Bỏ qua đến nội dung
Nhãn khoa nhi và lác

Hội chứng dính khớp sọ sớm

Dính khớp sọ sớm (craniosynostosis) là bệnh trong đó một hoặc nhiều đường khớp sọ dính lại sớm trong quá trình phát triển trong tử cung hoặc sau sinh. Tỷ lệ mắc ước tính khoảng 1 trên 1.400–2.100 trẻ sinh ra 4). Khoảng 85% trường hợp là đơn độc và lẻ tẻ (không hội chứng), trong khi 15% còn lại là một phần của hội chứng với các bất thường khác 1).

Có khoảng 200 hội chứng dính khớp sọ sớm đã biết, được phân loại theo vị trí đường khớp bị ảnh hưởng và đột biến gen. Các hội chứng chính bao gồm:

  • Hội chứng Crouzon: Phổ biến nhất, xảy ra ở khoảng 1 trên 25.000 trẻ sinh ra 2). Đặc trưng bởi lồi mắt và thiểu sản tầng giữa mặt do dính sớm đường khớp vành.
  • Hội chứng Apert: Ngoài dính khớp sọ, còn kèm theo dính ngón tay và ngón chân. Thường gây chậm phát triển nặng hơn hội chứng Crouzon 8).
  • Hội chứng Pfeiffer: Hiếm nhất, xảy ra ở 1 trên 100.000 trẻ sinh ra. Đặc trưng bởi ngón cái và ngón chân cái rộng, được phân thành 3 loại theo mức độ nghiêm trọng 5).
  • Hội chứng Muenke: Do đột biến đặc hiệu trên gen FGFR3 (c.749C>G, p.P250A). Biểu hiện dính khớp vành một bên hoặc hai bên, đầu to và mất thính lực 3).

Nếu không được điều trị, không chỉ gây ra bất thường về hình dạng hộp sọ mà còn có thể dẫn đến các biến chứng thần kinh, thị giác và hô hấp.

Q Hội chứng dính khớp sọ sớm có những loại nào?
A

Có khoảng 200 hội chứng đã biết. Các hội chứng điển hình bao gồm hội chứng Crouzon, hội chứng Apert, hội chứng Pfeiffer và hội chứng Muenke. Chúng được phân loại theo vị trí đường khớp bị ảnh hưởng và gen gây bệnh.

2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng

Phần tiêu đề “2. Triệu chứng chính và dấu hiệu lâm sàng”

Các triệu chứng của hội chứng dính khớp sọ sớm khác nhau tùy theo vị trí đường khớp bị ảnh hưởng và thời điểm chẩn đoán. Ở trẻ sơ sinh, cha mẹ thường nhận thấy sự bất thường về hình dạng hộp sọ.

  • Bất thường hình dạng hộp sọ: chẩm phẳng, không đối xứng, đầu cao hoặc rộng bất thường.
  • Triệu chứng về mắt: mắt lồi, lác, giảm thị lực.
  • Rối loạn hô hấp: nghẹt mũi do hẹp khoang mũi hoặc teo lỗ mũi sau, ngáy, ngưng thở khi ngủ2).
  • Chậm phát triển: trong trường hợp nặng, có thể kèm theo thiểu năng trí tuệ hoặc chậm phát triển vận động.

Dấu hiệu lâm sàng (dấu hiệu bác sĩ xác nhận khi khám)

Phần tiêu đề “Dấu hiệu lâm sàng (dấu hiệu bác sĩ xác nhận khi khám)”

Biến dạng hộp sọ đặc trưng xuất hiện tùy theo đường khớp bị ảnh hưởng.

