Bỏ qua đến nội dung
Nhãn khoa nhi và lác

Lác trong điều tiết

Lác trong điều tiết (accommodative esotropia) là lác trong do hội tụ điều tiết kèm theo nỗ lực điều tiết. Yếu tố nền là viễn thị mức độ trung bình đến cao. Chỉnh viễn thị hoàn toàn làm giảm góc lác.

Đây là loại lác trong mắc phải thường gặp nhất. Chiếm khoảng một phần ba tổng số bệnh nhân lác, tỷ lệ hiện mắc ước tính 1-2% dân số. Không có khác biệt về giới tính hay chủng tộc. Thời điểm khởi phát thường từ 1 đến 3 tuổi. Tuy nhiên, cũng có thể gặp từ 4 tháng đến 7 tuổi.

Nguy cơ tăng khi viễn thị từ +2D trở lên. Hiếm gặp khi +8D trở lên. Độ viễn thị trung bình trong lác trong điều tiết thuần túy là +5,43D ± 2,25. Thời điểm khởi phát thường gặp nhất là 1,5-3 tuổi, khi thị lực bắt đầu phát triển và nỗ lực nhìn rõ tăng lên. Hiếm khi khởi phát trước 6 tháng tuổi; nếu có, cần phân biệt với lác trong trẻ nhũ nhi.

Q Tại sao lác trong điều tiết thường gặp ở trẻ nhỏ?
A

Vì nó trùng với thời điểm viễn thị biểu hiện ở trẻ nhỏ và nỗ lực điều tiết tăng lên để có thị giác rõ nét. Trẻ sơ sinh có viễn thị khoảng +2D, và viễn thị có xu hướng tăng cho đến 7-8 tuổi.

2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng

Phần tiêu đề “2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”

Vì khởi phát ở tuổi nhỏ, hiếm khi có than phiền về song thị. Các triệu chứng sau có thể gặp:

  • Nhận biết lác trong: Cha mẹ thường nhận thấy mắt trẻ bị lệch vào trong. Ban đầu có thể từng lúc khi mệt hoặc nhìn gần, và có thể nhanh chóng trở thành hằng định.
  • Song thị (nhìn đôi): Trẻ lớn hơn có thể phàn nàn về nhìn đôi. Ở trẻ nhỏ, hiếm khi có phàn nàn vì chúng ức chế hình ảnh từ mắt lệch.
  • Giảm thị lực: Bệnh nhân có thể phàn nàn về mờ mắt nếu viễn thị không được điều chỉnh đầy đủ.
  • Giảm cảm nhận chiều sâu: Có thể xuất hiện các triệu chứng liên quan đến rối loạn cảm nhận chiều sâu, như khó khăn khi lên xuống cầu thang hoặc bắt bóng.

Lác trong điều tiết biểu hiện như lác trong đồng vận. Khám khúc xạ dưới liệt điều tiết là cần thiết để chẩn đoán.

Khúc xạ

Chính thị với chỉnh kính hoàn toàn: Vị trí mắt trở nên thẳng khi đeo kính điều chỉnh viễn thị hoàn toàn.

Tỷ lệ AC/A bình thường: Góc lác gần như giống nhau cho nhìn xa và nhìn gần.

Góc lác: Thường 20–40 điốp lăng kính (PD).

Chức năng thị giác hai mắt: Nhìn chung tốt.

Phi khúc xạ

Tỷ lệ AC/A cao: Góc lác trong khi nhìn gần tăng ≥10 PD so với nhìn xa.

Tật khúc xạ: Ngoài viễn thị, cũng có thể xảy ra ở chính thị hoặc cận thị.

Cải thiện với kính hai tròng: Thêm +3,00D cải thiện vị trí mắt khi nhìn gần.

Chức năng thị giác hai mắt: Thường tốt.

Điều tiết một phần

Lác trong tồn dư: Khi chỉnh kính hoàn toàn, góc lác giảm ≥10PD, nhưng vẫn còn lác trong tồn dư ≥10PD.

Thể hỗn hợp: Kết hợp lác trong điều tiết và không điều tiết.

Chỉ định phẫu thuật: Phẫu thuật được xem xét cho lác trong tồn dư.

Chức năng thị giác hai mắt: Thay đổi, thường kém.

Kèm theo viễn thị trung bình (thường +2,00 đến +6,50 D). Ban đầu, lác trong từng lúc, có thể chuyển thành lác thường trực dần dần. Có thể kèm nhược thị một mắt.

