Kim tròn
Mục đích: Khi muốn giảm tối đa tổn thương ở mô mềm.
Trường hợp dùng điển hình: Khâu kết mạc trong phẫu thuật lọc glôcôm, khâu mạch máu.
Trong phẫu thuật mắt, việc lựa chọn chỉ khâu là một trong những yếu tố quyết định thành công của ca mổ. Chỉ khâu là cách đưa mô trở về đúng vị trí và giữ ổn định để không bị lệch cho đến khi vết thương lành hoàn toàn; vai trò của nó là giữ vết thương và thúc đẩy lành thương.
Những năm gần đây, phẫu thuật ngày càng chuyển sang không khâu và đường mổ nhỏ hơn, nên những trường hợp cần chỉ khâu đang dần ít đi. Vết mổ giác mạc không khâu, keo sinh học và chèn ép nội nhãn là những kỹ thuật đạt mục đích của khâu bằng cách khác. Tuy nhiên, trong chấn thương phức tạp và một số phẫu thuật nội nhãn, việc chọn chỉ khâu và kỹ thuật khâu sẽ ảnh hưởng đến tiên lượng sau mổ.
Phần lớn kim khâu dùng trong phẫu thuật mắt là kim không lỗ (chỉ và kim liền một). Kim có lỗ hầu như không được dùng vì khi xỏ chỉ sẽ gây tổn thương mô nhiều hơn.
Tiêu chuẩn về độ dày chỉ khâu tuân theo USP (Dược điển Hoa Kỳ). Số càng lớn thì chỉ càng mảnh (0-0 là dày nhất, 11-0 là mảnh nhất), và chiều dài chỉ thường khoảng 15 đến 45 inch.
Chỉ khâu tự tiêu (điển hình: Vicryl®) mất lực căng sau vài tuần và được cơ thể hấp thu trong khoảng 2 tháng. Chúng được dùng cho các mũi khâu chỉ cần nâng đỡ vết thương tạm thời, như phẫu thuật lác và phẫu thuật dịch kính. Chỉ khâu không tự tiêu (nylon và polypropylene) được dùng trong ghép giác mạc, khâu củng mạc và cố định thủy tinh thể nội nhãn, khi cần duy trì lực căng lâu dài.

Hình dạng mặt cắt của kim khâu được chọn tùy theo đặc tính của mô và mục đích của vết thương.
Kim tròn
Mục đích: Khi muốn giảm tối đa tổn thương ở mô mềm.
Trường hợp dùng điển hình: Khâu kết mạc trong phẫu thuật lọc glôcôm, khâu mạch máu.
Kim cắt
Mục đích: Có đầu cắt hình tam giác và xuyên qua mô cứng.
Trường hợp dùng điển hình: Khâu da mi mắt.
Kim spatula
Mục đích: Đầu dẹt với đường cắt theo chiều ngang. Gây tổn thương mô ít hơn kim cắt.
Trường hợp dùng điển hình: Luồn chỉ qua củng mạc trong phẫu thuật buckling củng mạc và phẫu thuật lác.
Kim hình thang ngược
Công dụng: Mặt cắt là hình thang ngược. Thích hợp để luồn chỉ qua vùng giác mạc - củng mạc.
Ứng dụng tiêu biểu: khâu giác mạc - củng mạc, khâu giác mạc.
Chỉ khâu được lựa chọn dựa trên sự kết hợp giữa chất liệu và khả năng tự tiêu. Bảng dưới đây cho thấy các đặc tính chính và lĩnh vực sử dụng của các loại chỉ khâu chính.
| Chất liệu | Khả năng tự tiêu | Công dụng chính |
|---|---|---|
| Nylon | Không tự tiêu | Ghép giác mạc, đục thủy tinh thể, glôcôm, cắt dịch kính, mi mắt |
| Vicryl® | Tự tiêu (khoảng 2 tháng) | Vết mổ phẫu thuật dịch kính, khâu cơ ngoài nhãn cầu |
| Chỉ tơ | Không hấp thu | Khâu kết mạc / chỉ kéo |
| Tơ nguyên chất | Không hấp thu | Khâu kết mạc (phản ứng mô ít hơn chỉ tơ) |
| Prolene® | Không hấp thu | Cố định thủy tinh thể nội nhãn / khâu mống mắt |
| Polyester | Không hấp thu | Cố định vật liệu bucke |
Chi tiết của từng loại vật liệu được trình bày dưới đây.