  • Đầu ngắn (brachycephaly): dính khớp vành hai bên. Đầu ngắn theo chiều trước-sau. Liên quan đến hội chứng Apert và Crouzon.
  • Đầu thuyền (scaphocephaly): dính khớp dọc. Đầu dài theo chiều trước-sau và hẹp ngang.
  • Đầu hình tam giác (trigonocephaly): Khớp trán đóng sớm. Vùng trước đầu có hình tam giác.
  • Đầu lệch trước (anterior plagiocephaly): Khớp vành một bên đóng sớm. Vùng trước đầu không đối xứng.
  • Hộp sọ hình lá ba (cloverleaf skull): Nhiều khớp sọ đóng sớm. Đặc điểm của hội chứng Pfeiffer type 25).

Biến chứng nhãn khoa là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong quản lý nhóm bệnh này.

  • Lồi mắt (exorbitism): Do hốc mắt nông. Hầu như luôn gặp trong hội chứng Crouzon. Kèm theo khoảng cách hai mắt xa (hypertelorism) và liên quan đến tình trạng kém phát triển tầng giữa mặt.
  • Lác: Lác ngoài kiểu V là điển hình. Lác ngoài tăng khi nhìn lên. Xảy ra do sự di lệch của các cơ ngoài nhãn cầu bởi sự phát triển xương bất thường ở đỉnh hốc mắt, gây tăng xoay ngoài của cơ khép và làm các cơ chéo nằm trong mặt phẳng đứng dọc.
  • Bệnh giác mạc do lộ: Do mắt lộ ra ngoài vì hốc mắt nông hoặc mắt không nhắm kín, gây tổn thương biểu mô giác mạc. Nếu tiến triển thành loét, có thể dẫn đến đục giác mạc và mất thị lực vĩnh viễn do nhược thị do thiếu kích thích hình ảnh. Sử dụng thuốc nhỏ mắt hoặc thuốc mỡ để bảo vệ giác mạc; trong trường hợp nặng, cân nhắc khâu mi.
  • Bệnh thần kinh thị giác: Phù gai thị thứ phát do tăng áp lực nội sọ có thể tiến triển thành teo thị giác. Cần theo dõi sự hiện diện của phù gai thị hoặc teo thị giác.
  • Nhược thị: Nguyên nhân chính gây suy giảm thị lực trong hội chứng dính khớp sọ sớm có triệu chứng. Tần suất dao động từ 6,3% đến 86% tùy theo báo cáo.
  • Tật khúc xạ: Viễn thị và loạn thị thường gặp nhất. Trong hội chứng Crouzon, trục nhãn cầu ngắn do hốc mắt nông là yếu tố thuận lợi cho viễn thị.

Hội chứng Crouzon

Lồi mắt: Hầu như luôn gặp, là biểu hiện nhãn khoa phổ biến nhất.

Lác: Lác ngoài kèm mất thị giác hai mắt là điển hình.

Thiểu sản tầng giữa mặt: Kèm theo vòm miệng hình chữ V và sai khớp cắn 2).

Bất thường tay chân: Không có (điểm phân biệt với hội chứng Apert).

Hội chứng Apert

Dính ngón tay (chân): Hợp nhất xương ở bàn tay và bàn chân. Xuất hiện dạng màng 8).

Đầu nhọn: Hộp sọ cao và rộng bất thường.

Chậm phát triển: Có xu hướng khuyết tật trí tuệ nặng hơn hội chứng Crouzon.

Nguyên nhân: Đột biến gen FGFR2.

Hội chứng Pfeiffer

Ngón cái và ngón chân cái rộng: Dấu hiệu đặc trưng ở tay chân.

Phân loại 3 type: Type 1 tiên lượng tốt, type 2 có hộp sọ hình lá cỏ ba lá 5), type 3 kèm dị tạng nội tạng.

Lồi mắt nặng: Rõ rệt ở type 2 và 3.

Tiên lượng: Type 2 và 3 thường dẫn đến tử vong trong tử cung hoặc giai đoạn sơ sinh sớm 5).

Hội chứng dính khớp sọ sớm chủ yếu do đột biến gen. Phần lớn di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, chỉ cần một bản sao gen đột biến là đủ gây bệnh. Một số ít di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường. 30-60% là trường hợp lẻ tẻ (đột biến mới) không có tiền sử gia đình 2).