Nguyên nhân cơ bản của lác trong điều tiết là do hội tụ điều tiết quá mức kèm theo nỗ lực điều tiết.

Ở mắt viễn thị, cần điều tiết để có hình ảnh rõ. Điều tiết kích thích hội tụ. Nếu phân kỳ hợp thị không bù đủ hội tụ này, lác trong sẽ xảy ra.

Cơ chế lác trong điều tiết không do khúc xạ

Phần tiêu đề “Cơ chế lác trong điều tiết không do khúc xạ”

Tỷ lệ hội tụ điều tiết/điều tiết (AC/A) cao bất thường, dẫn đến hội tụ quá mức so với lượng điều tiết ở cự ly gần. Có thể xảy ra bất kể loại tật khúc xạ nào.

  • Viễn thị: ≥+2,00 D là nguy cơ chính. Thường gặp ở viễn thị trung bình (trung bình +4,00 D).
  • Lệch khúc xạ: Chênh lệch khúc xạ giữa hai mắt làm tăng nguy cơ nhược thị.
  • Tiền sử gia đình: Mặc dù chưa rõ kiểu di truyền cụ thể, nhưng tiền sử gia đình là yếu tố nguy cơ.
  • Bệnh tật hoặc chấn thương: Không phải nguyên nhân trực tiếp, nhưng có thể là yếu tố kích hoạt khởi phát bệnh.
Q Có phải viễn thị luôn dẫn đến lác trong điều tiết?
A

Viễn thị từ +2D trở lên dễ mắc bệnh, nhưng không nhất thiết dẫn đến lác trong. Khả năng phân kỳ dung hợp và sự khác biệt cá nhân đóng vai trò. Ở viễn thị nặng (+8D trở lên), hiếm khi xảy ra.

Để chẩn đoán lác trong điều tiết, khám khúc xạ dưới liệt điều tiết và đánh giá vị trí mắt là không thể thiếu.

Trong khám khúc xạ trẻ em, do sự can thiệp lớn của điều tiết, việc sử dụng thuốc liệt điều tiết là bắt buộc.

  • Thuốc nhỏ mắt atropin sulfat: Lựa chọn đầu tiên trong lác trong. Atropin 0,5% nhỏ 2 lần/ngày trong 7 ngày. Ưu việt trong phát hiện mức viễn thị tối đa.
  • Cyclopentolat: Dùng khi không thể dùng atropin. Hỗn hợp cyclopentolat 1% và phenylephrin 2,5% được sử dụng.
  • Tropicamid: Được sử dụng hỗ trợ như một thuốc liệt điều tiết.
  • Nghiệm pháp che (Cover test): Thực hiện ở khoảng cách xa (5 m) và gần (33 cm). Kiểm tra sự luân phiên cố định và đánh giá nguy cơ nhược thị.
  • Nghiệm pháp che lăng kính luân phiên (APCT): Đo góc lác theo đơn vị PD.

Nếu chênh lệch góc lác giữa nhìn xa và nhìn gần từ 10 PD trở lên, nghi ngờ tỷ lệ AC/A cao.

Phương pháp đoCách thực hiệnGiá trị bình thường
Phương pháp GradientThay đổi góc lác sau khi thêm +3D ÷ 34 ± 2 PD/D
Phương pháp HeterophoriaHiệu số góc lác xa-gần có tính đến khoảng cách đồng tử4 ± 2 PD/D

Đeo kính điều chỉnh toàn bộ trong 3 tháng hoặc hơn, sau đó đánh giá như sau.

  • Lác trong điều tiết do khúc xạ: Góc lác giảm từ 10PD trở lên, và lác trong còn lại dưới 10PD
  • Lác trong điều tiết một phần: Góc lác giảm từ 10PD trở lên, nhưng lác trong còn lại từ 10PD trở lên
  • Lác trong điều tiết không do khúc xạ: Góc lác trong khi nhìn gần lớn hơn khi nhìn xa từ 10PD trở lên, và cải thiện khi thêm kính +3D
  • Lác trong giả: Lác trong biểu kiến do nếp quạt mí mắt hoặc sống mũi tẹt. Ở trẻ nhỏ, tự biến mất khi lớn lên.
  • Lác trong trẻ sơ sinh: Lác trong hằng định góc lớn (30PD trở lên) xuất hiện trong 6 tháng đầu đời. Nếu viễn thị vượt quá +2D, trước tiên cần phân biệt bằng cách đeo kính.
  • Liệt dây thần kinh sọ số VI: Lác trong không phối hợp với hạn chế dạng.
  • Hội chứng Duane: Đặc trưng bởi hạn chế dạng và co rút nhãn cầu khi khép.
Q Có thể chẩn đoán ngay sau khi đeo kính không?
A

Sau khi đeo kính, thời gian để vị trí mắt ổn định khác nhau tùy từng trường hợp. Hầu hết ổn định trong vòng 3 tháng, nhưng một số có thể lâu hơn. Đánh giá thận trọng trong khi theo dõi tình trạng đeo kính.

