Bệnh giun chỉ Loa (loiasis) là bệnh nhiễm trùng do giun chỉ Loa loa ký sinh ở mô dưới da và dưới niêm mạc người. Vì giun trưởng thành có thể nhìn thấy bằng mắt thường khi di chuyển dưới kết mạc nhãn cầu, nên còn được gọi là “giun mắt châu Phi”.
Loa loa chỉ nhiễm ở người và linh trưởng 1). Con đực dài khoảng 3 cm, con cái dài 5-7 cm, đường kính 0,4-0,5 mm 1). Giun trưởng thành có thể sống hơn 20 năm, và con cái trưởng thành sản xuất 12.000-39.000 vi ấu trùng mỗi ngày.
Vật trung gian truyền bệnh là ruồi hút máu thuộc chi Chrysops. Môi trường sống là rừng và đầm lầy ở Tây và Trung Phi xích đạo 1), bao gồm Angola, Cameroon, Cộng hòa Trung Phi, Congo, Gabon, Nigeria. Hơn 10 triệu người bị nhiễm, hơn 14 triệu người sống ở vùng nguy cơ cao.
Trước đây được coi là bệnh lành tính. Tuy nhiên, các báo cáo gần đây cho thấy tỷ lệ nguy cơ quy dân số cho tử vong liên quan đến tăng vi ấu trùng máu là 14,5%, đặt ra nghi vấn về quan điểm lành tính.
Ở những người sống lâu năm trong vùng lưu hành, hầu hết các ca nhiễm không có triệu chứng. Trong khi đó, ở khách du lịch hoặc người lưu trú ngắn hạn, hội chứng quá mẫn thường xuất hiện rõ rệt với tăng bạch cầu ái toan, phù mạch, ngứa toàn thân và tăng IgE. Triệu chứng mắt thường được báo cáo là cảm giác dị vật và khó chịu. Nếu giun xâm nhập vào mắt, sẽ gây đau và sợ ánh sáng.
Giun di chuyển dưới kết mạc: Giun trưởng thành có thể nhìn thấy bằng mắt thường khi di chuyển dưới kết mạc nhãn cầu. Đây là dấu hiệu bệnh lý đặc trưng. Thường không kèm tổn thương mô vĩnh viễn.
Phù mi mắt: Phù xảy ra do giun trưởng thành di chuyển quanh mắt.
Viêm kết mạc mi: Kèm tăng chảy nước mắt và sợ ánh sáng1).
Giun chỉ trong mắt (hiếm): Giun xâm nhập vào tiền phòng hoặc dịch kính. Quan sát thấy màng fibrin, tế bào/flare tiền phòng và lắng đọng ở nội mô giác mạc. Thị lực có thể giảm từ 6/24 xuống còn cảm nhận ánh sáng.
Dấu hiệu toàn thân
Phù Calabar: Xuất hiện ở 50% bệnh nhân1). Là phù dưới da không đỏ, kích thước 5-20 cm, thường ở tứ chi và tự thoái lui trong vài giờ đến 2-4 ngày1). Do phản ứng quá mẫn với sự di chuyển dưới da của giun trưởng thành.
Tăng bạch cầu ái toan: Có tăng bạch cầu ái toan máu ngoại vi rõ rệt1).
Khác: Đau khớp (do lắng đọng phức hợp miễn dịch)1), viêm hạch bạch huyết1), hiếm gặp viêm màng não-não1), bệnh thần kinh ngoại biên1) và xơ hóa cơ tim1).
QNếu thấy giun trong mắt thì phải làm gì?
A
Nếu bạn thấy giun di chuyển dưới kết mạc, hãy đến bác sĩ nhãn khoa ngay lập tức vì giun có thể biến mất nhanh chóng. Giun dưới kết mạc thường có thể được lấy ra bằng một vết rạch nhỏ trên kết mạc dưới gây tê tại chỗ. Tuy nhiên, do vi ấu trùng vẫn còn trong cơ thể, cần điều trị toàn thân bằng thuốc chống ký sinh trùng sau khi lấy giun.
Nguyên nhân gây bệnh giun chỉ Loa là nhiễm Loa loa, do ruồi trâu cái thuộc chi Chrysops truyền bệnh 1). Ruồi hoạt động mạnh nhất từ 10 giờ sáng đến 2 giờ chiều, thể hiện tính hoạt động ban ngày. Môi trường sống là rừng và đầm lầy, nhiều nhất vào mùa mưa 1).
Đường lây nhiễm:
Khi ruồi đốt, ấu trùng giai đoạn ba (L3) xâm nhập qua da
Ấu trùng đến lớp hạ bì và mất 150-170 ngày để trưởng thành thành con trưởng thành
Thời gian ủ bệnh từ 3 đến 15 tháng, nhưng có thể kéo dài đến 3-4 năm 1)
Tính chu kỳ ban ngày của vi sợi chỉ: Vi sợi chỉ có vỏ bọc và thể hiện tính chu kỳ ban ngày (diurnal periodicity), đạt đỉnh vào buổi trưa 1). Chu kỳ này trùng với thời gian hoạt động của ruồi trâu.
