Bỏ qua đến nội dung
Glôcôm

Chọc góc tiền phòng (Goniopuncture)

Chọc góc bằng laser Nd:YAG là một thành phần thiết yếu của phẫu thuật glôcôm không xuyên thủng (NPGS). NPGS bao gồm cắt củng mạc sâu, tạo hình ống (canaloplasty) và tạo hình ống bằng chất nhầy (viscocanalostomy)1)2).

Kiểm soát nhãn áp sau NPGS phụ thuộc vào sự lọc thủy dịch qua màng bè-của Descemet (TDM). Nếu TDM dày lên do bóc tách không hoàn toàn trong phẫu thuật hoặc xơ hóa sau mổ, sức cản dòng chảy thủy dịch tăng và nhãn áp tăng.

Chọc góc tạo các lỗ thủng siêu nhỏ trên TDM để phục hồi dòng chảy thủy dịch trực tiếp từ tiền phòng vào khoang trong củng mạc. Thủ thuật này chuyển đổi sự lọc không xuyên thủng thất bại thành lọc xuyên thủng, nhưng vì được thực hiện trong giai đoạn an toàn sau khi bọng lọc đã hình thành, nguy cơ biến chứng hạ nhãn áp giảm đáng kể.

So với phẫu thuật cắt bè (trabeculectomy), NPGS có ít biến chứng liên quan đến hạ nhãn áp hơn, nhưng hiệu quả hạ nhãn áp lâu dài kém hơn1)2). Chọc góc là thủ thuật bổ trợ quan trọng để cải thiện tỷ lệ thành công của NPGS.

Q Có thể thực hiện chọc góc sau phẫu thuật cắt bè không?
A

Chọc góc là thủ thuật đặc hiệu cho phẫu thuật glôcôm không xuyên thủng (NPGS) và không được chỉ định sau phẫu thuật cắt bè (trabeculectomy). Trong NPGS, màng bè-của Descemet còn nguyên vẹn, và laser được sử dụng để tạo lỗ thủng nhằm phục hồi dòng chảy thủy dịch. Trong phẫu thuật cắt bè, đã có một lỗ thủng toàn bộ chiều dày, do đó chọc góc không phù hợp.

2. Chỉ định và Đánh giá trước phẫu thuật

Phần tiêu đề “2. Chỉ định và Đánh giá trước phẫu thuật”

Chọc góc tiền phòng (Goniopuncture) được xem xét khi không đạt được kiểm soát nhãn áp đầy đủ sau NPGS.

Chỉ định sớm sau phẫu thuật (1 tuần đến 2 tháng)

Nguyên nhân: Tăng sức cản dòng thủy dịch do bóc tách TDM không đầy đủ trong phẫu thuật.

Dấu hiệu góc: Cửa sổ TDM dày, không có lõm vào hồ nội củng mạc.

Lưu ý: Trong vòng 4 tuần sau phẫu thuật, có nguy cơ giảm áp đột ngột và mất tiền phòng, đây là chống chỉ định tương đối.

Chỉ định muộn sau phẫu thuật (vài tháng đến vài năm)

Nguyên nhân: Xơ hóa TDM và tăng sức cản dòng thủy dịch tiến triển do lắng đọng sắc tố.

Dấu hiệu góc: Sự hiện diện của máu, mảnh vụn hoặc tân mạch trong hồ nội củng mạc là dấu hiệu của xơ hóa sắp xảy ra.

Lưu ý: Nên thực hiện thủ thuật trước khi hồ nội củng mạc bị xơ hóa hoàn toàn hoặc xẹp.

  • Khám góc: Đánh giá sự hiện diện của tắc nghẽn dòng chảy tại vị trí cửa sổ TDM
  • Chẩn đoán hình ảnh đoạn trước: Xác nhận độ dày TDM và tình trạng hình thành hồ nội củng mạc bằng AS-OCT hoặc UBM
  • Nếu TDM có hình dạng lõm, điều này cho thấy tính thấm thủy dịch không đủ

Ngoài gây tê tại chỗ bằng thuốc nhỏ mắt, nhỏ apraclonidine 1% và pilocarpine. Co đồng tử do pilocarpine làm giảm nguy cơ kẹt mống mắt. Nếu nhãn áp cao, phối hợp thuốc ức chế carbonic anhydrase toàn thân.