Dưới đây là các gen gây bệnh chính và hội chứng liên quan.

GenHội chứng liên quanGhi chú
FGFR2Crouzon, Apert, PfeifferGen gây bệnh thường gặp nhất
FGFR3Muenke, Crouzon kèm gai đenĐột biến c.749C>G đặc trưng 3)
FGFR1Pfeiffer type 1
TWIST1Saethre-Chotzen
EFNB1Loạn sản sọ trán mũi

FGFR (thụ thể yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi) thường có chức năng ức chế sự phát triển quá mức của mô. Trong hội chứng dính khớp sọ sớm, các đột biến FGFR thuộc loại tăng chức năng (hypermorphic), làm tăng cường quá mức chức năng của sản phẩm gen. Mặc dù có nhiều biến thể đột biến, nhưng biểu hiện kiểu hình tương đối giống nhau, đây là một ví dụ về tính không đồng nhất alen.

Trong dính khớp sọ sớm không hội chứng, SMAD6 là gen thường bị đột biến nhất với vai trò là chất ức chế con đường tín hiệu BMP, được tìm thấy trong 6-7% các trường hợp dính khớp sọ đường giữa (khớp dọc và khớp trán) 1). Các đột biến SMAD6 biểu hiện tính thâm nhập không hoàn toàn (khoảng 24%), và bệnh được cho là xảy ra do di truyền hai gen với một alen nguy cơ gần gen BMP2 1).

Gần đây, BCL11B đã được chú ý như một gen gây bệnh mới cho dính khớp sọ sớm. Trong một đánh giá có hệ thống trên 51 trường hợp, ba đặc điểm cơ bản là: rối loạn phát triển thần kinh (98%), đặc điểm khuôn mặt đặc trưng (98%) và rối loạn điều hòa miễn dịch (93%), và dính khớp sọ sớm được ghi nhận ở 12 trường hợp 4).

Q Trẻ có thể mắc bệnh ngay cả khi cả cha và mẹ đều không mắc bệnh không?
A

Vì các trường hợp lẻ tẻ (đột biến de novo) chiếm 30-60%, trẻ có thể mắc bệnh ngay cả khi cả cha và mẹ đều không mắc bệnh 2). Tuy nhiên, nếu kiểu di truyền là trội trên nhiễm sắc thể thường, trẻ có thể thừa hưởng bệnh từ cha hoặc mẹ bị bệnh với xác suất 50%.

Đôi khi được phát hiện sớm bằng siêu âm. Các dấu hiệu như não thất to (ventriculomegaly), tăng đường kính lưỡng đỉnh, và hộp sọ hình lá cỏ ba lá có thể là manh mối. Trong hội chứng Pfeiffer loại 2, tăng độ trong suốt vùng gáy (NT) trong tam cá nguyệt đầu tiên đã được báo cáo là dấu hiệu siêu âm sớm nhất 5). Chẩn đoán di truyền phân tử tiền làm tổ (PGD) có thể thực hiện, nhưng cần xác định đột biến trước.

  • CT (chụp cắt lớp vi tính 3D): Xét nghiệm hình ảnh hữu ích nhất để xác nhận dính khớp sọ. Tái tạo 3D có thể xác định rõ vị trí khớp sọ bị dính.
  • MRI: Được sử dụng để đánh giá nhu mô não và kiểm tra sự hiện diện của não úng thủy.
  • Bảng gen tiêu chuẩn: Xét nghiệm bảy gen chính như FGFR1, FGFR2, FGFR3, TWIST1 có thể phát hiện khoảng 84% bất thường đơn gen 4).
  • Phân tích trình tự: Được sử dụng để chẩn đoán xác định ở trẻ sơ sinh. Phương pháp chẩn đoán ban đầu nên là phân tích mất đoạn/lặp đoạn (PCR định lượng, MLPA, microarray).
  • Giải trình tự exome và genome: Thực hiện khi bảng gen tiêu chuẩn không phát hiện đột biến. Các đột biến ở gen hiếm như BCL11B có thể được phát hiện lần đầu qua giải trình tự genome 4).