Yếu tố nguy cơ:
Du lịch đến vùng lưu hành bệnh (nguy cơ tăng khi tiếp xúc trên 1 tháng)
Hoạt động trong rừng và đầm lầy
Triệu chứng rõ rệt hơn ở khách du lịch ngắn ngày so với người cư trú dài hạn
QDu khách có bị nhiễm bệnh không?
A
Có, du khách đến vùng lưu hành dịch cũng bị nhiễm. Nguy cơ nhiễm tăng lên đặc biệt khi lưu trú trên một tháng. Du khách có xu hướng xuất hiện triệu chứng nặng hơn so với cư dân thường trú tại vùng lưu hành, và dễ mắc “hội chứng quá mẫn” biểu hiện bằng tăng bạch cầu ái toan rõ rệt, phù mạch và ngứa toàn thân.
Chẩn đoán xác định dựa trên việc xác định vi sợi chỉ hoặc xác nhận trực tiếp giun trưởng thành.
Phương pháp chẩn đoán xác định:
Quan sát trực tiếp và lấy giun dưới kết mạc để xác định loài
Phát hiện vi sợi chỉ trên tiêu bản máu (lấy máu vào buổi trưa, do xuất hiện ban ngày) 1)
Tỷ lệ phát hiện vi sợi chỉ không phải lúc nào cũng cao. Ở người từ vùng không lưu hành, thường âm tính 1). Vì vi sợi chỉ được giải phóng vào máu ngoại vi không đều, có thể cần lấy máu nhiều lần vào các ngày khác nhau 1).
Xét nghiệm huyết thanh và phân tử:
Xét nghiệm kháng nguyên tái tổ hợp LISXP-1 IgG4: độ đặc hiệu cao
Phương pháp LAMP (Khuếch đại đẳng nhiệt qua vòng lặp): độ nhạy cao và hữu ích trong việc xác định người có nguy cơ tác dụng phụ của thuốc
Xét nghiệm kháng thể ELISA: độ đặc hiệu thấp, có phản ứng chéo với các loại giun chỉ khác
Nhiễm trùng đồng thời với O. volvulus có ý nghĩa lâm sàng quan trọng. Vì ảnh hưởng trực tiếp đến lựa chọn điều trị, cần chẩn đoán phân biệt bằng các xét nghiệm đặc hiệu cho bệnh giun chỉ mắt.
Điều trị bằng thuốc là phương pháp cơ bản cho bệnh giun chỉ mắt; chỉ loại bỏ giun không thể diệt trừ vi sợi chỉ trong toàn thân.
Điều trị bằng thuốc
Diethylcarbamazine (DEC): Thuốc hàng đầu. Liều 8-10 mg/kg, 3 lần/ngày trong 3 tuần. Hiệu quả chống cả giun trưởng thành và vi sợi chỉ. Có thể dùng để dự phòng. Chống chỉ định nếu mật độ vi sợi chỉ trong máu ≥ 2.500 mf/mL do nguy cơ bệnh não.
Albendazole: Dùng như điều trị trước cho tình trạng tăng vi sợi chỉ máu cao. Nhắm vào giun trưởng thành và giảm dần vi sợi chỉ trong máu. Ít tác dụng phụ hơn so với DEC.
Ivermectin: Liều duy nhất làm giảm vi sợi chỉ trong hơn 1 năm, nhưng không có hoạt tính chống giun trưởng thành. Nguy cơ bệnh não ở bệnh nhân có tải lượng cao. Báo cáo ca bệnh ghi nhận khỏi bệnh với ivermectin 200 μg/kg/tuần trong 3 tuần + albendazole 800 mg/ngày trong 1 tháng1).
Điều trị phẫu thuật
Lấy giun dưới kết mạc: Khi giun xuất hiện, kẹp bằng kẹp; sau khi gây tê và làm liệt bằng tiêm dưới kết mạc lidocain có epinephrine, lấy ra qua đường rạch kết mạc ≤ 5 mm.
Rửa tiền phòng: Rửa tiền phòng cho giun trong tiền phòng, kèm tiêm dưới kết mạcsteroid và kháng sinh. Nếu có màng fibrin, cần cắt bỏ.
Cắt dịch kính: Thực hiện cho giun trong dịch kính, nhưng rất hiếm.
QTác dụng phụ của thuốc có an toàn không?