Đặt kính tiếp xúc soi góc tiền phòng, căn chỉnh chùm tia ngắm của laser Nd:YAG vào TDM bán trong suốt. Sử dụng các thông số sau ở chế độ Q-switched chạy tự do:

  • Kích thước điểm: 3–10 μm
  • Năng lượng: 5–15 mJ
  • Số phát bắn: 4–15 phát

Chiếu laser ở phần trước (gần giác mạc) để giảm thiểu nguy cơ sa mống mắt hoặc hình thành dính mống mắt trước ngoại vi. Để giảm nguy cơ kẹt mống mắt sau laser, có thể kết hợp tạo hình mống mắt bằng laser argon gần cửa sổ TDM.

Nhỏ thuốc steroid (prednisolone acetate 1%) 3 lần/ngày trong 3 ngày. Tiếp tục thuốc điều trị glôcôm cho đến lần tái khám. Tái khám sau 1–3 tuần để kiểm tra nhãn áp và biến chứng.

Biến chứng quan trọng nhất là kẹt mống mắt, xảy ra ở tới 25% trường hợp. Nguy cơ cao trong các trường hợp sau:

  • Khi lỗ mở quá lớn
  • Khi lỗ thủng được tạo ở phía sau (gần mống mắt)
  • Khi nhãn áp chưa giảm đủ trước thủ thuật
  • Khi xoa bóp nhãn cầu sau thủ thuật

Các biến chứng khác bao gồm viêm, xuất huyết tiền phòng, nhãn áp thấp kèm bong hắc mạc, và dính trước. Tất cả đều hiếm gặp.

  • Co đồng tử đầy đủ bằng pilocarpin
  • Nếu nhãn áp cao, tiền xử trí bằng apraclonidin hoặc CAI toàn thân
  • Tạo vị trí thủng ở phía giác mạc
  • Tuyệt đối không xoa bóp nhãn cầu

Nếu xảy ra kẹt mống mắt, hãy thử quản lý bảo tồn bằng thuốc co đồng tử; nếu không hiệu quả, xem xét giải dính bằng laser hoặc phẫu thuật.

Q Tỷ lệ thành công của chọc góc là bao nhiêu?
A

Một lần chọc góc được báo cáo giúp giảm nhãn áp ít nhất 20% so với trước thủ thuật trong ít nhất 2 năm ở khoảng 50% trường hợp. Đây được coi là thủ thuật thiết yếu để cải thiện tỷ lệ thành công của NPGS và là liệu pháp laser đầu tay cho tăng nhãn áp sau NPGS.


Bọng lọc bị bao hóa sau goniopuncture
Bọng lọc bị bao hóa sau goniopuncture
Lingam Vijaya; Panday Manish; George Ronnie; et al. Management of complications in glaucoma surgery. Indian J Ophthalmol. 2011 Jan;59(Suppl 1):S131-S140. Figure 2. PMCID: PMC3038515. License: CC BY.
Ảnh sau phẫu thuật cho thấy bọng lọc bị bao hóa với thành dày và giàu mạch máu. Bọng lọc khu trú, gồ cao dưới kết mạc cùng tăng sinh mạch máu xung quanh cho thấy dòng thoát thủy dịch không đủ do bao hóa.
  1. European Glaucoma Society. European Glaucoma Society Terminology and Guidelines for Glaucoma, 6th Edition. Br J Ophthalmol. 2025.
  2. European Glaucoma Society. European Glaucoma Society Terminology and Guidelines for Glaucoma, 5th Edition. Kugler Publications. 2020.
  3. Krasnov MM. Q-switched laser goniopuncture. Arch Ophthalmol. 1974;92(1):37-41. PMID: 4857748.

Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.