Hội chứng Muenke có biểu hiện lâm sàng tương tự các hội chứng dính khớp sọ sớm khác, do đó xét nghiệm gen FGFR3 rất quan trọng để phân biệt 3). Đầu nghiêng biến dạng (deformational plagiocephaly) là một biến dạng có thể điều trị không phẫu thuật, gặp ở 5–45% trẻ sơ sinh khỏe mạnh mà không có dính khớp sọ, cần được phân biệt với dính khớp sọ sớm thực sự.

Điều trị các hội chứng dính khớp sọ sớm rất đa dạng và được cá thể hóa dựa trên tuổi, khớp sọ bị ảnh hưởng, mức độ nghiêm trọng và biến chứng. Cần có sự quản lý của nhóm đa chuyên khoa bao gồm bác sĩ phẫu thuật tạo hình mặt, bác sĩ phẫu thuật thần kinh, bác sĩ nhi khoa, bác sĩ tai mũi họng, bác sĩ chỉnh nha và bác sĩ nhãn khoa (bác sĩ nhãn khoa nhi hoặc bác sĩ phẫu thuật tạo hình mắt).

Mục tiêu chính của điều trị là cung cấp đủ không gian sọ cho não đang phát triển và giảm thiểu áp lực nội sọ. Nên bắt đầu điều trị càng sớm càng tốt.

Phẫu thuật nội soi

Đối tượng: Trẻ sơ sinh dưới 3 tháng tuổi.

Kỹ thuật: Giải phóng khớp sọ bị dính thông qua một đường rạch nhỏ trên da đầu dưới hướng dẫn nội soi (cắt sọ nội soi) 7).

Ưu điểm: Đường rạch nhỏ, ít chảy máu, giảm nhu cầu truyền máu, thời gian nằm viện ngắn hơn 7).

Hậu phẫu: Trị liệu bằng mũ bảo hiểm tùy chỉnh 7).

Phẫu thuật mở sọ

Đối tượng: Trẻ sơ sinh từ 6 tháng tuổi trở lên.

Kỹ thuật phẫu thuật: Tạo hình vòm sọ (calvarial vault remodeling). Trong phẫu thuật đưa trước trán-ổ mắt (FOAR), khung xương trán và ổ mắt trên được tái tạo.

Đặc điểm: Di chuyển vùng bị ảnh hưởng và tái tạo hộp sọ. Có thể kết hợp liệu pháp đội mũ bảo hiểm nếu cần.

Đối với tình trạng thiểu sản tầng giữa mặt, phẫu thuật đưa trước tầng giữa mặt được thực hiện sau khi xương trưởng thành (13–21 tuổi).

  • Phẫu thuật cắt xương Le Fort III: Kỹ thuật tiêu chuẩn để đưa toàn bộ tầng giữa mặt ra trước. Phương pháp kéo dài xương (distraction osteogenesis) cũng là một lựa chọn.
  • Phẫu thuật cắt xương Le Fort III cải biên + Cắt xương Le Fort I: Trong một trường hợp hội chứng Crouzon ở người lớn, kỹ thuật này được thực hiện đồng thời với phẫu thuật tạo hình cằm và nâng sống mũi, giúp cải thiện đáng kể thẩm mỹ khuôn mặt và khớp cắn6).

Tắc nghẽn đường thở trên do thiểu sản tầng giữa mặt gây ra ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA). Sức cản mũi ở trẻ mắc hội chứng Crouzon cao hơn đáng kể so với bình thường2).

