Suy giảm thị lực (thị lực kém và mù lòa) thường được coi là vấn đề thể chất, nhưng tác động tâm lý lại dễ bị bỏ qua. Giảm thị lực gây ra gánh nặng kinh tế, giảm chất lượng cuộc sống, cô lập xã hội và làm tăng đáng kể nguy cơ trầm cảm và lo âu.
Tỷ lệ trầm cảm ở người trưởng thành khiếm thị: 10,7% (thị lực bình thường 6,8%)
Khoảng 1/3 người cao tuổi khiếm thị có mức độ trầm cảm nào đó (gấp đôi người cao tuổi thị lực bình thường)
81,2% bệnh nhân mắc bệnh thần kinh nhãn khoa có triệu chứng trầm cảm, lo âu và căng thẳng từ nhẹ đến nặng
Tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân khiếm thị đến khám tại phòng khám mắt ước tính khoảng 25% (phân tích tổng hợp 27 nghiên cứu, Parravano và cộng sự 2021)
Bệnh nhân mất thị lực không hồi phục có tỷ lệ trầm cảm 21% và lo âu 22% (phân tích tổng hợp 76.561 và 25.616 người, Shah và cộng sự 2025)
Suy giảm thị lực tự báo cáo tại thời điểm ban đầu có liên quan đáng kể đến trầm cảm trong tương lai (HR 1,33, 7.548 người)
Suy giảm thị lực cũng liên quan đến nguy cơ có xu hướng tự tử. Trong phân tích tổng hợp 31 nghiên cứu dựa trên dân số với khoảng 5,69 triệu người (Kim và cộng sự 2024), hành vi tự tử có OR 2,49 (95% CI 1,71–3,63), ý định tự tử OR 2,01 (95% CI 1,62–2,50), và tử vong do tự tử OR 1,89 (95% CI 1,32–2,71), với nguy cơ cao nhất ở thanh thiếu niên.
QNgười bị suy giảm thị lực có dễ bị trầm cảm và lo âu hơn không?
A
Tỷ lệ trầm cảm ở người trưởng thành bị suy giảm thị lực là 10,7%, gấp khoảng 1,6 lần người có thị lực bình thường (6,8%), và ở người cao tuổi bị suy giảm thị lực lên tới khoảng 33%, gấp khoảng hai lần người cao tuổi có thị lực bình thường. Ở bệnh nhân mắc bệnh thần kinh mắt, 81,2% có một số triệu chứng tâm thần, và mối liên quan giữa suy giảm thị lực và sức khỏe tâm thần là rõ ràng về mặt dịch tễ học.
Ở bệnh nhân bệnh mắt do tuyến giáp (TED), chẩn đoán trầm cảm và lo âu được ghi nhận ở 36% (260/717 người). Trong đó: lo âu 26%, trầm cảm 18%, cả hai 8%. Ở TED mức độ trung bình, tỷ lệ lo âu cao hơn đáng kể so với TED nặng (28% so với 14%, OR 2,50), và điểm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống “sức khỏe tâm lý” là cao nhất (trung bình 4,1).
Bệnh nhân trẻ bị mất thị lực có nguy cơ trầm cảm và lo âu cao gấp 5 lần so với bệnh nhân lớn tuổi (nghiên cứu CDC). Ở bệnh nhân NMOSD (Rối loạn phổ viêm tủy thị thần kinh), 39,8% bị trầm cảm, trong đó 51,5% ở mức độ trung bình đến nặng.
Trong tăng áp lực nội sọ vô căn (IIH), bệnh lý tâm thần đi kèm cũng rõ rệt. Trong một đoàn hệ tiến cứu gồm 111 bệnh nhân IIH mới mắc (Korsbæk và cộng sự 2022), 45% có bệnh lý tâm thần đi kèm, với trầm cảm và rối loạn nhân cách cảm xúc không ổn định thường gặp. Ở những trường hợp có bệnh lý tâm thần đi kèm, thị trường kém hơn đáng kể tại thời điểm ban đầu và sau 6 tháng, trở thành dấu hiệu tiên lượng chức năng thị giác.
QCó thể lo lắng ngay cả khi thị lực vẫn tốt không?