Khi chọn chỉ khâu, cần cân nhắc các yếu tố sau.
Không khuyến nghị dùng nylon cho khâu kết mạc vì dễ gây cảm giác cộm sau phẫu thuật. Với khâu kết mạc, thường dùng chỉ tự tiêu như Vicryl® (ví dụ 8-0) hoặc chỉ lụa nguyên.
Phần này cho thấy cách chọn và sử dụng chỉ khâu theo từng loại phẫu thuật. Bảng dưới đây tóm tắt các kết hợp điển hình.
| Phẫu thuật | Chỉ sử dụng | Cỡ ước lượng |
|---|---|---|
| Phẫu thuật đục thủy tinh thể (đóng vết mổ) | Nylon | 10-0 |
| Phẫu thuật cắt dịch kính (đóng vết mổ) | Vicryl® | 8-0 |
| Glôcôm (vạt củng mạc) | Nylon | 10-0 |
| Độn củng mạc (cố định buckle) | Polyester | 5-0 |
| Cố định kính nội nhãn | Prolene® | 9-0 hoặc 8-0 |
| Khâu giác mạc và ghép giác mạc | Nylon | 10-0 |
| Phẫu thuật lác (các cơ ngoại nhãn) | Vicryl® | 6-0 |
Về nguyên tắc, vết mổ tự đóng mà không cần khâu. Nếu thấy thủng sớm hoặc rò thủy dịch, khâu bằng chỉ nylon 10-0. Ở trẻ em, mô mềm hơn và khó tự đóng kín hơn, nên thường cần khâu.
Nếu thấy rò từ vết mổ, chẳng hạn sau khi bóc tách dịch kính ngoại vi, khâu bằng Vicryl® 8-0 (nút 2-1 là đủ). Không cần khâu ở các đường rạch siêu nhỏ 25G hoặc 27G.
Vạt củng mạc được khâu toàn bộ bề dày bằng chỉ nylon 10-0 (kim chẻ). Vì lượng rò thủy dịch được kiểm soát bởi độ chặt của mũi khâu, điều này liên quan trực tiếp đến kiểm soát nhãn áp sau mổ và là một kỹ thuật quan trọng. Kết mạc được khâu bằng chỉ nylon 10-0 (kim tròn). Với rò thủy dịch từ vùng rìa giác mạc, dùng khâu ép (chỉ nylon 10-0, kim chẻ).
Sau khi cố định cơ thẳng bằng chỉ lụa 4-0, luồn chỉ polyester 5-0 qua 2/3 lớp ngoài của củng mạc.
Dùng polypropylen (Prolene®) để khâu thể thủy tinh nhân tạo vào củng mạc. Dùng chỉ Prolene® 9-0 hoặc 8-0. Đã có báo cáo về trật thể thủy tinh nhân tạo do chỉ polypropylen 10-0 bị thoái hóa, và vì chỉ polypropylen 9-0 có độ bền khoảng gấp đôi chỉ polypropylen 10-0 nên khuyến nghị dùng 9-0.
Đã có báo cáo về trật thể thủy tinh nhân tạo do chỉ polypropylen 10-0 bị thoái hóa, và lý do khuyến nghị chỉ polypropylen 9-0 là vì nó có độ bền khoảng gấp đôi chỉ polypropylen 10-0. Vì cần lưu lại lâu dài trong củng mạc, độ ổn định của độ bền chỉ là rất quan trọng.