  • Cắt amidan vòm họng và cắt amidan khẩu cái: Hiệu quả trong việc giảm triệu chứng OSA2). Tuy nhiên, do biến dạng xương không được khắc phục, khoảng 20% trường hợp không thể tránh khỏi phẫu thuật mở khí quản2).
  • Chăm sóc sau phẫu thuật: Trẻ em có dị tật sọ mặt có nguy cơ cao khó rút ống nội khí quản và giảm oxy máu sau phẫu thuật. Nên kéo dài hỗ trợ thở máy và quản lý đường thở chu phẫu tích cực2).

Việc theo dõi liên tục bởi bác sĩ nhãn khoa nhi là rất cần thiết.

  • Bệnh lý giác mạc do lộ: Bảo vệ giác mạc bằng chất bôi trơn tại chỗ (thuốc nhỏ/thuốc mỡ). Trường hợp nặng, thực hiện phẫu thuật khép mi ngoài (lateral tarsorrhaphy). Nếu hở mi nặng, dán băng dính mi mắt vào ban đêm, và đối với tổn thương biểu mô giác mạc kéo dài, cân nhắc khâu mi tạm thời.
  • Lác: Phẫu thuật cho lác ngoài kiểu chữ V. Có báo cáo rằng phẫu thuật sớm có thể giúp đạt được thị giác hai mắt.
  • Tật khúc xạ: Điều trị bằng kính điều chỉnh. Do hốc mắt nông, thấu kính dễ chạm vào nhãn cầu hoặc lông mi, vì vậy kính có gọng cầu silicon nâng cao sống mũi rất hữu ích.
  • Nhược thị: Liệu pháp che mắt là cơ bản. Tuy nhiên, ở trẻ em thiểu sản tầng giữa mặt, mồ hôi tăng lên khiến miếng dán mắt dễ bong ra, cần lưu ý.
  • Bệnh thần kinh thị giác: Theo dõi định kỳ phù gai thị và teo thị giác. Nếu xác nhận tăng áp lực nội sọ, cần phối hợp ngay với khoa phẫu thuật thần kinh.
Q Phẫu thuật nên thực hiện ở độ tuổi nào là thích hợp?
A

Phẫu thuật nội soi thực hiện ở trẻ dưới 3 tháng tuổi, phẫu thuật mở (tạo hình sọ) thực hiện từ 6 tháng tuổi trở lên. Phẫu thuật đưa tầng giữa mặt ra trước thường được thực hiện sau khi răng vĩnh viễn mọc đầy đủ, ở độ tuổi 13–21. Thời điểm được xác định dựa trên mức độ nghiêm trọng và biến chứng của từng trường hợp.

Q Cần quản lý những gì về mặt nhãn khoa?
A

Cần bảo vệ giác mạc trong bệnh lý giác mạc do lộ, đánh giá và phẫu thuật lác, điều chỉnh tật khúc xạ, điều trị nhược thị, theo dõi phù gai thị và teo thị giác. Trẻ em mắc hội chứng dính khớp sọ sớm cần được theo dõi nhãn khoa lâu dài.

6. Sinh lý bệnh và cơ chế phát sinh chi tiết

Phần tiêu đề “6. Sinh lý bệnh và cơ chế phát sinh chi tiết”

Bất thường đường truyền tín hiệu FGFR

Phần tiêu đề “Bất thường đường truyền tín hiệu FGFR”

FGFR (thụ thể yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi) thuộc họ thụ thể tyrosine kinase tham gia vào quá trình tăng sinh, biệt hóa và di chuyển tế bào. Các đột biến trong hội chứng dính khớp sọ sớm kích hoạt quá mức FGFR, tăng cường tín hiệu xuôi dòng và thúc đẩy biệt hóa nguyên bào xương. Kết quả là các khớp sọ đóng sớm 2). Tín hiệu FGF/FGFR đóng vai trò quan trọng không chỉ ở khớp sọ mà còn trong phân nhánh khí quản và hệ phổi, phát triển chi và tạo mạch 5).