Mục tiêu điều trị là phục hồi vị trí mắt bình thường, thúc đẩy phát triển thị giác hai mắt, và phòng ngừa/điều trị nhược thị.

Điều trị bằng kính (Lựa chọn đầu tiên)

Phần tiêu đề “Điều trị bằng kính (Lựa chọn đầu tiên)”

Đeo kính điều chỉnh khúc xạ hoàn toàn là phương pháp điều trị cơ bản. Đơn kính được kê dựa trên kết quả đo khúc xạ dưới tình trạng liệt điều tiết (nhỏ atropin sulfat là lựa chọn đầu tiên ở trẻ em). Trong lác trong điều tiết thuần túy, nhỏ atropin 0,5% 3 lần/ngày trong 3-5 ngày, sau đó cho đeo kính điều chỉnh hoàn toàn hoặc kính giảm 0,5D. Phải đeo kính cả ngày, chú ý không để gọng kính bị trượt. Nếu đạt được vị trí mắt thẳng khi nhìn xa và gần với kính điều chỉnh hoàn toàn thì không cần phẫu thuật.

Đối với thị lực xa, điều chỉnh khúc xạ hoàn toàn; đối với thị lực gần, thêm +2,5 đến +3,0D bằng kính hai tròng hoặc kính đa tròng. Kê đơn số gia tối thiểu (tối đa +3,00D) để phục hồi vị trí mắt bình thường khi nhìn gần. Tỷ lệ AC/A có thể trở nên bình thường khi lớn lên, và ở 37-62,5% trường hợp, kính hai tròng có thể được thay bằng kính đơn tròng hoặc thậm chí không cần đeo kính vào khoảng 8-12 tuổi. Ngoài ra, liệu pháp thuốc nhỏ mắt distigmin bromid (dung dịch Ubretid 1%) làm giảm tỷ lệ AC/A bằng cách ức chế cholinesterase cũng là một lựa chọn.

Đeo kính điều chỉnh khúc xạ hoàn toàn là lựa chọn đầu tiên. Vì viễn thị có thể tăng ở trẻ dưới 7 tuổi, nên đo khúc xạ dưới liệt điều tiết lại trước phẫu thuật để xác nhận không có điều chỉnh thiếu. Chỉ phẫu thuật góc lác còn lại khi đeo kính.

Khoảng 30% bệnh nhân cần phẫu thuật ngoài điều chỉnh khúc xạ. Phẫu thuật được xem xét trong các điều kiện sau:

  • Nếu lác trong tồn dư hằng định từ 10PD trở lên vẫn tồn tại sau điều chỉnh hoàn toàn
  • Nếu cải thiện thị giác hai mắt có thể đạt được bằng phẫu thuật
  • Trẻ lớn hơn có viễn thị gần như bình thường nhưng lệch vẫn tồn tại với điều chỉnh tối thiểu

Các thủ thuật phẫu thuật chính như sau:

  • Lùi cơ trực trong hai mắt: Thủ thuật phổ biến nhất
  • Lùi-cắt một mắt: Lùi cơ trực trong và cắt ngắn cơ trực ngoài trên một mắt
  • Cố định sau (phương pháp Faden): Một trong các lựa chọn cho tỷ lệ AC/A cao

Ngay cả sau phẫu thuật, vẫn phải tiếp tục đeo kính điều chỉnh khúc xạ. Vì lác trong kèm viễn thị có thể chuyển thành lác ngoài theo tuổi tác, nên quyết định phẫu thuật phải thận trọng.

Đôi khi được sử dụng như một phương pháp hủy thần kinh hóa học cho lác trong điều tiết một phần. Nguy cơ lác ngoài thứ phát được cho là thấp, nhưng có báo cáo cho thấy phẫu thuật rạch cho kết quả tốt hơn.

Nếu có nhược thị kèm theo, cần bắt đầu điều trị ngay lập tức. Phương pháp cơ bản là che mắt lành, bắt đầu ngay khi chẩn đoán được xác định.

