Tình trạng màng này tồn tại là tắc ống lệ-mũi bẩm sinh, thường tự biến mất sau sinh, do đó đường lệ của trẻ sơ sinh được coi là đang trong quá trình phát triển.

Giải phẫu đường lệ như sau:

  • Điểm lệ: Lỗ vào của nước mắt ở đầu trong của mi mắt trên và dưới.
  • Tiểu quản lệ: Ống nối tiếp từ điểm lệ, gồm phần đứng và phần ngang.
  • Tiểu quản lệ chung: Nơi hợp lưu của tiểu quản lệ trên và dưới.
  • Túi lệ: Túi chứa nằm trong hố túi lệ của xương lệ.
  • Ống lệ-mũi xương: Ống xương từ túi lệ đến cuốn mũi dưới.
  • Ống lệ-mũi màng: Mô mềm chạy trong ống xương, mở vào cuốn mũi dưới.

Vị trí tắc và thể bệnh:

  • Màng tồn dư của van Hasner: Phổ biến nhất. Là tắc màng, có thể tự khỏi.
  • Tắc gần van Rosenmüller: Hiếm gặp. Biểu hiện chảy dịch trong. 1)
  • Tắc xương: Kèm hẹp ống lệ mũi, không cải thiện khi thăm dò, cần phẫu thuật DCR.

Viêm túi lệ cấp tính do tắc ống lệ mũi bẩm sinh là tình trạng tương đối hiếm gặp. Điều trị bằng kháng sinh nhỏ mắt, uống, hoặc tiêm tĩnh mạch trong trường hợp nặng để giảm viêm. Sau khi hết viêm, cần thăm dò sớm do nguy cơ tái phát, vỡ da hoặc viêm mô tế bào. Vi khuẩn thường gặp là tụ cầu vàng và Haemophilus influenzae.

Là dị tật bẩm sinh tương đối hiếm, biểu hiện khối phồng đặc trưng màu xanh sẫm ở dưới trong góc mắt. Có thể kèm viêm túi lệ hoặc viêm mô tế bào. Ở trẻ có nang mũi lớn hoặc tổn thương hai bên, có thể gây khó thở.

Về túi lệ bẩm sinh, các báo cáo dịch tễ, diễn tiến tự nhiên và kết quả điều trị như sau 4):

  • Dịch tễ: Tỷ lệ mắc sau sinh 0,005–0,1%
  • Tỷ lệ tự khỏi: 84% (38/45) ở trẻ không nhiễm trùng sau sinh, 68,2% (15/22) ở trẻ có nhiễm trùng kèm
  • Tỷ lệ nhiễm trùng kèm: Viêm túi lệ 15,2–75%, viêm mô tế bào 10–31%. Đặc biệt cần chú ý khoảng 1 tháng sau sinh
  • Nang dưới cuốn mũi: Gặp trung bình 51,6%, khó thở 17–22% (71% ở trường hợp hai bên)
  • Điều trị: Tỷ lệ thành công thăm dò 53–100% (không nhất quán). Tỷ lệ thành công mở thông qua mũi 100% (12/12 bên)
  • Thời điểm can thiệp: Ở trường hợp không nhiễm trùng, điều trị bảo tồn là lựa chọn. Khi có nhiễm trùng, suy hô hấp, hoặc bú kém, cần phẫu thuật sớm.

Hiện chưa có đủ bằng chứng để xác định liệu tắc lệ đạo bẩm sinh có phải là yếu tố gây nhược thị hay không, nhưng nên thực hiện kiểm tra chức năng thị giác tổng quát trong phạm vi có thể 4). Theo báo cáo tại Nhật Bản, 13% trong số 94 trường hợp tắc lệ đạo bẩm sinh một bên có tật khúc xạ thuộc nhóm nguy cơ nhược thị. Một số báo cáo khác cho thấy khoảng 5% có nhược thị 1).


8. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai (Báo cáo giai đoạn nghiên cứu)

Phần tiêu đề “8. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai (Báo cáo giai đoạn nghiên cứu)”

Phân tích tổng hợp tỷ lệ thành công của thăm dò theo nhóm tuổi

Phần tiêu đề “Phân tích tổng hợp tỷ lệ thành công của thăm dò theo nhóm tuổi”

Sultanbayeva và cộng sự (2025) đã thực hiện một phân tích tổng hợp trên 17 nghiên cứu với 7110 mắt, đánh giá tỷ lệ thành công của thăm dò theo nhóm tuổi3). Ở nhóm 0–6 tháng, tỷ lệ chung là 90,67% (dưới gây mê toàn thân: 95,42%, dưới gây tê tại chỗ: 88,82%); ở nhóm 6–12 tháng là 85,18%; ở nhóm 12–24 tháng là 82,34%; và ở nhóm trên 48 tháng giảm xuống còn 63,47%. Độ chắc chắn của bằng chứng được đánh giá là thấp ở tất cả các phân nhóm.

Trong một phân tích tổng hợp của Farat và cộng sự (2021) trên 4 RCT (423 bệnh nhân), không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ giải quyết giữa thăm dò sớm và thăm dò muộn (RR 1,00; p=0,99)2). Mặt khác, nghiên cứu PEDIG cho thấy thăm dò sớm hiệu quả hơn về chi phí (562 USD so với 701 USD).

Phổ biến của nội soi thăm dò hỗ trợ đường lệ

Phần tiêu đề “Phổ biến của nội soi thăm dò hỗ trợ đường lệ”

So với phương pháp thăm dò mù truyền thống, việc thực hiện dưới hỗ trợ nội soi đang được xem xét1). Sử dụng nội soi đường lệ cho phép quan sát trực tiếp vị trí tắc nghẽn, giúp giảm nguy cơ tổn thương do can thiệp và cải thiện tỷ lệ thành công. Hiện tại, các cơ sở có thể áp dụng cho trẻ em còn rất hạn chế, và việc phổ biến trong tương lai là một thách thức4).

Để cải thiện tỷ lệ thành công của DCR nội soi, việc bôi mitomycin C lên vị trí nối thông đang được nghiên cứu 1). Phương pháp này được kỳ vọng có tác dụng ngăn ngừa hình thành mô hạt và tắc nghẽn do sẹo, nhưng cần tích lũy thêm dữ liệu về tính an toàn lâu dài trong tương lai.


  1. Blaszczyk K, Biedka K, Estreicher A, et al. Congenital Nasolacrimal Duct Obstruction: Natural Course, Diagnosis and Therapeutic Strategies. J Clin Med. 2025;14(11):3716. doi:10.3390/jcm14113716. PMID:40507477; PMCID:PMC12155872.
  2. Farat JG, Schellini SA, Dib RE, Santos FGD, Meneghim RLFS, Jorge EC. Probing for congenital nasolacrimal duct obstruction: a systematic review and meta-analysis of randomized clinical trials. Arquivos brasileiros de oftalmologia. 2021;84(1):91-98. doi:10.5935/0004-2749.20210005. PMID:33470349; PMCID:PMC12289159.
  3. Sultanbayeva Z, Dzhumabekov A, Aldasheva N, Issergepova B, Kuanyshbekov Y, Taushanova M, et al. A Systematic Review and Meta-Analysis of the Success Rate of the Primary Probing in Pediatric Patients with Congenital Nasolacrimal Duct Obstruction in Different Age Groups. Medicina (Kaunas, Lithuania). 2025;61(8). doi:10.3390/medicina61081432. PMID:40870477; PMCID:PMC12388011.
  4. 先天鼻涙管閉塞診療ガイドライン作成委員会. 先天鼻涙管閉塞診療ガイドライン. 日眼会誌. 2022;126(11):991-1021.

Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.