Đường truyền tín hiệu BMP và dính khớp sọ sớm không hội chứng

Phần tiêu đề “Đường truyền tín hiệu BMP và dính khớp sọ sớm không hội chứng”

Trong dính khớp sọ sớm đường giữa không hội chứng, bất thường đường truyền tín hiệu BMP là cơ chế nguyên nhân chính. Ba đường truyền tín hiệu Wnt, BMP và FGF/ERK hội tụ tại các yếu tố điều hòa nhân cho biệt hóa nguyên bào xương, và rất cần thiết cho sự biệt hóa tế bào mào thần kinh sọ thành sụn và xương 1).

SMAD6 là bộ điều hòa chính của tín hiệu BMP (họ SMAD ức chế). Các đột biến mất chức năng của SMAD6 có độ thâm nhập không hoàn toàn (khoảng 24%), và alen nguy cơ (rs1884302) ở hạ lưu gen BMP2 điều chỉnh độ thâm nhập bằng cách tăng cường biểu hiện BMP2 ở hộp sọ 1). Nghĩa là, sự tăng cường biểu hiện BMP2 kết hợp với mất ức chế tín hiệu BMP bởi SMAD6 dẫn đến hợp nhất sớm đường khớp sọ 1).

Timberlake (2023) đề xuất mô hình hai locus, trong đó đột biến SMAD6 được tìm thấy ở 6-7% các trường hợp hẹp sọ sớm không hội chứng đường giữa, và alen nguy cơ BMP2 điều chỉnh độ thâm nhập của đột biến SMAD6. Chậm phát triển ngôn ngữ được quan sát thấy ở trẻ em có đột biến SMAD6 1).

Bệnh nhân mắc hội chứng Crouzon, Apert và Pfeiffer có nguy cơ cao bị tăng áp lực nội sọ (ICP). Trước đây, sự mất cân bằng sọ-não được cho là nguyên nhân chính, nhưng tương quan giữa thể tích nội sọ và ICP rất yếu. Hiện nay, ba yếu tố sau được coi là nguyên nhân chính.

  • Não úng thủy (hydrocephalus): Rối loạn lưu thông dịch não tủy.
  • Tăng áp tĩnh mạch (venous hypertension): Suy giảm dẫn lưu tĩnh mạch do lỗ tĩnh mạch cảnh hẹp.
  • Bệnh hô hấp: Thiếu oxy máu mãn tính và tăng CO2 máu kèm theo tắc nghẽn đường thở trên.

Tăng ICP dẫn đến chết tế bào thần kinh, teo thần kinh thị giác và mất thị lực. Ngoài ra, chèn ép mãn tính thần kinh thị giác do bất thường hốc mắt hoặc ống thị giác cũng có thể gây teo thần kinh thị giác.

Cơ chế Bệnh sinh của Lác Mắt Hình Chữ V

Phần tiêu đề “Cơ chế Bệnh sinh của Lác Mắt Hình Chữ V”

Lác mắt hình chữ V liên quan đến hội chứng hẹp sọ sớm là do sự phát triển xương bất thường ở đỉnh hốc mắt. Cơ thẳng trên bị lệch ra ngoài, cơ thẳng ngoài bị lệch xuống dưới, làm tăng xoay ngoài của các cơ khép mắt. Sự tụt của bờ trên hốc mắt và ròng rọc gây ra nâng quá mức khi khép (giả hoạt động quá mức cơ chéo dưới) và giảm hoạt động cơ chéo trên. Các khiếm khuyết hoặc bám bất thường của cơ ngoại nhãn cũng là yếu tố góp phần.


7. Nghiên cứu Mới nhất và Triển vọng Tương lai

Phần tiêu đề “7. Nghiên cứu Mới nhất và Triển vọng Tương lai”

Vedovato-dos-Santos và cộng sự (2025) đã xem xét một cách có hệ thống 51 trường hợp có biến thể bệnh lý trên gen BCL11B và báo cáo 12 trường hợp bị dính khớp sọ sớm. Khớp vành thường dính nhất (67%), và dính khớp dọc, khớp lamda và khớp vảy cũng được báo cáo. Các đặc điểm cơ bản của bệnh liên quan đến BCL11B là ba: rối loạn phát triển thần kinh (98%), đặc điểm khuôn mặt đặc trưng (98%) và rối loạn điều hòa miễn dịch (93%). Vì không được phát hiện bằng bảng gen tiêu chuẩn 7 gen, giải trình tự gen rất quan trọng để chẩn đoán4).

