Bỏ qua đến nội dung
Giác mạc và mắt ngoài

Loạn dưỡng giác mạc dạng vô định hình sau

1. Loạn dưỡng giác mạc sau dạng vô định hình

Phần tiêu đề “1. Loạn dưỡng giác mạc sau dạng vô định hình”

Loạn dưỡng giác mạc sau dạng vô định hình (PACD) là một loạn dưỡng giác mạc hiếm gặp, ảnh hưởng đến nhu mô sau giác mạc, màng Descemet, và đôi khi mống mắt. Theo phân loại IC3D, nó được xếp vào loạn dưỡng nhu mô giác mạc 1). Di truyền trội nhiễm sắc thể thường và xảy ra ở cả hai mắt.

Đặc điểm điển hình của bệnh này là đục nhu mô sau dạng tấm hai bên. Kèm theo dẹt và mỏng giác mạc, trong đó sự dẹt bề mặt giác mạc làm thay đổi trạng thái khúc xạ theo hướng viễn thị. Khởi phát có thể sớm từ 16 tuần sau sinh, nhưng thường trong 10 năm đầu đời, gợi ý tính chất bẩm sinh.

Tiến triển bệnh thường chậm hoặc không tiến triển, và ảnh hưởng đến thị lực thường nhẹ.

Mã ICD-10: H18.593, H18.599.

Q PACD khác với các bệnh giác mạc mắc phải như thế nào?
A

PACD là loạn dưỡng giác mạc di truyền do mất đoạn gen trên nhiễm sắc thể 12q21.33, gây ra bất thường phát triển ở nhu mô sau giác mạcmàng Descemet. Khác biệt cơ bản về căn nguyên so với các bệnh giác mạc mắc phải như mộng thịt và thoái hóa giác mạc dải do yếu tố môi trường. Xem phần «Sinh lý bệnh/Cơ chế chi tiết» để biết thêm chi tiết.

2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng

Phần tiêu đề “2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”

Bệnh nhân PACD thường không có triệu chứng. Viễn thị do giác mạc dẹt có thể là tật khúc xạ duy nhất được phát hiện. Thay đổi thị lực nhẹ và hiếm khi ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày.

  • Đục nhu mô sau dạng tấm: Đục lớn vô định hình ở nhu mô sau giác mạcmàng Descemet. Hai bên, là dấu hiệu bệnh lý của PACD.
  • Mỏng giác mạc: Kèm giảm độ dày giác mạc.
  • Giác mạc dẹt: Độ cong giác mạc trở nên phẳng hơn, dẫn đến viễn thị.
  • Bất thường mống mắt: Có thể kèm các biểu hiện ngoài giác mạc như dính mống mắt-giác mạc, lệch đồng tử, và giả đa đồng tử.

PACD di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường. Vị trí nhiễm sắc thể gây bệnh đã được báo cáo liên quan đến mất đoạn gen liền kề trên nhiễm sắc thể 12q21.33. Vùng này bao gồm bốn gen mã hóa proteoglycan nhỏ giàu leucine (SLRPs).

GenProtein mã hóaBệnh liên quan
KERAKeratocanGiác mạc dẹt (AR)
LUMlumican
DCNdecorinLoạn dưỡng nhu mô bẩm sinh
EPYCepiphycan

Các protein này tham gia vào quá trình hình thành sợi collagen và xây dựng chất nền, duy trì độ trong suốt của giác mạc. Sự kết hợp mất đoạn của bốn gen SLRP được cho là gây ra suy giảm độ trong suốt của giác mạc.

  • Tiền sử gia đình: Vì là di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, người thân cấp một của người bệnh có 50% khả năng mang đột biến

Cho đến nay, chưa có chiến lược phòng ngừa dựa trên yếu tố môi trường nào được nghiên cứu.

  • Khám đèn khe: Xác nhận độ đục dạng tấm lan tỏa ở nhu mô sau và màng Descemet. Đánh giá tình trạng mỏng hoặc dẹt giác mạc. Đây là xét nghiệm cơ bản để chẩn đoán lâm sàng.
  • Chụp cắt lớp quang học (OCT) đoạn trước: Đánh giá định lượng sự giảm độ dày giác mạc và dẹt độ cong giác mạc.
  • Kính hiển vi đồng tiêu: Có thể quan sát thấy các nếp gấp vi thể hoặc lớp phản xạ cao ở nhu mô sau tiếp giáp với nội mô.

Chẩn đoán lâm sàng dựa trên độ đục nhu mô sau dạng tấm lan tỏa đặc trưng thấy trên đèn khe và tiền sử gia đình dương tính.