Q Viễn thị ở trẻ em có cải thiện khi lớn lên không?
A

Viễn thị có xu hướng giảm khi lớn lên. Tuy nhiên, chỉ khoảng 15% tổng số cuối cùng duy trì được vị trí mắt thẳng mà không cần kính. Số còn lại hoặc tiếp tục ở trạng thái lác trong điều tiết khúc xạ hoặc chuyển sang lác trong điều tiết một phần.

Cơ chế của lác trong điều tiết dựa trên bộ ba phản ứng nhìn gần: điều tiết - hội tụ - co đồng tử.

Mối liên quan giữa điều tiết và hội tụ

Phần tiêu đề “Mối liên quan giữa điều tiết và hội tụ”

Ở mắt viễn thị, cần điều tiết (tăng độ cong thể thủy tinh) để tạo ảnh rõ trên võng mạc. Điều tiết gây ra hội tụ điều tiết. Bình thường, phân kỳ dung hợp bù trừ lượng hội tụ thừa này và duy trì vị trí mắt thẳng.

Khi viễn thị ở mức trung bình đến cao (thường +2,00D trở lên), lượng điều tiết cần thiết tăng lên và hội tụ điều tiết cũng tăng theo tỷ lệ. Khi vượt quá khả năng bù trừ của phân kỳ dung hợp, lác trong trở nên rõ ràng. Tỷ lệ AC/A bản thân nó nằm trong phạm vi bình thường (4±2 PD/D), nhưng do lượng điều tiết lớn, lượng tuyệt đối của hội tụ trở nên quá mức.

Cơ chế của lác trong điều tiết không do khúc xạ

Phần tiêu đề “Cơ chế của lác trong điều tiết không do khúc xạ”

Vì tỷ lệ AC/A cao bất thường (6 PD/D trở lên), phản ứng hội tụ trên mỗi đơn vị điều tiết trở nên quá mức. Vì nhìn gần cần nhiều điều tiết hơn nhìn xa, vị trí mắt khi nhìn gần lệch vào trong rõ rệt. Có thể xảy ra bất kể loại tật khúc xạ nào.

Mối liên quan với sự thay đổi viễn thị theo tuổi

Phần tiêu đề “Mối liên quan với sự thay đổi viễn thị theo tuổi”

Trẻ sơ sinh có viễn thị khoảng +2D. Viễn thị tăng cho đến khoảng 7-8 tuổi, sau đó giảm dần đến khoảng 20 tuổi. Sự tăng giảm viễn thị này ảnh hưởng đến khởi phát và diễn tiến của lác trong điều tiết. Cũng có thể có thể khởi phát sớm trước 1 tuổi, cần phân biệt với lác trong trẻ em.

Trong lác trong hằng định, hình ảnh từ mắt lác bị ức chế ở vỏ não. Khi mắt cố định lệch về một bên, xảy ra ức chế liên tục lên mắt không trội, dẫn đến nhược thị do lác. Nếu có cố định luân phiên, thị lực phát triển đồng đều ở cả hai mắt.

Lác trong điều tiết là loại lác trong mắc phải thường gặp nhất1), và lợi ích của việc chỉnh viễn thị trong cải thiện vị trí mắt là rất lớn. Có gợi ý rằng chỉnh vị trí mắt để điều trị nhược thị có thể dẫn đến cải thiện tự nhiên của nhược thị1).


7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai (báo cáo giai đoạn nghiên cứu)

Phần tiêu đề “7. Nghiên cứu mới nhất và triển vọng tương lai (báo cáo giai đoạn nghiên cứu)”

Điều trị thị giác hai mắt (liệu pháp hai mắt)

Phần tiêu đề “Điều trị thị giác hai mắt (liệu pháp hai mắt)”

Là một phương pháp tiếp cận mới cho nhược thị do lác, nghiên cứu đang được tiến hành về các phương pháp điều trị sử dụng thị giác hai mắt. Các phương pháp tách biệt các yếu tố thị giác của cả hai mắt và khuyến khích sự chú ý đến mắt nhược thị đang được nghiên cứu. Tuy nhiên, cơ chế vẫn chưa được biết rõ, và cần có các nghiên cứu đối chứng được thiết kế tốt1).

Đối với lác trong điều tiết ở người lớn, có những nỗ lực điều chỉnh viễn thị bằng LASIK hoặc PRK sử dụng laser excimer nhằm mục tiêu thoát khỏi kính mắt. Tuy nhiên, ứng dụng cho trẻ em chưa được thiết lập.


  1. Meier K, Tarczy-Hornoch K. Amblyopia and strabismus. Annu Rev Vis Sci. 2024;10:325-348.

Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.