A
35% bệnh nhân glaucoma mới được chẩn đoán báo cáo lo âu, căng thẳng và stress, và tất cả đối tượng đều duy trì chức năng thị giác tốt (thị lực 20/40 hoặc tốt hơn). Ngay cả khi chức năng thị giác hiện tại không bị suy giảm, bản thân việc chẩn đoán bệnh mạn tính tiến triển đã tạo ra lo ngại về suy giảm thị lực trong tương lai, góp phần gây lo âu.
Các yếu tố khiến suy giảm thị lực dẫn đến xấu đi sức khỏe tâm thần rất đa dạng.
Loại suy giảm thị lực: Glaucoma giả tróc bao và glaucoma góc đóng nguyên phát có tỷ lệ trầm cảm cao hơn glaucoma góc mở nguyên phát. Các bệnh tiến triển nhanh hơn và đáp ứng điều trị kém có nguy cơ cao hơn.
Mức độ nghiêm trọng của suy giảm thị lực: Có mối tương quan thuận giữa mức độ nghiêm trọng và tỷ lệ mắc/mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng tâm lý.
Tuổi tác: Bệnh nhân trẻ tuổi bị suy giảm thị lực có nguy cơ trầm cảm và lo âu cao gấp 5 lần so với bệnh nhân lớn tuổi. Nguy cơ hành vi tự sát cao nhất ở tuổi vị thành niên.
Lo lắng về tương lai: Ngay cả khi chức năng thị giác hiện tại bình thường, bản thân việc chẩn đoán bệnh mãn tính tiến triển cũng góp phần gây lo lắng.
Gánh nặng kinh tế và xã hội: Khó khăn trong công việc, gánh nặng kinh tế và hạn chế tham gia xã hội làm tăng nguy cơ trầm cảm. Mất thị lực được coi là sự kết hợp của hai yếu tố chính dẫn đến tự sát: “vấn đề sức khỏe” và “vấn đề kinh tế”.
Kỳ thị xã hội: Định kiến (kỳ thị) đối với suy giảm thị lực cản trở sự tham gia xã hội và làm sâu sắc thêm sự cô lập.
Căng thẳng cảm xúc và nhãn áp: Căng thẳng cảm xúc cấp tính có thể gây tăng đột ngột nhãn áp, điều này đặc biệt quan trọng ở bệnh nhân glôcôm.
Trong thực hành nhãn khoa, các công cụ sàng lọc phù hợp được sử dụng để đánh giá sức khỏe tâm thần tùy theo mục đích.
Đánh giá trầm cảm
PHQ-9: 9 mục, đánh giá tần suất triệu chứng trong 2 tuần qua theo thang 0–3. Được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực không chuyên tâm thần. Cũng xác định nguy cơ tự tử.
GDS (Thang đánh giá trầm cảm ở người cao tuổi): 30 mục (GDS-30) hoặc 15 mục (GDS-15) dạng có/không. Điểm >5 gợi ý trầm cảm, >10 hầu như luôn trầm cảm. Suy giảm thị lực liên quan đến điểm GDS-15 cao.
CES-D: 20 mục, trong tuần qua. Điểm cắt ≥16.
Đánh giá lo âu
GAD-7 (Rối loạn lo âu lan tỏa-7): 7 mục, đánh giá 2 tuần qua từ 0 đến 3. Thang đo sàng lọc lo âu được sử dụng rộng rãi.
STAI (Thang đo lo âu trạng thái và đặc điểm): 20 mục lo âu trạng thái + 20 mục lo âu đặc điểm. Hữu ích để phân biệt lo âu và trầm cảm.
Sàng lọc kết hợp
HADS (Thang đo lo âu và trầm cảm bệnh viện): 14 mục, thang đánh giá loại trừ triệu chứng cơ thể. 7 câu hỏi trầm cảm + 7 lo âu. Mỗi thang phụ ≥8 điểm có ý nghĩa. Đặc biệt hữu ích trong quản lý bệnh nhân thị lực kém.
GADS (Thang đo lo âu và trầm cảm Goldberg): 18 mục có/không. Xác suất 50% có ý nghĩa lâm sàng nếu lo âu ≥5 hoặc trầm cảm ≥2.
Đánh giá nguy cơ tự tử
C-SSRS (Thang đo Mức độ Nghiêm trọng Tự sát Columbia) : Đánh giá có hệ thống về ý định và hành vi tự sát. Bắt đầu với hai câu hỏi cơ bản, sau đó thêm câu hỏi tùy theo mức độ nguy cơ.