Loạn dưỡng có Độ đục Nhu mô

Loạn dưỡng giác mạc dạng đốm: Di truyền lặn nhiễm sắc thể thường. Bất thường tổng hợp keratan sulfate. Tiến triển, suy giảm thị lực rõ rệt. Có thể kèm mỏng nhưng tiến triển, khác với PACD.

Loạn dưỡng giác mạc dạng chấm: Di truyền trội nhiễm sắc thể thường. Đột biến PIKFYVE. Các đục nhỏ như gàu rải rác trong nhu mô. Không kèm đục dạng tấm hoặc dẹt giác mạc.

Loạn dưỡng giác mạc Schneider: Di truyền trội nhiễm sắc thể thường. Đột biến UBIAD1. Lắng đọng cholesterol. Đục tiến triển, khác với PACD.

Bất thường Nhu mô Sau và Màng Descemet

Loạn dưỡng nhu mô bẩm sinh (CSCD): Đột biến DCN (12q21.33). Đục trắng mỏng. Độ dày giác mạc tăng, khác với PACD.

Loạn dưỡng giác mạc dạng lưới type 1: Đột biến TGFBI. Đục dạng đường do lắng đọng amyloid. Mỏng khu trú màng Bowman, nhưng không mỏng hoặc dẹt toàn bộ giác mạc.

Q PACD có thể được chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm di truyền không?
A

Sự mất đoạn của nhóm gen SLRP (KERA, LUM, DCN, EPYC) trên nhiễm sắc thể 12q21.33 có liên quan đến PACD, nhưng vẫn chưa xác định được gen hoặc tổ hợp gen nào là cần thiết cho bệnh lý. Hiện tại, chẩn đoán lâm sàng (khám đèn khe + tiền sử gia đình) là chính, và xét nghiệm di truyền chỉ mang tính hỗ trợ.

PACD thường không tiến triển và không cần điều trị. Giải thích cho bệnh nhân rằng không có nguy cơ ác tính và tiến hành theo dõi định kỳ.

Trong một số trường hợp, bệnh có thể tiến triển gây đục lan rộng toàn bộ nhu mô giác mạc, dẫn đến giảm thị lực. Khi suy giảm thị lực rõ rệt, chỉ định ghép giác mạc toàn bộ độ dày (ghép xuyên thấu).

Nếu không có giác mạc hiến tặng, có thể xem xét cắt bỏ giác mạc nông như một biện pháp tạm thời.

Q PACD có chữa khỏi hoàn toàn bằng ghép giác mạc không?
A

Ghép giác mạc toàn bộ độ dày có thể thay thế giác mạc bị đục, nhưng vì PACD là bệnh di truyền, có khả năng tái phát trên giác mạc ghép. Ghép giác mạc chỉ được chỉ định cho các trường hợp tiến triển có suy giảm thị lực nặng; hầu hết bệnh nhân có thể được quản lý chỉ bằng theo dõi.


Phân tích liên kết toàn bộ hệ gen trên các gia đình có tiền sử PACD cho thấy liên kết với vùng nhiễm sắc thể 12q21.33. Vùng này chứa bốn gen SLRP: keratocan (KERA), lumican (LUM), decorin (DCN) và epiphycan (EPYC).

Các SLRP tham gia vào quá trình hình thành sợi collagen và xây dựng chất nền. Các đột biến gen SLRP riêng lẻ được biết là gây ra các bệnh giác mạc khác nhau. Đột biến KERA liên quan đến giác mạc phẳng lặn nhiễm sắc thể thường, và đột biến vô nghĩa DCN liên quan đến loạn dưỡng nhu mô di truyền bẩm sinh. Trong PACD, người ta cho rằng sự mất đoạn của bốn gen này hoạt động phối hợp, nhưng gen nào là cần thiết vẫn chưa được xác định.

Kiểm tra nút giác mạc từ bệnh nhân PACD đã trải qua ghép giác mạc toàn bộ báo cáo các kết quả sau:

  • Kính hiển vi quang học: Đứt gãy các lớp collagen nhu mô sau, giảm số lượng tế bào nội mô giác mạc khu trú. Không kèm phù nề, viêm hoặc tân mạch. Màng Descemet mỏng đồng nhất, không có nếp gấp hoặc dày không đều.
  • Kính hiển vi điện tử: Rối loạn sắp xếp các sợi collagen trong các phiến nhu mô sau và biến mất tế bào nội mô.

Những kết quả này cho thấy có bất thường phát triển trong quá trình hình thành nhu mô sau và màng Descemet trong PACD. Nhuộm sắt keo cho thấy kết quả dương tính ở nhu mô sau, gợi ý sự tích tụ bất thường của glycosaminoglycan.


  1. American Academy of Ophthalmology Corneal/External Disease Preferred Practice Pattern Panel. Corneal Edema and Opacification Preferred Practice Pattern. San Francisco: AAO; 2024.

Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.