Dùng nylon 10-0. Nếu siết chỉ quá chặt, loạn thị giác mạc và loạn thị không đều dễ xảy ra, nên cần thận trọng. Lấy mũi khâu dài hơn và khâu với lực vừa đủ để bờ giác mạc không bị gồ lên. Trong ghép giác mạc xuyên, tháo chỉ mất 6 tháng đến 1 năm. Chỉ bị lỏng hoặc đứt có thể gây tổn thương biểu mô giác mạc, nhiễm trùng và thải ghép, và hơn một nửa số nhiễm trùng muộn được cho là do chỉ khâu.
Về nguyên tắc, khâu gần rìa giác mạc trước bằng chỉ nylon 8-0 hoặc 9-0, sau đó thêm về phía sau. Với rách củng mạc, có thể dùng polyester 6-0 để bảo đảm độ bền và khâu phần giữa bằng Vicryl® 8-0. Có bác sĩ phẫu thuật thích nylon cho khâu củng mạc, có người thích Vicryl®; cỡ chỉ sử dụng là 6-0 đến 8-0.
Khâu cơ ngoài nhãn cầu vào củng mạc bằng Vicryl® 6-0.
Với nylon 10-0, 3-1-1, còn với Vicryl® 8-0, 2-1-1 hoặc 2-1 là đủ để đạt độ chắc của nút.
Nguyên tắc cơ bản về độ sâu và độ dài của mũi khâu là “deep & short”. Khi lấy mũi khâu sâu và ngắn trong mô, có thể giữ vết thương chắc chắn và đưa mép vết thương về đúng vị trí.
Giữ kim bằng kìm kim ở khoảng 1/3 phía sau từ đầu kim (tức khoảng 2/3 tính từ mũi kim). Không chạm vào đầu kim (vì khả năng cắt giảm). Tránh cầm phần swage ở đầu sau vì có thể làm biến dạng kim.
Có 3 nguyên nhân chính khiến chỉ khâu bị lỏng.
Bảng dưới đây cho biết thời điểm ước tính cắt chỉ theo từng mô. Thời điểm này thay đổi rất nhiều tùy theo khác biệt về mật độ mạch máu và tốc độ lành.
| Mô | Thời điểm ước tính cắt chỉ |
|---|---|
| Da mí mắt | Khoảng 1 tuần |
| Kết mạc | 2–3 tuần |
| Vết thương củng mạc / ghép giác mạc nông | 1–3 tháng |
| Ghép giác mạc xuyên | 6 tháng đến 1 năm |
Vì da mí mắt có nhiều mạch máu và lành nhanh, chỉ thường có thể được cắt sau khoảng 1 tuần. Ghép giác mạc xuyên là mô không có mạch máu, nên cần nhiều thời gian để lành, và chỉ cần được giữ lại từ 6 tháng đến 1 năm.
Điều này khác nhau rất nhiều tùy theo mật độ mạch máu của mô và tốc độ lành thương. Da mi mắt là ngắn nhất, khoảng 1 tuần, trong khi ghép giác mạc xuyên là dài nhất, từ 6 tháng đến 1 năm. Vết thương củng mạc và ghép giác mạc lớp nông thường lấy mốc 1 đến 3 tháng.
Tổng quan của Han (2025) đã phân tích 103 bài báo và tổng hợp một cách hệ thống bốn đặc tính tiên tiến của chỉ khâu thế hệ tiếp theo (tính kháng khuẩn, dẫn thuốc, khả năng phân hủy sinh học và tái tạo vết thương) cùng hai kỹ thuật sản xuất (electrospinning và in 3D) 1).
Han (2025) đã hệ thống hóa nhiều hướng tiếp cận cho chỉ khâu kháng khuẩn, bao gồm phủ hạt nano bạc, phủ curcumin@ZIF-8, và tạo composite nội bộ từ fibroin tơ tái sinh và TiO2 1). Các cách này cho thấy hoạt tính kháng khuẩn rất tốt đối với Staphylococcus aureus và Escherichia coli.