Rào cản từ phía bệnh nhân : Nhiều bệnh nhân ngần ngại nói về triệu chứng do kỳ thị xã hội về sức khỏe tâm thần.
Rào cản từ phía bác sĩ : Thiếu tự tin về kiến thức và kỹ năng sàng lọc, không quen với các đường chuyển tuyến phù hợp.
Sau đào tạo, hành động của bác sĩ tăng đáng kể và nhận thức về rào cản giảm.
QTôi có thể được sàng lọc sức khỏe tâm thần khi khám mắt không?
A
Các công cụ sàng lọc như PHQ-9 và HADS có thể được sử dụng trong môi trường nhãn khoa, và các hướng dẫn về thần kinh nhãn khoa và bệnh võng mạc khuyến nghị bác sĩ nhãn khoa kiểm tra các triệu chứng trầm cảm và giới thiệu bệnh nhân đến các chuyên gia thích hợp. Tuy nhiên, việc sàng lọc nên được thực hiện tại các cơ sở có hệ thống điều trị và theo dõi.
Nhằm tận dụng tối đa thị lực còn lại và giảm các khuyết tật liên quan đến thị giác. Cải thiện kết quả sức khỏe tâm thần của bệnh nhân thông qua việc sử dụng các thiết bị hỗ trợ, huấn luyện đi lại và học các chiến lược bù trừ.
Chỉ 5–10% bệnh nhân đủ điều kiện thực sự nhận được dịch vụ LVR
Rào cản: phủ nhận nhu cầu, sức khỏe thể chất kém, thiếu phương tiện đi lại, thiếu giới thiệu
Dưới 25% nhà cung cấp LVR tại Mỹ cung cấp điều trị tâm lý
Bệnh nhân có vấn đề sức khỏe tâm thần ít có khả năng sử dụng LVR, cần cách tiếp cận ưu tiên
Trong RCT về AMD (Rovner và cộng sự 2014, 188 người), tỷ lệ trầm cảm ở nhóm kích hoạt hành vi + LVR là 12,6% so với 23,4% ở nhóm đối chứng. Tích hợp can thiệp sức khỏe tâm thần và LVR cho thấy hiệu quả phòng ngừa với NNT=9
Mục đích của tư vấn bởi bác sĩ nhãn khoa là khuyến khích bệnh nhân đối diện với chính mình, tự đạt được sự hiểu biết và nhận thức mới, và có thể chủ động giải quyết các vấn đề trong cuộc sống thực tế.
Tư vấn được thực hiện trong khung thời gian riêng biệt với khám bệnh, và được chia thành nhiều buổi thay vì chỉ một lần.
Giai đoạn đầu: Điều quan trọng nhất là không để bệnh nhân ở một mình càng nhiều càng tốt.
Cung cấp thông tin hỗ trợ lặp đi lặp lại trong mỗi lần khám định kỳ.
Trải nghiệm thực tế với dụng cụ hỗ trợ giúp hiểu sâu hơn và tăng hiệu quả.
Trong trường hợp khó tiếp tục làm việc do suy giảm thị lực đột ngột, cần can thiệp sớm đặc biệt.
Kết nối đến phục hồi chức năng càng sớm càng tốt
Bản thân bác sĩ nhãn khoa cần xóa bỏ hình ảnh tiêu cực về khiếm thị và nâng cao nhận thức cho toàn bộ nhân viên
Vì mất thị lực kết hợp cả “vấn đề sức khỏe” và “vấn đề kinh tế”, hai yếu tố chính dẫn đến tự tử, cần có sự can thiệp theo từng giai đoạn phù hợp với quá trình tâm lý (phủ nhận → đau buồn → tức giận → trạng thái trầm cảm).
Các khuyến nghị trong hướng dẫn PPP của AAO (Học viện Nhãn khoa Hoa Kỳ) được trình bày dưới đây.
AMD PPP: Bác sĩ nhãn khoa nên hỏi về các triệu chứng trầm cảm và khuyên bệnh nhân đến gặp chuyên gia nếu cần. Trầm cảm có thể làm trầm trọng thêm tác động của AMD.
PPP cho DR, tắc tĩnh mạch võng mạc và RAO: Cân nhắc giới thiệu bệnh nhân trầm cảm hoặc lo âu đến tư vấn, phục hồi chức năng nghề nghiệp và nhóm hỗ trợ đồng đẳng.
QPhục hồi chức năng thị lực kém có hiệu quả cho sức khỏe tâm thần không?