A
Mối lo ngại chính của thuốc điều trị là bệnh não và xuất huyết võng mạc do vi sợi chỉ chết nhanh trong máu. Ở bệnh nhân có tải lượng vi sợi chỉ thấp (<2.500 mf/mL), độ an toàn của DEC tương đối cao. Ở tải lượng cao, cần điều trị trước bằng albendazole sau đó chuyển sang DEC hoặc ivermectin. Báo cáo ca bệnh cho thấy dùng ivermectin + albendazole ở bệnh nhân âm tính với vi sợi chỉ đã khỏi bệnh mà không có tác dụng phụ ngoài ngứa nhẹ1).
Vòng đời của giun chỉ Loa loa hoàn tất giữa ruồi Chrysops và vật chủ là người.
Chu trình lây nhiễm:
Ấu trùng giai đoạn ba (L3) xâm nhập qua da khi ruồi Chrysops đốt
Ấu trùng đến lớp hạ bì và trưởng thành thành giun trưởng thành trong 150–170 ngày
Giun trưởng thành sống ở lớp hạ bì và di chuyển tích cực1)
Giun cái trưởng thành sản sinh vi sợi chỉ trong mô liên kết
Vi sợi chỉ di chuyển vào máu ngoại vi và có tính chu kỳ ban ngày, đạt đỉnh vào buổi trưa1)
Ruồi Chrysops hấp thụ vi sợi chỉ khi đốt, chúng phát triển thành L3 trong ruồi và lây nhiễm cho vật chủ tiếp theo
Cơ chế sưng Calabar: Khi giun trưởng thành di chuyển dưới da, hệ miễn dịch của vật chủ phản ứng gây ra phản ứng quá mẫn qua trung gian IgE. Biểu hiện dưới dạng phù nề cục bộ thoáng qua, tự thoái lui trong vài giờ đến vài ngày1).
Cơ chế tổn thương mắt: Giun trưởng thành di chuyển qua các mô quanh mắt đến dưới kết mạc1). Sự di chuyển dưới kết mạc thường không gây tổn thương mô vĩnh viễn. Tuy nhiên, nếu xâm nhập vào tiền phòng hoặc dịch kính, tình trạng viêm dữ dội do giun (hình thành màng fibrin, viêm màng bồ đào) gây mất thị lực.
Tình trạng vi khuẩn máu và tổn thương cơ quan: Các quá trình tắc nghẽn và viêm do vi khuẩn trong hệ tuần hoàn được cho là gây ra tổn thương mạch máu võng mạc (bệnh võng mạc do giun chỉ Loa) và tổn thương các cơ quan khác. Cơ chế này được đề xuất như một giả thuyết để giải thích nguy cơ tử vong tăng cao (tỷ lệ nguy cơ quy cho dân số 14,5%).
Nghiên cứu về bệnh giun chỉ Loa chủ yếu tiến triển theo hướng cải thiện phương pháp chẩn đoán và thiết lập các chiến lược điều trị an toàn.
Phát triển phương pháp chẩn đoán mới: Xét nghiệm sắc ký miễn dịch sử dụng kháng nguyên LISXP-1 đã được phát triển, đạt độ nhạy 94% và độ đặc hiệu 100% so với nhóm đối chứng. Phương pháp LAMP có độ nhạy cao và hữu ích trong việc xác định những người có nguy cơ tác dụng phụ sau điều trị ivermectin. Các xét nghiệm này có thể góp phần cải thiện tính an toàn của các chương trình điều trị hàng loạt ở vùng lưu hành dịch.
Thách thức của điều trị hàng loạt: Các chương trình điều trị hàng loạt bằng ivermectin cho bệnh giun chỉ Onchocerca bị hạn chế ở các khu vực đồng nhiễm với giun chỉ Loa do nguy cơ tác dụng phụ nghiêm trọng. Việc phát triển các phương pháp đánh giá nhanh số lượng vi khuẩn đang được tiến hành và hy vọng sẽ đạt được điều trị hàng loạt an toàn.
Thách thức trong tương lai:
Phát triển vắc-xin chống giun chỉ Loa
Làm rõ thêm mối liên quan giữa tình trạng vi khuẩn máu và nguy cơ tử vong
Thiết lập phác đồ điều trị hàng loạt an toàn và hiệu quả
Lunardon L, Romagnuolo M, Cusini M, Veraldi S. A Case of Possible Loiasis Contracted in Cameroon and Diagnosed in Milan, Italy, and Review of Cases Published in Dermatological Journals. Case Rep Dermatol. 2021;13:389-393.
Hasnaoui I, Hazil Z, Krichen MA, Hassina S, Akkenour Y, Serghini L, et al. [Ocular Loa loa filariasis]. J Fr Ophtalmol. 2024;47(4):104124. PMID: 38452599.
VAN BOGAERT L, DUBOIS A, JANSSENS PG, RADERMECKER J, TVERDY G, WANSON M. Encephalitis in loa-loa filariasis. J Neurol Neurosurg Psychiatry. 1955;18(2):103-19. PMID: 14381919.
Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.
Đã sao chép bài viết vào clipboard
Mở một trợ lý AI bên dưới và dán nội dung đã sao chép vào ô chat.