Tiến bộ trong Hiểu biết Di truyền về Dính khớp Sọ sớm Không Hội chứng

Phần tiêu đề “Tiến bộ trong Hiểu biết Di truyền về Dính khớp Sọ sớm Không Hội chứng”

Timberlake (2023) đã giải thích mô hình khởi phát lẻ tẻ của dính khớp sọ sớm đường giữa không hội chứng bằng mô hình hai locus gen: đột biến SMAD6 và alen nguy cơ BMP2. Trẻ em có đột biến SMAD6 cho thấy tác động tiêu cực đến phát triển thần kinh, do đó khuyến nghị xét nghiệm di truyền và giới thiệu đến các chương trình can thiệp sớm cho các trường hợp đường giữa không hội chứng1).

Ravi và cộng sự (2023) đã thực hiện ca phẫu thuật nội soi đầu tiên cho dính khớp sọ sớm trán-bướm đơn độc (chỉ 49 ca được báo cáo trong y văn). Khớp trán-bướm bị dính đã được cắt bỏ qua một đường rạch thái dương dài 2,5 cm, kết hợp với liệu pháp đội mũ bảo hiểm sau phẫu thuật. Sau 9 tháng theo dõi, chỉ số bất đối xứng sọ đã cải thiện từ 3,74 xuống 0,55, với kết quả tốt7).

Hu và cộng sự (2021) đã báo cáo tăng NT (3,1 mm) ở tuần thai 12 là dấu hiệu siêu âm sớm nhất trong một trường hợp hội chứng Pfeiffer loại 2. Đột biến Trp290Cys trên FGFR2 đã được xác nhận, cho thấy tăng NT có thể liên quan đến sự hình thành mạch bất thường do đột biến FGFR5).


  1. Timberlake AT. SMAD6 variants in nonsyndromic craniosynostosis. Eur J Hum Genet. 2023;31(6):611-612.
  2. Yu L, Zhao Y. Adenoidectomy in a child with Crouzon syndrome complicated with severe obstructive sleep apnea: Case report and review of literature. Medicine. 2024;103(23):e38534.
  3. Sun J, Wang Y, Shi B, Jia Z. A case report of Muenke syndrome with soft cleft palate and literature review. West China J Stomatol. 2025;43(2):275-279.
  4. Vedovato-dos-Santos JH, Tooze RS, Sithambaram S, et al. BCL11B-related disease: a single phenotypic entity? Eur J Hum Genet. 2025;33(4):451-460.
  5. Hu ZY, Lin SM, Zhu MJ, Cheung CKY, Liu T, Zhu J. Prenatal diagnosis of Pfeiffer syndrome type 2 with increased nuchal translucency. Clin Case Rep. 2021;9(11):e05001.
  6. Etemadi Sh M, Tajmiri G. Midface advancement in an adult patient with Crouzon syndrome: Modified LeFort III + LeFort I osteotomy accompanied by genioplasty and nasal dorsum augmentation. Dent Res J. 2022;19:38.
  7. Ravi S, AlSaadawi G, Al Olama M, Stenger C, Mendonca DA. Endoscopic-assisted surgery in the treatment of isolated frontosphenoidal craniosynostosis. Plast Reconstr Surg Glob Open. 2023;11(1):e4788.
  8. Khan QA, Farkouh C, Uzair M, Ghosh B. Clinical manifestations of Apert syndrome. Clin Case Rep. 2023;11(2):e6941.

Sao chép toàn bộ bài viết và dán vào trợ lý AI bạn muốn dùng.