A
Phục hồi chức năng thị lực kém góp phần cải thiện kết quả sức khỏe tâm thần bằng cách hỗ trợ sử dụng thị lực còn lại và độc lập chức năng. Tuy nhiên, chỉ 5–10% bệnh nhân đủ điều kiện thực sự sử dụng dịch vụ. Bệnh nhân có vấn đề sức khỏe tâm thần đặc biệt có xu hướng tránh LVR, vì vậy việc bác sĩ nhãn khoa chủ động giới thiệu là rất quan trọng.
Các con đường mà suy giảm thị lực dẫn đến xấu đi sức khỏe tâm thần là đa yếu tố.
Con đường qua giảm CLCS và chức năng: Hạn chế hoạt động hàng ngày và suy giảm chức năng do mất thị lực là yếu tố trực tiếp gây trầm cảm và lo âu. Điều này cũng lan sang các vấn đề sức khỏe thứ cấp như vào viện dưỡng lão và tăng nguy cơ té ngã.
Con đường qua gánh nặng kinh tế: Khó khăn trong công việc, chi phí y tế cao và mất vai trò xã hội làm tăng nguy cơ trầm cảm.
Con đường qua cô lập xã hội và kỳ thị: Kỳ thị liên quan đến khiếm thị cản trở tham gia xã hội, và sự cô lập làm trầm trọng thêm lo âu và trầm cảm.
Tác động tâm lý của bệnh mãn tính: Bản thân sự kiện chẩn đoán gây ra quá trình tâm lý “phủ nhận → đau buồn → tức giận → trạng thái trầm cảm”.
Sự xấu đi hai chiều: Trầm cảm có thể làm trầm trọng thêm tác động của các bệnh về mắt như AMD, và bệnh về mắt cùng sức khỏe tâm thần ảnh hưởng lẫn nhau theo cả hai chiều.
Vòng luẩn quẩn giữa căng thẳng cảm xúc và nhãn áp: Căng thẳng cảm xúc cấp tính có thể gây tăng đột ngột nhãn áp, có khả năng đẩy nhanh tiến triển của bệnh tăng nhãn áp. Điều này làm suy giảm thêm chức năng thị giác, gia tăng căng thẳng, tạo thành vòng luẩn quẩn.
Kim CY, Ha A, Shim SR, Hong IH, Chang IB, Kim YK. Visual Impairment and Suicide Risk: A Systematic Review and Meta-Analysis. JAMA Network Open. 2024;7(4):e247026. PMID: 38630473
31の集団ベース研究(約569万人)のメタ解析。視覚障害は自殺行動(OR 2.49、95% CI 1.71–3.63)、自殺念慮(OR 2.01、95% CI 1.62–2.50)、自殺死(OR 1.89、95% CI 1.32–2.71)と有意に関連し、青年期でリスクが最も高い。
Parravano M, Petri D, Maurutto E, et al. Association Between Visual Impairment and Depression in Patients Attending Eye Clinics: A Meta-analysis. JAMA Ophthalmology. 2021;139(7):753-761. PMID: 34042966
眼科クリニックを受診する視覚障害患者27研究のメタ解析。プールされたうつ病有病率は0.25(95% CI 0.19–0.33)で、約4人に1人が抑うつを有する。
Shah N, Tran E, Aly M, Phu V, Laughlin E, Malvankar-Mehta MS. Depression and Anxiety in Patients With Irreversible Vision Loss: Meta-Analysis and Systematic Review. International Journal of Psychiatry in Medicine. 2025. PMID: 41061694
Yin J, Li H, Guo N. Prevalence of Depression and Anxiety Disorders in Patients with Glaucoma: A Systematic Review and Meta-Analysis Based on Cross-Sectional Surveys. Actas Españolas de Psiquiatría. 2024. PMID: 38863056
横断研究15件・24,334人のメタ解析。緑内障患者はうつ病リスク(RR 5.92、95% CI 3.29–10.66)と不安リスク(RR 2.99、95% CI 1.93–4.64)が有意に上昇。
Korsbæk JJ, Jensen RH, Beier D, Hagen SM, Molander LD, Høgedal L, Andresen M, Hamann S. Psychiatric Comorbidities in Patients With Idiopathic Intracranial Hypertension: A Prospective Cohort Study. Neurology. 2022;99(2):e199-e208. PMID: 35473759